Lời nói ñầu
Dân tộc ta có một “pho lịch sử bằng vàng” mà thế kỷ 20 là những
trang sử chói lọi bậc nhất của pho sử ấy.
Nếu ñồng ý rằng thế kỷ 20 là thế kỷ “giải thực” (Déconization) thì cuộc
Cách mạng tháng Tám, cuộc kháng chiến chống Pháp và cuộc kháng chiến
chống Mỹ cứu nước của dân tộc ta ñã góp vào lịch sử nhân loại như một
trong những quá trình lịch sử tiêu biểu nhất cho chân lý của thời dại: thời
ñại “giải thực”, thời ñại của sự kết hợp cách mạng vô sản với vấn ñề giải
phóng dân tộc!
ðể hiểu rõ ñược vì sao một dân tộc “ñất không rộng, người không
ñông” như dân tộc ta, lại có thể làm ñược kỳ tích, những thắng lợi có ý
nghĩa quốc tế như thế, chúng ta không thể không xem xét ñến sự gặp gỡ - hội
nhập lịch sử giữa tinh hoa văn của văn hóa phương Tây và phương ðông,
trong ñó có nền văn hóa ñộc ñáo của dân tộc ta; mà thể hiện rõ nhất của
cuộc gặp gỡ ấy chính là sự kết hợp giữa chủ nghĩa Mác Lê – nin với kinh
nghiệm và truyền thống ñánh giặc giữ nước mấy nghìn năm của dân tộc.
ðường lối chiến tranh nhân dân Việt Nam, phương pháp bạo lực cách mạng
tổng hợp (“hai chân ba mũi, ba vùng, ba thứ quân, ba quy mô, ba mặt trận,
hai hình thái…”) là những sản phẩm của “chất xám Việt Nam” có cội nguồn
sâu xa từ dân gian Việt Nam mà ðảng ta là ngưởi tổng kết bằng phương
pháp luận chủ nghĩa Mác Lê – nin.
Chính bằng “bửu bối” ấy, “chất xám” ấy, chúng ta ñã ñọ sức và ñã
thắng biết bao nhiêu nhà chính trị, nhà quân sự tài ba của Pháp và của Mỹ.
Tài trí của các giáo sư lừng danh trong “top ten” của Mỹ, của hai ðảng
Dân chủ và Cộng Hòa của Mỹ, của 5 ñời tổng thống… ñã có dịp cọ sát với
trí tuệ Việt Nam, mà phần lớn là xuất phát từ làng quê, kết hợp với chủ nghĩa
Mác - Lênin! Như thế, ñằng sau những trang sử Việt Nam thời hiện ñại, nhất
là thời kỳ 1945 – 1975, còn có những “ẩn số X” ñang cần ñược giải!
Lịch sử Việt Nam 1945 – 1975 là cuốn sách tham khảo dành cho sinh
viên học giáo trình Lịch sử Việt Nam hiện ñại. Nó chủ yếu cung cấp những
Mỹ Latin phát triển sôi nổi chưa từng thấy. Chính quyền nhân dân và tiến bộ
ñược thành lập ở những nước châu Á như Việt Nam, Lào, Trung Quốc, Mã
Lai, Miễn ðiện, In-ñô-nê-xi-a… Phong trào ñấu tranh cho dân tộc, dân chủ,
cho sự tiến bộ xã hội cũng ñang trỗi dậy ở nhiều nước châu Á, châu Phi,
châu Mỹ La tinh.
Ở các nước tư bản chủ nghĩa phong trào ñấu tranh cho hòa bình, ñấu
tranh ñòi tự do dân chủ cải thiện ñời sống của giai cấp công nhân và nhân
dân lao ñộng tiếp tục dâng lên ngày càng mạnh.
