SỞ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO THANH HÓA
PHÒNG GD&ĐT NHƯ THANH
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM TẠO HỨNG THÚ HỌC TẬP
CHO HỌC SINH TRONG CÁC GIỜ HỌC ĐỊA LÍ
Người thực hiện: Nguyễn Thị Hậu
Chức vụ : Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường THCS Thị Trấn Bến Sung
SKKN thuộc lĩnh vực (môn): Địa lý
THANH HÓA NĂM 2016
1
MỤC LỤC
Thứ tự
A.
1
2
3
4
B.
C.
Nội dung
14
2
A. MỞ ĐẦU.
1. Lí do chọn đề tài.
Trên lĩnh vực dạy học, đổi mới phương pháp dạy học đã và đang được đề cập và
bình luận sôi nổi. Điều đổi mới quan trọng nhất là trong mỗi giờ học, học sinh đóng
vai trò chủ động, giáo viên đóng vai trò chủ đạo, có nghĩa là học sinh phải tích cực
chủ động, sáng tạo để tìm ra kiến thức và nắm bắt kiến thức, giáo viên là người
giúp đỡ, hướng dẫn và gợi mở cho học sinh. Để đạt được mục đích đổi mới của
phương pháp dạy học môn Địa lí, bản thân người giáo viên phải tìm tòi phương
pháp thích hợp nhằm gây hứng thú cho học sinh.
Vậy làm thế nào để học sinh say mê, hứng thú trong các giờ học Địa lí?
Làm thế nào để phát huy được sự chủ động, sáng tạo của học sinh trong giờ học
Địa lí ?
Thực hiện vấn đề này không đơn giản, nó đòi hỏi người giáo viên phải đầu tư
thời gian và công sức tìm tòi, sáng tạo cho mỗi giờ lên lớp. Xuất phát từ thực tế
trên, tôi chọn đề tài: Một số biện pháp nhằm tạo hứng thú học tập cho học sinh
trong các giờ học Địa lí.
2. Mục đích nghiên cứu.
Trước hết, nghiên cứu đề tài để tìm ra biện pháp nhằm đảm bảo hiệu quả và
nâng cao chất lượng trong dạy học Địa lí ở nhà trường phổ thông. Bên cạnh đó,
nhằm xác định các cơ sở lí luận, các nguyên tắc, yêu cầu, đề tài rút ra kết luận về
các giải pháp tạo hứng thú cho học sinh trong tiết học Địa lí, phát huy được
vai trò chủ thể của học sinh trong tiếp nhận môn học, phù hợp với mục tiêu đặt học
sinh vào vị trí trung tâm của quá trình dạy học.
Đó cũng là hướng tiếp cận quan điểm giúp học sinh mạnh dạn, tự tin trong
học tập. Đây cũng là cơ sở thực tiễn, là nền tảng cho việc hình thành thói quen tốt,
hiện vừa được xem như một nguyên nhân cơ bản của việc suy giảm chất lượng dạy
học ở trường trung học
Thực chất của việc dạy học là truyền cảm hứng và đánh thức khả năng tự học
của người học. Còn nếu quan niệm người dạy truyền thụ, người học tiếp nhận thì
người dạy dù có hứng thú và nỗ lực đến mấy mà chưa truyền được cảm hứng cho
học sinh, chưa làm cho người học thấy cái hay, cái thú vị, giá trị chân thực mà tri
thức đem lại thì giờ dạy vẫn không có hiệu quả. Người học chỉ tự giác, tích cực học
tập khi họ thấy hứng thú. Hứng thú không có tính tự thân, không phải là thiên bẩm.
Hứng thú không tự nhiên nảy sinh và khi đã nảy sinh nếu không duy trì, nuôi
dưỡng cũng có thể bị mất đi. Hứng thú được hình thành, duy trì và phát triển nhờ
môi trường giáo dục với vai trò dẫn dắt, hướng dẫn, tổ chức của giáo viên. Giaó
viên là người có vai trò quyết định trong việc phát hiện, hình thành, bồi dưỡng
hứng thú học tập cho HS.
