TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI
KHOA GIÁO DỤC ĐẶC BIỆT
NGUYỄN THỊ CƯƠNG
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP
MỘT SỐ BIỆN PHÁP HỖ TRỢ NHẰM GIÚP TRẺ TỰ KỈ LỚP 1
HỌC GHÉP VẦN TẠI NHÀ
Người hướng dẫn khoa học: Ths. Phạm Thị Bền
Hà Nội. 2011
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ở Việt Nam, trẻ tự kỉ chiếm một tỉ lệ cao. Đây là đối tượng mà giáo
viên thường gặp nhiều khó khăn trong quá trình quản lí hành vi và dạy học.
Với trẻ nhỏ, học ghép vần có vai trò quan trọng trong việc phát triển
ngôn ngữ, nhận thức và giao tiếp. Nếu không có vốn từ trẻ sẽ gặp khó khăn
trong học tập, trong việc tạo dựng các mối quan hệ xã hội. Vì vậy việc phát
triển kĩ năng học ghép vần cho trẻ là rất quan trọng.
Để trẻ học tốt ghép vần, trẻ hiểu được ý nghĩa các vần trong từ trẻ đã
ghép được thì trước hết giáo viên phải có phương pháp và kĩ năng nhất
định. Với trẻ học Tiểu học nói chung và trẻ tự kỉ ở độ tuổi học Tiểu học nói
riêng, hoạt động học là hoạt động chủ đạo. Chính vì vậy phương pháp dạy
học phù hợp với trẻ là rất cần thiết ở mỗi giáo viên.
Không như những trẻ bình thường khác, trẻ tự kỉ vì hạn chế về một
số mặt phát triển: Trí tuệ, giao tiếp, ngôn ngữ, thể chất… Nên việc học
ghép vần gặp rất nhiều khó khăn. Để giúp trẻ tự kỉ học ghép vần được tốt
hơn thì đòi hỏi giáo viên phải hiểu đặc điểm tâm sinh lí của trẻ, nắm rõ sự
phát triển của trẻ và quan trọng nhất là giáo viên phải có những biện pháp
phù hợp với khả năng và nhu cầu của trẻ.
Với những lí do trên, đề tài “Một số biện pháp hỗ trợ nhằm giúp trẻ
tự kỉ lớp 1 học ghép vần tại nhà” được tiến hành nghiên cứu với mong
muốn giúp trẻ học ghép vần được tốt hơn.
2. Mục đích nghiên cứu
3
7.1. Nhóm các phương pháp nghiên cứu lí luận
Tổng hợp, phân tích, khái quát hóa các tài liệu in và điện tử có liên
quan làm cơ sở lí luận của vấn đề nghiên cứu.
7.2. Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
7.2.1. Phương pháp quan sát
Quan sát hoạt động của giáo viên, trẻ, cha mẹ và người chăm sóc để
tìm hiểu thực trạng học ghép vần của trẻ tự kỉ lớp 1 và các biện pháp mà
giáo viên, cha mẹ và người chăm sóc sử dụng để dạy ghép vần cho trẻ tại
nhà.
7.2.2. Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
Sử dụng bảng hỏi dành cho giáo viên, cha mẹ và người chăm sóc trẻ
để tìm hiểu thực trạng quá trình dạy ghép vần cho trẻ tự kỉ lớp 1 tại nhà.
7.2.3. Phương pháp phỏng vấn
Trao đổi với giáo viên dạy tại nhà về việc hỗ trợ trẻ tự kỉ lớp 1 học
ghép vần
Trao đổi với phụ huynh của trẻ về tính cần thiết sử dụng một số biện
pháp hỗ trợ nhằm giúp trẻ tự kỉ lớp 1 học ghép vần tại nhà.
7.2.4. Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động
Nghiên cứu kết quả học ghép vần của trẻ tự kỉ lớp 1 qua hồ sơ học
tập, qua đó tổng kết, đánh giá và xếp loại.
7.2.5. Phương pháp trắc nghiệm
Bảng trắc nghiệm tự thiết kế nhằm đánh giá quá trình học ghép vần
của trẻ tự kỉ lớp 1 tại nhà.
7.3. Nhóm các phương pháp nghiên cứu xử lí số liệu bằng thống
kê toán học
Vận dụng các cách đánh giá, xếp thứ bậc, kiểm định các hệ số trung
gian để xử lí các số liệu thu được qua khảo sát thực trạng và thử nghiệm.
4
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
2.2.2.1. Cơ sở xây dựng biện pháp
- Đảm bảo tính vừa sức với trẻ
- Đảm bảo sự tham gia của cha mẹ, giáo viên và gia sư tại nhà.
- Đảm bảo đúng chương trình học tập của trẻ ở trường.