Hàng ngũ của chủ nghĩa ñế quốc ñã bị suy yếu nghiêm trọng và không
còn giữ ñược ñịa vị ưu thế như trước cuộc ñại chiến thế giới. Cuộc vật lộn
giành giật quyền lợi, hất cẳng và chèn ép lẫn nhau trong nội bộ chủ nghĩa ñế
quốc ñứng ñầu là mình ñã dùng mọi thủ ñoạn xảo quyệt và trắng trợn ñể cứu
vãn sự suy sụp của chúng nhằm chống lại các lực lượng cách mạng thế giới,
nhất là cao trào giải phóng dân tộc ñang dân lên mạnh mẽ.
ðó là ñặc ñiểm nổi bật của tình hình quốc tế sau chiến tranh. Sự thay
ñổi về so sánh lực lượng ấy ñã ñưa lại cho phong trào cách mạng thế giới,
nhất là phong trào cách mạng ở các nước thuộc ñịa và phụ thuộc vào những
thuận lợi căn bản. Nó cổ vũ tinh thần ñấu tranh chống chủ nghĩa ñế quốc của
nhân dân các nước thuộc ñịa, nó kìm chân và làm yếu lực lượng của chủ
nghĩa ñế quốc ở nhiều ñịa bàn.
Song bên cạnh mặt thuận lợi cũng có mặt không thuận lợi. Sau chiến
tranh, bọn ñế quốc ra sức chống phá phong trào cách mạng, tìm mọi cách
chiếm lại các thuộc ñịa ñã mất, và tranh giành thuộc ñịa lẫn nhau. Việt Nam
trở thành ñối tượng ñàn áp và giành giật của các ñế quốc Anh, Pháp, Mỹ và
bọn tay sai của chúng. Và có thể nói khi ấy Việt Nam nằm giữa vòng vây
của chủ nghĩa ñế quốc.
Trong nước, sau khi chính quyền cách mạng ra ñời chưa ñầy một tháng
thì các quân ñội của Anh và Tưởng Giới Thạch lợi dụng danh nghĩa ðồng
minh vào ðông Dương giải giáp quân ñội Nhật ñể thực hiện âm mưu xâm
lược của họ.
Nạn lụt lớn xảy ra ở 9 tỉnh thuộc miền Bắc ngay sau khi nhân dân ta vừa
giành ñược chính quyền. Hết lụt lớn là nạn hạn hán kéo dài làm cho 50%
ruộng ñất không thể cày cấy ñược. Nạn ñói ñầu năm 1945 vừa cướp ñi sinh
mạng của hơn hai triệu ñồng bào ta, nay lại ñang ñe dọa rất nghiêm trọng.
Nền kinh tế nước ta vốn là nông nghiệp lạc hậu lại bị chiến tranh tàn phá
nâng nề ñang ở trong tình trạng ñình ñốn. Nhiều xí nghiệp còn nằm trong tay
bọn tư bản thực dân Pháp, chưa phục hồi ñược sản xuất; hàng vạn công nhân
bị thất nghiệp. ðời sống nhân dân vô cùng thiếu thốn. Tài chính tiền tệ bị
thiếu hụt nặng, kho bạc của Trung ương chỉ còn hơn 1,2 triệu ñồng ðông
Dương trong ñó 58 vạn là bạc rách; ñồng bạc ðông Dương bị mất giá vì lạm
phát. Những khó khăn trầm trọng về tài chính, tiền tệ còn d ngân hàng ðông
Dương vẫn nằm trong tay bọn tư bản tài chính Pháp. Chúng dựa vào ñây ñể
gây sức ép với ta như ñình chỉ ứng tiền cho ngân khố nhà nước ta. Chúng
tuyên bố hủy bỏ giấy bạc 500 ñồng (thực chất là cướp không tài sản của ta
một cách trắng trợn) trong khi ta chưa có giấy bạc của riêng mình. Những
khó khăn ñó còn do phía quân ñội Tưởng tung ñồng tiền “quan kim” và
“quốc tệ) mất giá lưu hành trên thị trường Việt Nam.
