SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI:
"NÂNG CAO KẾT QUẢ HỌC TẬP CÁC BÀI HỌC TRONG
CHƯƠNG HÌNH HỌC CỦA MÔN TOÁN LỚP 5 THÔNG QUA
VIỆC ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG DẠY
HỌC"
1
I. Lí do chọn đề tài.
Bước vào thế kỷ XXI, phải nói rằng Công nghệ thông tin phát triển đến mức được con
người nhìn nhận, đánh giá và đề cao đúng mức vai trò của Công nghệ thông tin trong
giáo dục có một ý nghĩa cực kỳ quan trọng, bởi vì trong thời đại ngày nay muốn phát
triển giáo dục để giáo dục nước ta hội nhập được với quốc tế, không thể không đẩy
mạnh ứng dụng Công nghệ thông tin. Đẩy mạnh ứng dụng Công nghệ thông tin thực sự
là một sự đổi mới đáng kể về nhận thức và tư duy giáo dục, nó đánh dấu một bước ngoặt
trong công tác giáo dục và đào tạo.
Đối với ngành giáo dục đào tạo ứng dụng Công nghệ thông tin có tác dụng mạnh mẽ, làm
thay đổi nội dung và phương pháp dạy học. Mặt khác ngành giáo dục và đào tạo đóng vai
trò quan trọng trong việc cung cấp nguồn nhân lực cho Công nghệ thông tin. Hơn nữa,
ứng dụng Công nghệ thông tin là phương tiện để giúp chúng ta hòa nhập toàn thế giới
trong mọi lĩnh vực. Chính vì xác định được tầm quan trọng đó nên năm học 2009 - 2010
ngành Giáo dục đào tạo đã chọn là năm tiếp tục "Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông
tin trong quản lý và giáo dục". Vì vậy việc ứng dụng Công nghệ thông tin vào trường học
là việc làm cần thiết và đúng đắn. Trong công tác giảng dạy, Công nghệ thông tin có tác
dụng mạnh mẽ, làm thay đổi phương pháp dạy và học. Nhờ đó mà giúp học sinh hứng thú
học tập hơn, kết quả là học sinh tiếp thu bài tốt hơn.
Ứng dụng Công nghệ thông tin vào tất cả các môn học, đặc biệt là các môn có sử dụng
nhiều tranh ảnh, tư liệu phục vụ bài giảng giúp học sinh hiểu và nắm vững kiến thức.
Chính vì thế trong những năm gần đây, tôi đã ứng dụng Công nghệ thông tin vào tất cả
các môn học. Trong các môn học, tôi thấy môn nào cũng cần thiết song tôi chọn môn
Toán mà đặc biệt là các bài học trong chương hình học của môn toán 5 . Bởi vì môn Toán
lớp 5 là môn có nhiều kiến thức, hình ảnh trừu tượng cần minh họa để giúp học sinh dễ
học sinh: lớp 5C là nhóm thực nghiệm, lớp 5A là nhóm đối chứng. Nhóm thực nghiệm
được áp dụng giải pháp. Kết quả cho thấy tác động đã có ảnh hưởng rất rõ đến việc học
toán ( chương hình học ) của học sinh: lớp thực nghiệm đã có kết quả cao hơn nhóm đối
chứng. điểm bài kiểm tra sau khi áp dụng giải pháp của nhóm thực nghiệm có giá trị
trung bình là 8.9; còn của nhóm đối chứng là 7.5. Kết quả kiểm chứng t-test cho thấy P =
0.0002 < 0,05 ; Tức là có sự khác biệt lớn giữa điểm trung bình của nhóm thực nghiệm
và đối chứng. Điều đó chứng ming rằng việc ứng dụng Công nghệ tin học trong dạy học
một số bài học thuộc chương hình học đã mang lại hiệu quả cao cho lớp 5C trường Tiểu
học thị trấn Tô Hạp
III.Giới Thiệu:
Trong sách giáo khoa ở tiểu học các hình được vẽ trên mặt phẳng, phần phía trước sẽ che
lấp phần phía sau nên học sinh rất khó hình dung nhất là việc hình thành qui tắc tính thể
tích, giáo viên khó cung cấp và học sinh cũng khó tưởng tượng và phần lớn học sinh là
chấp nhận công thức dựng sẵn của giáo viên. Công nghệ tiên tiến của máy vi tính và máy
chiếu Projector đã tạo ra những hình màu 3D sinh động góp phần nâng cao chất lượng
công cụ, thiết bị đồ dùng dạy học trong nhà trường và phù hợp với học sinh tiểu học.
3
Qua việc thăm lớp, dự giờ khảo sát trước tác động, chúng tôi thấy giáo viên chỉ sử
dụng các phiên bản tranh ảnh trong sách giáo khoa treo lên bảng cho học sinh quan sát
hoặc đồ dùng trong bộ đồ dùng dạy học toán 5. Họ đã cố gắng đưa ra hệ thống câu hỏi
gợi mở dẫn dắt học sinh tìm hiểu vấn đề. Học sinh tích cực suy nghĩ, trả lời câu hỏi của
giáo viên, phát hiện và giải quyết vấn đề. Kết quả là học sinh thuộc qui tắc nhưng hiểu
chưa sâu về bản chất các bài toán , kĩ năng vận dụng vào thực tế giải toán chưa cao.
Để thay đổi hiện trạng trên, đề tài nghiên cứu này đã ứng dụng Công nghệ tin học
trong dạy học các nội dung phù hợp vào một số bài học thuộc chương hình học thay cho
các phiên bản tranh ảnh và khai thác nó như một nguồn dẫn đến kiến thức.