2.2.2.2. Ý nghĩa của các biện pháp
Trẻ tự kỉ không giống như những trẻ bình thường khác nên lựa chọn
phương thức hay hình thức dạy sao cho phù hợp là một điều vô cùng quan
trọng. Không những thế, với mỗi một đối tượng trẻ lại có những phương
pháp, hình thức dạy học khác nhau, không trẻ nào giống trẻ nào. Dựa vào
đặc điểm tâm lí, dựa vào sở thích, dựa vào khả năng hiện tại của trẻ mà mỗi
trẻ cần sử dụng những phương tiện, đồ dùng dạy học (học ghép vần) sao
cho hiệu quả và hứng thú cho học sinh ví dụ: có trẻ học tốt thông qua tranh
ảnh minh họa, có trẻ lại học tốt thông qua đồ dùng trực quan……
Nhóm biện pháp 3 cũng giúp cha mẹ trẻ tiến hành dạy con được tốt
hơn, và theo dõi sát hơn với sự tiến bộ của trẻ. Từ đó cha mẹ cũng biết
được phương pháp nào là hiệu quả, là tốt cho con mình
Ví dụ như lắp webcam hay máy quay camera. Việc lắp máy quay
camera giúp phụ huynh có thể tiến hành, thực hành lại (dạy ôn lại) cho con
mình giống như những cách thức, phương pháp cô đã dạy. Lắp máy quay
có thể lưu giữ lại để trao đổi với nhà trường, giáo viên chủ nhiệm nhằm
trao đổi về kết quả học ghép vần, ý thức học ghép vần của trẻ tại nhà.
6
Sử dụng hình thức kiểm tra để nâng cao khả năng tập trung chú ý của
trẻ trong quá trình học. Có nhiều hình thức kiểm tra như vấn đáp, đọc,
chỉ… Sử dụng hình thức này trẻ tập trung chú ý vào bài học cao hơn, giáo
viên có thể kiểm tra lại khả năng nhớ bài cũ của trẻ một cách dễ dàng. Hình
thức kiểm tra bài cũ thoải mái, vui vẻ, không gò bó, không căng thẳng cho
trẻ. Trẻ vui vẻ hào hứng khi đạt được điểm được một điểm số cao, điều đó
thúc đẩy sự cố gắng hơn nữa của bản thân trẻ, giữa các trẻ có sự thi đua để
nâng cao thành tích học vần của bản thân.
Vì hầu hết các bậc phu huynh đều mơ hồ về phương pháp dạy cho
con nên hình thức sử dụng máy quay giúp phụ huynh dễ dàng hình dung ra
các phương pháp mà cô tiến hành, hình thức mà giáo viên tiến hành và
cách cô sử dụng đồ dùng để dạy học ghép vần cho trẻ tự kỉ.
Cũng như những trẻ bình thường khác, các trẻ học ghép vần tài liệu
chính sử dụng là SGK Tiếng Việt 1. Đây là tài liệu chính để dạy ghép vần
cho trẻ.
Do đặc điểm của trẻ tự kỉ nên khả năng học ghép vần mà chỉ dựa vào
cuốn SGK đạt kết quả chưa cao, và hầu hết các trẻ đều chưa đạt được mức
yêu cầu tối thiểu. Vì đặc điểm của hầu hết trẻ tự kỉ là thích tranh ảnh, thích
quan sát các hình ảnh nên khi học thông qua SGK thì khả năng tập trung
chú ý của trẻ không cao. Cụ thể trẻ chỉ nhìn vào các hình ảnh trong sách mà
không nhìn vào chữ, vào từ, vào vần. Điều đó dẫn đến trẻ học vẹt, đọc vẹt
mà thực chất không hề biết chữ.
* Sử dụng sách “Bé học vần” [4]
Sách “ Bé học vần” của tác giả Đặng Thị Trà dựa vào nội dung SGK
Tiếng Việt 1 của NXBGD. Cuốn sách phù hợp hơn với trẻ tự kỉ trong giai
đoạn đầu của học ghép vần vì các lí do như sau:.
Thứ nhất: về phần chữ và phần vần được in to hơn phần hình ảnh
minh họa. Điều này rất thuận lợi vì nếu như khi trẻ bị mất tập trung do hình
8
ảnh minh học thì cô có thể dùng tay che khuất phần hình ảnh đi, giúp học
sinh chú ý vào bài hơn.
Thứ hai: không có quá nhiều hình ảnh trong bố cục bài học vần, điều
này giúp trẻ tự kỉ tập trung chú ý tốt hơn. Vì, các trẻ tự kỉ thường bị mất tập
trung vào hình ảnh. Điều này ngược lại với SGK, thường thì trong SGK,
mỗi một bài học vần thường có 4-5 hình ảnh minh họa cho bài.