Có thể nói chưa bao giờ dân tộc ta ñứng trước nhiều khó khăn phức tạp
như vậy. Vận mệnh Tổ quốc như ngàn cân treo sợi tóc. Lịch sử ñặt ra cho
ðảng, chính phủ và nhân dân ta những nhiệm vụ nặng nề có ý nghĩa quyết
ñịnh ñến tương lai, ñòi hỏi không những phải có lòng quyết tâm và quả cảm
mà còn phải có ñủ trí sáng suốt, bình tĩnh ñể vượt qua mọi thác ghềnh nguy
hiểm, mọi sóng to gió cả, ñược con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua
mọi hiểm nghèo tiến lên phía trước, giữ vững và bảo vệ cho kỳ ñược chính
quyền cách mạng, ñộc lập của tổ quốc.
Trên cơ sở ý chí cách mạng và yêu nước của nhân dân, ñối với khối ñại
ñoàn kết dân tộc trong mặt trận dân tộc thống nhất, ðảng ta, ñứng ñầu là Hồ
Chủ tịch ñã nắm vững tay lái ñưa con thuyền cách mạng Việt Nam vượt qua
hiểm nghèo, tiến lên phía trước, lãnh ñạo nhân dân chống thù trong giặc
ngoài, khắc phục mọi nguy nan, giữ cững và bảo vệ chính quyền cách mạng
giặc Pháp. Các công sở, xí nghiệp, hãng buôn ñều ñóng cửa, chợ không
người họp, xa ngừng chạy. Công nhân nhà máy ñồng loạt nghỉ việc. Nhà ñèn
bị phá, mọi thứ vật dụng như giường tủ, bàn ghế, quầy hàng, xe bò, xe kéo,
xe thổ mộ… ñều ñược kéo ra ñường. Các cơ sở kinh tế kho tàng ñã bị phá,
một số cầu ñường bị ñánh sập và phá hoại. Cả thành phố ngổn ngang vật
chướng ngại cản bước tiến quân ñịch.
Kết hợp ñánh ñịch vòng ngoài và ñánh ñịch trong thành phố, cho tới
ngày 30/9, sau một tuần lễ khởi hấn, quân Pháp chưa thoát ra ñược ngoài khu
vực cư trú và rất khốn ñốn, mặc dù chúng có chỗ dựa của quân Anh và quân
Nhật ñể chiếm ñược một số công sở nội thành. Nhiều lần chúng dựa vào
quân Anh, quân Nhật ñể phá vòng vây Sài Gòn nhưng ñều bị thất bại. ðối
với kẻ thù, Sài Gòn trở thành một thành phố chết, một thành phố không ñiện
nước, thiếu lương thực, không có hoạt ñộng sản xuất. ðiều ñó gây cho chúng
một nỗi kinh hoàng lo sợ.
ðể gỡ thế khó khăn và ñể chờ viên binh, Pháp ñã nhờ Gơ-ra-xi
(Gracey) làm trung gian xin ñiều chỉnh với ta, cũng cần tỏ rõ thái ñộ thiện
chí và lập trường chính nghĩa của mình, mặt khác ta cũng cần có thời gian ñể
ñưa nhân dân tản cư khỏi thành phố, tranh thủ củng cố lực lượng, chuẩn bị
cho lâu dài, ta ñã chấp nhân ngừng bắn một tuần lễ ñể ñiều ñình. Trong thời
gian ñình chiến, ñể gây áp lực ñối với Pháp. Ủy ban kháng chiến Nam Bộ ra
lệnh triệt ñể thi hành tổng ñình công và bất hợp tác với giặc trong toàn xứ.
Cuộc ñình chiến không ñi ñến kết quả do âm mưu ngoan cố của Pháp cốt ñể
chờ viện binh, chuẩn bị lực lượng phá vòng vây Sài Gòn – Chợ Lớn. Cuộc
ciến ñấu của nhân dân Sài Gòn-Chợ Lớn lại diễn ra ác liệt hơn.