II. Thực trạng vấn đề trước khi áp dụng sáng kiến kinh nghiệm.
- Với giáo viên: Hầu hết giáo viên đã ý thức sâu sắc phương pháp dạy học mới.
Trong giảng dạy người thầy đã phát huy được tính tích cực, chủ động trong việc
dạy học. Tuy nhiên có một số giáo viên vẫn còn làm việc quá nhiều, trong một tiết
dạy đưa ra quá nhiều thông tin. Điều này dễ đưa các em vào thế bị động ghi nhớ,
không tạo điều kiện cho các em độc lập suy nghĩ.
- Một số tiết dạy vẫn còn rập khuôn theo trình tự 5 bước lên lớp. Nó biến giờ học
thiếu sự phóng khoáng, trở nên nhạt nhẽo, làm tê liệt sự hào hứng của học sinh. Rồi
giáo viên chỉ sử dụng một phương pháp dạy chủ yếu là thuyết trình, không có sự
linh hoạt trong việc kết hợp các phương pháp...Bên cạnh đó là việc sử dụng các
4
giáo án mẫu, thiết kế bài giảng một cách máy móc làm mất đi sự sáng tạo riêng của
các nhân
- Với học sinh: Với tâm lí xem đây là môn phụ nên việc học của học sinh chủ
Nam tương ứng là tháng 6 dương lịch. Tháng 6 dương lịch BCB là mùa hè.
5
Ngày 22/6 hàng năm, tia bức xạ mặt trời chiếu vuông góc với tiếp tuyến bề
mặt Trái đất tại chí tuyến bắc (23o27’B) nên thời gian chiếu sáng ở nửa cầu Bắc
(Việt Nam) dài. Càng về phía Cực Bắc ngày càng dài, đêm càng ngắn, nên có hiện
tượng ngày dài, đêm ngắn.
“Ngày tháng mười chưa cười đã tối”
Vào ngày 22/12 (tháng 10 âm lịch), Mặt trời chuyển động biểu kiến về chí
tuyến Nam và vuông góc tại bề mặt đất tại tiếp tuyến 23 o27’N (Chí tuyến Nam) thì
ở BCN lúc này ngày dài đêm ngắn và ở BCB (Việt Nam) hiện tượng ngày ngắn đêm dài
Ví dụ 2.
Hay dạy bài “Sóng và thủy triều” để giải thích hiện tượng con nước triều “cường”,
“kém” liên quan đến vị trí của Mặt Trăng, Mặt Trời và Trái Đất trong không gian,
liên hệ hiện tượng trăng khuyết thời kỳ triều “kém”, ca dao có câu:
“Mồng một lưỡi trai, mồng hai lưỡi hái
Mồng ba câu liêm, mồng bốn liềm cụt”
Ví dụ 3.
Khi dạy bài 11, Địa lí 9: “Các nhân tố ảnh hưởng đến sự phát triển và phân bố
nông nghiệp”; ta có thể sử dụng câu ca dao sau:
“Trông trời, trông đất, trông mây
Trông mưa, trông nắng, trông ngày, trông đêm
Trông cho chân cứng đá mềm
Trời êm biển lặng mới yên tấm lòng…”
Vậy với câu ca dao trên học sinh có thể nhớ được một số nhân tố tác động đến
nông nghiệp ( khí hậu, đất trồng, nguồn nước, sinh vật, và các nhân tố xã hội…)
Ví dụ 4.
Khi dạy bài 32, Địa lí 8. “Các mùa khí hậu và thời tiết ở nước ta”. Chúng ta
có thể sử dụng lời bài hát Gửi nắng cho em: để khắc sâu cho học sinh tính chất khí
em.
*Trò chơi : Xếp hình và ghép tên :
Ví dụ 1. Địa lí 7 - Bài 12. “Thực hành: Nhận biết đặc điểm môi trường của
đới nóng”.