Thứ ba: Phần vần của bài học được in bằng một màu mực khác, giúp
trẻ nhận biết, phân biệt được tốt hơn. Trong SGK thì chỉ in phần vần và từ
đầu tiên của vần, còn những từ ứng dụng và câu ứng dụng thì in cùng một
Hình thức tập viết là một trong những hình thức giao bài tập về nhà
cho trẻ. Tập viết là để ôn lại bài vần đã học, là để gắn trách nhiệm của cha
mẹ với việc học của con cái, cha mẹ không thể ỉ lại hay “khoán trắng” trách
nhiệm cho giáo viên. Giao bài tập về nhà cha mẹ có thể kiểm tra được mức
độ học, quá trình học, nội dung học của con mình. Trách nhiệm của cha mẹ
với việc học của con cái được nâng cao.
Tập viết vần gồm: (1) viết trên thẻ tranh có ghi âm tiết khuyết phần
vần (ví dụ: thẻ tranh “chai bia”, viết “b____” để trẻ tự hoàn thành viết phần
vần vào); (2) viết vào vở theo mẫu.
Biện pháp 5: Học nhóm
Ngoài giờ học cá nhân, giáo viên nên tổ chức các buổi học nhóm
(nhóm 2, 3 trẻ) để có thể tổ chức trò chơi học tập giữa các em. Qua hình
thức học nhóm, giáo viên có thể đánh giá, nhìn nhận về các hình thức, các
phương pháp dạy học cho phù hợp với từng cá nhân trẻ.
2.3. Kết quả thực nghiệm
2.3.1. Kết quả đo trước thực nghiệm
2.3.1.1. Cách phát âm các vần
Sử dụng các thẻ tranh có chứa 9 vần trong bảng sau để kiểm tra cách
phát âm của trẻ. Kết quả thu được trong bảng sau:
10
11
Bảng 1. Kết quả cách phát âm 9 vần của 5 trẻ
Stt Vần L. H. Q. Th. Kh.
1 Ia
bia
tía
tỉa
i – a – ai
b – i – bi – a – ba
t – i – ti – a – ta –
ch – u – chu – a –
cha
m – u – mu – a – ma
– huyền – mà
đ – u – đu – a – đa
u – a
ch – u – chu – a –
cha
m – u – mu – a –
ma – huyền – mù
đ – u – đu – a - đa
u – a – au
ch – au – chau
m – au – mau –
huyền - màu
đ – au – đau
u – a – au
ch – u – chu – a – cha
m – u – mu – a – ma
– huyền – mà
đ – u – đu – a - đa
u – a – ua
ch – ua – chu
m – ua – mu –
huyền – mù
đ – ua – đu
3 uôi
chuối
đuôi
buổi
lưới
ư – ơ – i – ưi
c – ư – cư – ơ – cơ –
ngã – cỡ
l – ư – lư – ơ – lơ –
i – li
ư – ơ – i
c – ư – cư – ơ – cơ
– i - ci
l – ư – lư – ơ – lơ
– i – li
ơ – i – ơi
c – ơi – cơi
l – ơi - lơi
ư – ơ – i – ưi
c – ư – cư – ơ – cơ –
ngã – cỡ
l – ư – lư – ơ – lơ – i
– li
ư – ơ – i – ơi
c – ơi – cơi
l – ơi – lơi
5 iu
rìu
xíu
i – u – yêu
r – i – ri – u – ru –
huyền – rù
x – i – xi – u – xu –
sắc - xú
l – u – ê
đ – u – ê
ê – u – yêu
l – ê – lê – huyền – lề
đ – ê – đê – huyền –
đề
ê – u
l – ê – lê – l – u – lu
đ – ê – đê – đ – u -
đu
7 on
hòn
lon
o – n – om
h – o – ho – n – hon
l – o – lo – n - lon
o – n – no
h – o – ho – n
l – o – lo – n
o – n – on
h – o – n – on
l – o – n – on
o – n – om
h – o – ho – n – hon
l – o – lo – n - lon
o – n
h – o – ho
l – o – lo
8 ôn ô – n – ô – nô n – ô – nô ô – n – ôn ô – n – ô – nô ô – n
13
s – ơ – sơ
c – ơ – cơ
14
Nhìn chung, các trẻ đều phát âm vần có sự nhầm lẫn về vị trí của âm
vị (ví dụ “ia” là “ai”), thiếu âm cuối trong vần (ví dụ “ơn” phát âm thành
“ơ”); lược nguyên âm đôi trong âm chính (ví dụ uôi thành ui, ươi thành ưi).
2.3.1.2. Kết quả ghép vần
Chúng tôi sử dụng 9 vần, mỗi vần yêu cầu trẻ ghép trong 5 từ, có
hình ảnh minh họa kèm theo.