ðúng như dự ñoán của ta, ngày 3/10, một tiểu ñoàn thuộc trung ñoàn
thuộc ñịa số 5 (5 RIC) của Pháp ñến Sài Gòn. Ngày 5/10, tướng Lơ-cơ-lec
(Lecelerc) ñến Sài Gòn nhưng với các ñơn vị bộ binh và sư ñoàn xe bọc thép
mới từ Pháp tăng viện. Cũng trong thời gian này, những ñơn vị cuối cùng
1
ñây lúc ñầu gặp nhiều khó khăn lúng túng. Lợi dụng chỗ yếu của ta, thực dân
Pháp ñã phá ñược vòng vây, mở rộng cùng chiếm ñóng. Giữa lúc ñó, ngày
25/10/1945 Hội nghị toàn xứ ðảng bộ Nam Bộ họp tại Thiên Hộ (Cái Bè,
Mỹ Tho). Ngoài ñại biểu các ðảng bộ tỉnh và thành phố ở Nam Bộ, về dự
Hội nghị có ñồng chí Hoàng Quốc Việt, ñại diện Ban thường vụ Trung ương
ðảng và các ñồng chí Lê Duẩn, Tôn ðức Thắng. Hội nghị ñã quyết ñịnh
những vấn ñề quan trọng ñể ñẩy mạnh cuộc kháng chiến ở Nam Bộ, như
tăng cường sự lãnh ñạo của ðảng ñối với lực lượng vũ trang, củng cố các
ñơn vị ñã có và xây dựng các ñơn vị mới, tổ chức lại các quân khu, khôi
phục chính quyền cách mạng ở những nơi ñã tan rã, chuẩn bị thành lập Ủy
ban kháng chiến miền Nam, phát triển công tác ở các ñô thị… Hội nghị ñã
cử ñồng chí Tôn ðức Thắng phụ trách Ủy ban kháng chiến và chỉ ñạo các
lực lượng vũ trang Nam Bộ. Hội nghị Thiên Hộ có ý nghĩa quyết ñịnh lớn
ñối với cuộc kháng chiến ở Nam Bộ.
Ngoài nhiệm vụ chung cho cả nước, Trung ương ðảng, Chính phủ và
Hồ Chủ tịch cũng ñã kịp ñề ra những chủ trương ñể lãnh ñạo cuộc kháng
chiến ở miền Nam. Chỉ thị “kháng chiến kiến quốc” ngày 25/11/1945 ñã nêu
rõ “phải ñộng viên lực lượng toàn dân kiên trì kháng chiến, tổ chức và lãnh
ñạo cuộc kháng chiến lâu dài”. Ban thường vụ Trung ương ðảng ñã ñề ra
nhiệm vụ cụ thể của quân và dân ta ở miền Nam là: “cắt ñứt liên lạc giữa
thành phố ñã lọt vào tay ñịch, phong tỏa những thành phố ấy về kinh tế, bao
vây về chính trị, nhiễu loạn về quân sự… Phải áp dụng chiến tranh du kích
triệt ñể và cổ ñộng nhân dân thi hành bất hợp tác ở các thành phố quân ñịch
làm chủ và thi hành “nhà không ñồng vắng” nếu quân ñịch trần về quê. ðiều
cốt tử là phải giữa vững liên lạc giữa các chiến khu ñể thống nhất chỉ huy”
2
.
Những văn kiện kể trên ñã cổ vũ và hướng dẫn ñể duy trì, ñẩy mạnh cuộc
kháng chiến của nhân dân miền Nam.
Cuộc kháng chiến của nhân dân miền Nam ñược chính phủ Trung ương
gian khổ ñối với quân dân miền Nam, ñối với cả dân tộc ta và cả chế ñộ mới.