Chuẩn bị : 3 bức ảnh môi trường đới nóng, tên môi trường( in giấy) , đặc điểm
của môi trường ( in giấy)
Yêu cầu thi theo nhóm. Nhận biết đặc điểm 3 môi trường , dán tên 3 môi trường,
dán đặc điểm các môi trường phù hợp với ảnh, thời gian 5-7 phút.
Ví dụ 2. Địa lí 9 - Bài 19: “Thực hành: Đọc bản đồ, phân tích và đánh giá
ảnh hưởng của tài nguyên khoáng sản đối với phát triển công nghiệp ở Trung
du và Miền núi phía Bắc”.
Chuẩn bị: Lược đồ Trung du miền núi Bắc Bộ trống, mảnh giấy ghi dữ liệu, băng
dính 2 mặt.
Yêu cầu: Thi gắn các mỏ khoáng sản của vùng, thời gian 5-7 phút.
* Trò chơi : Thi giải thích các hiện tượng địa lí trong bài.
Ví dụ Địa lí 6 Bài 7: “Sự vận động tự quay quanh trục của Trái đất và các hệ
quả của nó.”
Yêu cầu: Thi theo tổ, thời gian 5 phút.
Câu hỏi: Trái đất quay từ Tây sang Đông, tại sao ta thấy Mặt trời, Mặt trăng và
các vì sao trên bầu trời chuyển động từ Đông sang Tây?
7
* Trò chơi : Mô tả các mối quan hệ địa lí theo cách của em.
Ví dụ. Địa lí 6 - Bài 20: “Hơi nước trong không khí. Mưa.”
Yêu cầu: Thi theo tổ, cử đại diện trình bày trong thời gian ngắn nhất
Câu hỏi: Mô tả quá trình bốc hơi nước,ngưng tụ thành mây mưa theo cách của em.
* Trò chơi: Giải ô chữ : HS lựa chọn và giải từng ô chữ để tìm ra từ chìa
khóa.
Ví dụ1. Địa lí 7 - Bài 2: “Sự phân bố dân cư. Các chủng tộc trên thế giới.”
Intenet.
- Ngoài ra phương tiện dạy học địa lí còn rất nhiều loại mà chúng ta đang dần
được ứng dụng vào dạy học trong xu thế đổi mới hiện nay.
8
Mỗi loại phương tiện dạy học có những ưu điểm nhược điểm riêng. Giáo
viên phải biết lựa chọn phương tiện nào cho phù hợp. Sử dụng tốt các phương
tiện dạy học trong quá trình giảng dạy sẽ tạo sự tập trung chú ý cao độ của học
sinh, phát huy được khả năng tư duy, sáng tạo và gây hứng thú cho học sinh.
Giáo viên phải hướng dẫn học sinh tìm được những nguồn tri thức từ các
phương tiện dạy học. Những tri thức này có thể từ đơn giản đến phức tạp, có thể
dễ nhận thấy nhưng cũng có thể phải trải qua quá trình tư duy tích cực thì học
sinh mới có thể nhận ra.
Ví dụ 1: Khi dạy bài 33 - Địa lí 8: “Đặc điểm sông ngòi Việt Nam”.
Để tìm hiểu phần I: Đặc điểm chung, ta sử dụng bản đồ sông ngòi Việt Nam,
đưa ra các câu hỏi để học sinh trả lời. để tìm ra được những kiến thức, học sinh
phải quan sát bản đồ, kết hợp với kiến thức đã học từ bài 28: Đặc điểm địa hình
Việt Nam, bài 31: Đặc điểm khí hậu Việt Nam.
9
10
Ví dụ 2. Hoặc khi dạy mục 2 của Bài “Châu Nam cực- Châu lục lạnh nhất
thế giới”. Giáo viên sử dụng đọan Video về lịch sử khám phá của châu lục này.
Trước khi cho học sinh xem, giáo viên đưa ra yêu cầu:
Sau khi xem xong đoạn video, các em hãy tóm tắt về lịch sử khám phá châu
Ví dụ 1: Khi dạy bài 3 - Địa lí 9: “Phân bố dân cư và các loại hình quần cư”.