Giải pháp thay thế: Khi hình thành các qui tắc tính chu vi hình tròn, diện tích hình
thang, thể tích hình hộp chữ nhật, hình lập phương, giáo viên sử dụng các hiệu ứng được
lập trình sẵn có trong máy vi tính để di chuyển hình theo ý muốn để cho học sinh quan sát
tường tận vấn đề sau đó nêu hệ thống câu hỏi dẫn dắt giúp học sinh phát hiện kiến thức .
Tôi chọn trường tiểu học thị Trấn Tô Hạp vì trường có những điều kiện thuận lợi cho
việc nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng.
* Giáo viên:
Hai giáo viên giảng dạy hai lớp 5 có tuổi đời và tuổi nghề gần như là tương đương
nhau và đều là giáo viên dạy giỏi trong nhiều năm liền, đều có lòng nhiệt tình và trách
nhiệm cao trong giảng dạy và giáo dục học sinh.
1. Lê Nguyễn Phi Anh- Giáo viên dạy lớp 5A (Lớp đối chứng)
2. Mai Thị Hạnh - Giáo viên dạy lớp 5C(Lớp thực nghiệm)
* Học sinh:
Học sinh của hai lớp 5A
và 5C của trường tiểu học thị trấn Tô Hạp. Hai lớp được
chọn tham gia nghiên cứu có nhiều điểm tương đồng nhau về tỉ lệ giới tính, dân tộc. Cụ
thể như sau:
Lớp Số HS các nhóm
Dân tộc
Tổng số Nam Nữ Raclay Kinh
5C
(thực nghiệm) 25 10 15 3 22
5A ( đối chứng) 25 13 12 2 23
Về ý thức học tập, học sinh ở hai lớp này đều tích cực, chủ động là như nhau
5
Kết quả học lực năm học trước, hai lớp tương đương về xếp loại học lực cuối năm
của tất cả các môn học.
2. Thiết kế:
Chọn hai lớp , lớp 5C là lớp thực nghiệm và lớp 5A là lớp đối chứng. Tôi đã ra đề
bài kiểm tra về chương Số thập phân, Các phép tính với số thập phân trước tác động. Kết
quả cho thấy điểm trung bình của hai nhóm có sự khác nhau, do đó tôi dùng phép kiểm
Công nghệ tin học
O
4
6
5A
( 25 HS )
Ở thiết kế này , chúng tôi sử dụng phép kiểm chứng T-Test độc lập.
3. Qui trình nghiên cứu:
* Chuẩn bị bài của giáo viên:
- Cô Lê Nguyễn Phi Anh dạy lớp đối chứng: Thiết kế kế hoạch bài học không ứng dụng
Công nghệ tin học , quy trình chuẩn bị bài như bình thường.
- Cô Mai Thị Hạnh dạy lớp thực nghiệm: Thiết kế kế hoạch bài học có ứng dụng Công
nghệ tin học và tham khảo các bài giảng của đồng nghiệp.
* Tiến hành dạy thực nghiệm:
Thời gian tiến hành thực nghiệm vẫn tuân theo kế hoạch dạy học của nhà trường và
theo thời khóa biểu để đảm bảo tính khách quan. Cụ thể:
Thời gian thực nghiệm (Từ tuần 17 đến tuần 24)
Thứ ngày Môn/Lớp Tiết theo PPCT Tên bài dạy
Sáu
23/12/11
Toán 85 Hình tam giác
Hai
9/01/12
Toán 91 Diện tích hình thang
Sáu
13/01/12
Toán 95 Chu vi hình tròn
Năm
23/02/12
5.79.8
−
= 1,0
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn SMD = 1,0 cho thấy độ ảnh hưởng của dạy học có
ứng dụng thông tin trong dạy học tác động lên nhóm thực nghiệm là rất lớn.
Giả thuyết về việc ứng dụng Công nghệ tin học trong dạy học một số bài thuộc
chương hình học trong môn toán lớp 5 có làm nâng cao kết quả học tập của học sinh hay
không? Đã được kiểm chứng.
Biểu đồ so
sánh điểm trung bình trước tác động và sau tác động
của nhóm thực nghiệm và nhóm đối chứng.
2. Bàn luận:
Kết quả của bài kiểm tra sau tác động của nhóm thực nghiệm là điểm trung bình = 8.9 kết
quả bài kiểm tra tương ứng của nhóm đối chứng là điểm trung bình = 7,5 . Độ chênh lệch
điểm số giữa hai nhóm là 1.4; Điều đó cho thấy điểm trung bình cộng của hai lớp đối chứng
9
và thực nghiệm đã có sự khác biệt rõ rệt, lớp được tác động có điểm trung bình cao hơn lớp
đối chứng.
Chênh lệch giá trị trung bình chuẩn của hai bài kiểm tra là SMD=1,0
Điều này có nghĩa mức độ ảnh hưởng của tác động là lớn.
Phép kiểm chứng T-test điểm trung bình bài kiểm tra sau tác động của hai lớp là P
=0.0002 < 0.05. Kết quả này khẳng định sự chênh lệch điểm trung bình của hai nhóm
không phải là do ngẫu nhiên mà là do tác động.
* Hạn chế: Nghiên cứu này ứng dụng Công nghệ tin học trong giờ học môn Toán ở tiểu
học là một giải pháp rất tốt nhưng để sử dụng có hiệu quả, người giáo viên cần phải có
trình độ về công nghệ thông tin, có kĩ năng thiết kế giáo án điện tử (biết vẽ hình ), biết
khai thác và sử dụng các nguồn thông tin trên mạng Internet, biết thiết kế kế hoạch bài
học hợp lí. Người giáo viên mất khá nhiều thời gian cho một thiết kế trên máy nếu chưa
thành thạo trong việc sử dụng các hiệu ứng.
VI. Kết luận và khuyến nghị
11