Cuộc chiến ñấu anh dũng ñó ñã ngăn chặn từng bước tiến công của ñịch,
phát triển chiến tranh du kích, giữ vững và mở rộng lực lượng, tích lũy ñược
kinh nhiệm chiến ñấu, góp phần bảo vệ và củng cố chính quyền cách mạng,
tạo ñiều kiện cho cả nước chuẩn bị lực lượng về mọi mặt cho cuộc kháng
chiến toàn quốc về sau.
3. Khắc phục hậu quả chiến tranh, bước ñầu xây dựng ñất nước về
các mặt chính trị, quân sự, kinh tế, xã hội, văn hóa giáo dục và ngoại giao
a/ Giữ vững, củng cố chính quyền dân chủ nhân dân, xây dựng nền
móng của chế ñộ mới
Ngay sau khi giành ñược chính quyền, chính phủ ñã ban hành nhiều
sắc lệnh và nghị ñịnh ñể bảo vệ và củng cố chính quyền, coi ñây là nhiệm vụ
hết sức cấp bách, sống còn của nhân dân ta lúc này. Chính quyền là công cụ
sắc bén ñể giữ vững trật tự an ninh, ñảm bảo quyền tự do dân chủ cho nhân
dân. ðiều quan trọng và cấp bách hơn cả là phải tranh thủ thời gian ñể tổ
chức tổng tuyển cử, bầu cử Quốc hội và thành lập Chính phủ chính
thức.Thông qua tổng tuyển cử mà thực hiện quyền dân chủ cao nhất của
quần chúng, ñể hợp tác hóa bộ máy nhà nước về mặt nguyên tắc và ñể lập ra
một hiến pháp ñặt nền tảng cho chế ñộ xã hội mới.
Vì vậy, chỉ một ngày sau khi nhà nước cách mạng ra ñời, trong phiên
họp ñầu tiên của chính phủ lâm thời, ngày 3/ 9/3945, Hồ Chủ tịch ñã ñề nghị
phải tổ chức tổng tuyển cử càng sớm càng tốt, với chế ñộ phổ thông ñầu
phiếu. Trên cơ sở ñó ngày 8/9/1945 Chủ tịch chính phủ lâm thời nước Việt
Nam Dân Chủ Cộng Hòa ñã ra sắc lệnh số 14 về cuộc tổng tuyển cử ñể bầu
quốc hội. Bản sắc lện ñã khẳng ñịnh yêu cầu bức thiết của tổng tuyển cử và
chúng ta ñã có ñủ cơ sở pháp lý, có ñủ những ñiều kiện khách quan và chủ
quan ñể tiến hành cuộc tổng tuyển cử ñó. Sắc lệnh quy ñịnh: “Trong một thời
hạn 2 tháng kể từ ngày ký sắc lệnh này sẽ mở cuộc tổng tuyển cử ñể bầu
Quốc dân ñại hội” (ðiều 1); “Tất cả công dân Việt Nam, cả trai và gái từ 18
tuổi trở lên ñều có quyền tuyển cử và ứng cử, trừ những người ñã bị tước
Ngày 2/3/1946 quốc hội khóa I nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa họp
phiên ñầu tiên và ñã thông qua danh sách chính phủ liên hiệp chính thức do
Hồ Chủ tịch thành lập. Ngày 4/3/1946 chính phủ họp phiên ñầu tiên quyết
ñịnh chính sách mọi mặt của nhà nước ta.
Sau cuộc bầu cử Quốc hội, tại các ñịa phương thuộc Trung Bộ và Bắc
Bộ, nhân dân ñã bầu ra Hội ñồng nhân dân và Ủy ban hành chính các cấp từ
xã lên tỉnh. Ủy ban hành chính các cấp thay thế cho ủy ban nhân dân. Bộ
máy chính quyền dân chủ nhân dân các cấp bước ñầu ñược củng cố và kiện
toàn, ñã thực sự trở thành chỗ dựa kiên cố cho chính quyền cách mạng Trung
ương tồn tại phát triển trước sự tấn công thâm ñộc của bọn ñế quốc và tay
sai.