Tìm hiểu về các loại hình quần cư, ta có thể sử dụng phương pháp thảo luận nhóm
và kĩ thuật khăn trải bàn.
Bài 3. PHÂN BỐ DÂN CƯ VÀ CÁC LOẠI HÌNH QUẦN CƯ
Tìm hiểu về các loaị hình quần cư
Thảo luận nhóm/ kĩ thuật khăn trải bàn
- Bước 1. Gv chia nhóm và giao nhiệm
vụ cho các nhóm thảo luận về:
+ Các loại hình quần cư ở nước ta; so
sánh và giải thích sự khác nhau giữa các
loại hình quần cư
+ Nhận xét và giải thích sự phân bố các
đô thị của Việt Nam
-Gv hướng dẫn: Dựa vào hình 3.1, kênh
chữ( mục II Sgk), tranh ảnh, kết hợp với
vốn hiểu biết:
+ Nêu đặc điểm của quần cư nông thôn
(tên gọi, hoạt động kinh tế chính, cách
bố trí không gian nhà ở...)
+ Trình bày những thay đổi của hình
thức quần cư nông thôn trong quá trình
công nghiệp hóa đất nước. Lấy ví dụ ở
địa phương.
+ Trình bày đặc điểm của quần cư thành
thị ( mật độ dân số, cách bố trí không
II. Các loại hình quần cư
1. Quần cư nông thôn
-Có mật độ dân số thấp, làng mạc thôn
xóm thường phân tán gắn với đất canh
mình. Ví dụ:
+ Hà Nội : một năm có 2 mùa, mùa đông lạnh và ít mưa, mùa hạ nóng và mưa
nhiều.
+ Huế: mưa nhiều vào thu đông, đặc biệt là các tháng 9, 10 và 11; mùa hè
thường có gió Tây khô nóng
+ TP. Hồ Chí Minh: nóng quanh năm, có một mùa mưa và một mùa khô
- Bước 3. Gv nhận xét và chuẩn xác kiến thức
5. Tạo hứng thú học tập bằng việc xây dựng môi trường thân thiện giữa thầy và
trò, trò và trò.
Bên cạnh việc tác động vào nội dung và phương pháp, hình thức tổ chức dạy
học, việc thiết lập được mối quan hệ hợp tác tích cực tốt đẹp giữa thầy và trò, giữa
các trò cũng sẽ tạo hứng thú cho học sinh. Hình thức tổ chức dạy học hấp dẫn cùng
với một bầu không khí thân ái hữu nghị trong giờ học sẽ tạo ra sự hứng thú cho cả
thầy và trò. Bởi vì, học là hạnh phúc không chỉ vì những lợi ích mà nó mang lại, mà
hạnh phúc còn nằm ngay trong chính sự học.
13
IV. Hiệu quả của sáng kiến kinh nghiệm đối với hoạt động giáo dục, với bản
thân, đồng nghiệp và nhà trường.
Sau khi sử dụng hình thức này tôi đã đạt được những kết quả sau:
* Đối với học sinh:
+ Ý thức học tập của học sinh tiến bộ rõ rệt, học sinh chăm học, chịu khó nghe
giảng hơn trước đây.
+ Khả năng quan sát sự vật hiện tượng của học sinh tốt hơn. Các em đã chịu
khó quan sát những hiện tượng xảy ra xung quanh:
+ Cách ghi vở, vẽ hình rõ ràng, sạch đẹp, ngắn gọn và đầy đủ kiến thức hơn trước.
Ngoài những kiến thức giáo viên đã ghi trên bảng, các em đã biết chọn lựa ghi
XÁC NHẬN CỦA HIỆU TRƯỞNG
Như Thanh, ngày 21 tháng 3 năm
2016
Tôi xin cam đoan đây là SKKN của
mình viết, không sao chép nội dung
của người khác.
Nguyễn Thị Hậu
15