Bảng 2. Kết quả ghép vần trong từ của 5 trẻ
STT Vần Kết quả ghép vần của 5 trẻ
L. H. Q. Th. Kh.
1 ia
bia, tía, tỉa, chia, bìa
40% 40% 60% 60% 60%
2 ua
chua, mùa, đua, lùa, thua
40% 40% 60% 60% 60%
3 uôi
chuối, đuôi
buổi, muối, tuổi
40% 40% 60% 60% 60%
4 ươi
cưỡi, lưới, tưới, mười, cười
40% 40% 60% 60% 60%
5 iu
rìu, xíu, tíu, tiu, hiu
40% 40% 60% 60% 60%
6 êu
lều, mếu, đều, trêu, tếu
u – a –> ua
đ – ua – đua
ch – ua – chua
ua – mua – mùa
3 uôi
chuối, đuôi
buổi, muối, tuổi
u – ô – i –> uôi
đ – uôi – đuôi
uôi – chuôi – chuối
uôi – buôi – buổi
4 ươi
cưỡi, lưới, tưới, mười,
cười
ư – ơ – i –> ươi
t – ươi – tươi
ươi – lươi – lưới
ươi – cươi – cười
5 iu
rìu, xíu, tíu, tiu, hiu
i – u –> iu
iu – chiu – chịu
16
iu – xiu – xíu
iu – riu – rìu
6 êu
lều, mếu, đều, trêu, tếu
ê – u –> êu
n – êu – nêu
êu – đêu – đều
4 ươi
cưỡi, lưới, tưới, mười, cười
80% 80% 100% 100% 100%
5 iu
rìu, xíu, tíu, tiu, hiu
80% 80% 100% 100% 100%
17
6 êu
lều, mếu, đều, trêu, tếu
80% 80% 100% 100% 100%
7 on
hòn, ton, mòn, non, lon
80% 80% 100% 100% 100%
8 ôn
bồn, hôn, nôn, môn, chồn
80% 80% 100% 100% 100%
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ
1. Kết luận
1.1. Về lý luận
1.2. Về thực tiễn
2. KHUYẾN NGHỊ
2.1. Đối với giáo viên dạy ghép vần tại nhà cho trẻ tự kỉ lớp 1
2.2. Đối với cha mẹ
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Đặng Thị Trà (2010), Bé học vần, NXB Đại học sư phạm.
2. Nguyễn Nữ Tâm An (2007), Sử dụng phương pháp TEACCH trong giáo
dục trẻ tự kỉ tại Hà Nội, Luận văn thạc sĩ.
3. Nguyễn Văn Thành (2006), Trẻ em tự kỉ - Phương pháp giáo dục, NXB
Tôn Giáo.
4. Mai Ngọc Chừ, Vũ Đức Nghiệu, Hoàng Trọng Phiếu (2003), Cở sở
Câu 2: Thầy/ cô có mấy năm khinh nghiệm dạy tại nhà cho trẻ tự kỉ
□ 1 năm
□ 2 năm
□ 3 năm
□ 4 năm
□ Ý kiến khác:Câu 3: Theo thầy/ cô khả năng giáo dục cho trẻ tự kỉ là:
□ Có khả năng
□ Ít có khả năng
20
□ Không có khả năng
□ Ý kiến khác:Câu 4: Theo thầy/ cô dạy ghép vần cho trẻ tự kỉ lớp 1 có quan trọng:
□ Rất quan trọng
□ Quan trọng
□ Không quan trọng
□ Ý kiến khác:Câu 5: Thầy/ cô dạy thêm tại nhà cho trẻ tư kỉ lớp 1 có dạy ghép
vần:
□ Có dạy
□ Không dạy
□ Có dạy nhưng ít
□ Ý kiến khác:
Câu 10: Những khó khăn mà thầy/ cô gặp phải trong quá trình dạy
ghép vần tại nhà cho trẻ tự kỉ lớp 1:
Câu 11: Thầy/ cô có những thuận lợi gì trong quá trình dạy ghép vần
tại nhà cho trẻ tự kỉ lớp 1:
22
Câu 12: Trong quá trình dạy ghép vần tại nhà thầy/ cô thấy trẻ có:
□ Tiến bộ nhanh
□ Không tiến bộ
□ Tiến bộ chậm
□ Ý kiến khác:Câu 13: Thầy/ cô đánh giá sự tiến bộ của trẻ như thế nào:
Câu 14: Ai trong gia đình trẻ tham gia vào quá trình dạy
□ Bố/ mẹ
□ Ông/ bà
24
Phụ lục 2
BẢNG TỪ
lá tía tô
vỉa hè
bia đá
25