Trong tình hình ñất nước ñang ñứng trước thù trong giặc ngoài ñe dọa
nghiêm trọng, việc xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân cũng là một nhiệm
vụ cấp bách và vô cùng quan trọng. Khắp nơi trên cả nước, phong trào luyện
tập quân sự , tìm kiếm vũ khí diễn ra sôi nổi trong các tầng lớp các giới lao
ñộng. Các ñội tự vệ từ chỗ là lực lượng xung kích của toàn dân nổi dậy giành
chính quyền trong tổng khởi nghĩa tháng Tám nay ñược củng cố mở rộng
thành công cụ sắc bén ñể bảo vệ chính quyền cách mạng ở cơ sở. Chỉ trong
thời gian ngắn từ khi cách mạng tháng Tám thắng lợi ñến cuối 1945, lực
lượng dân quân tự vệ ñã tăng lên hàng chục vạn người có mặt ở hầu hết thôn
xã, ñường phố, xí nghiệp. ðây là lực lượng chiến lược hết sức trọng yếu
trong lực lượng vũ trang nhân dân
Bên cạnh lực lượng tự vệ ta còn chú trọng xây dựng lực lượng vũ trang
tập trung. Từ các ñơn vị Việt Nam giải phóng quân trong cách mạng tháng
Tám ñã mở rộng và ñổi thành Vệ quốc ñoàn (tháng 9/1945), là lực lượng
quân ñội chính quy của nhà nươc Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Nó ñược xây
dựng, phát triển ở tất cả các tỉnh, thành phố trong cả nước, mỗi tỉnh có một
chi ñội, ngoài ra còn có trên 10 chi ñội Nam tiến phục vụ chiến trường miền
Nam và Nam Trung Bộ ñang ñánh Pháp.
Ở Nam Bộ sau ngày 23/9/1945, Xứ ủy và Ủy ban nhân dân, Tổn công
Tinh thần “nhường cơm sẻ áo”, một truyền thống tốt ñẹp của dân tộc
Việt Nam ñã ñược ñộng viên. Theo gương Hồ Chủ tịch, ñồng bào cả nước ñã
phát huy mọi sáng kiến ñể cứu ñói như lập “Hũ gạo cứu ñói”, “ngày ñồng
tâm” nhịn ăn… Chính phủ ñã có những biện pháp tích cực ñể ñiều hòa thóc
gạo giữa các ñịa phương trong toàn quốc và ra lệnh nghiêm trị bọn ñầu cơ
tích trữ thóc gạo.
Nhưng ñó chỉ là những biện pháp cấp bách và tạm thời, vấn ñề cơ bản
hơn là phải ñẩy mạnh tăng gia sản xuất. Ngày 19/10/1945 một Ủy ban Trung
ương phụ trách vấn ñề sản xuất ñược thành lập, các ban khuyến nông các ñịa
phương cũng ra ñời ñể hướng dẫn nhân dân sản xuất. Ngày 16/11/1945 Bộ
quốc dân kinh tế ra thông tư quyết ñịnh việc tạm giao ñất vắng chủ, ruộng
ñất công và ruộng ñất tư không cày cấy hết cho những người thiếu ruộng.
Với khẩu hiệu “Không một tấc ñất bỏ hoang”, “Tấc ñất tấc vàng”, phong trào
thi ñua sản xuất ñược dấy lên khắp các ñịa phương. Không những nông dân
mà cả công nhân, cơ quan, trường học, các ñơn vị bộ ñội cũng ñều hăng hái
tổ chức sản xuất. Diện tích hoang hóa, vắng chủ ñều ñược khai phá gieo
trồng lương thực và hoa màu. ðê ñập bị phá vỡ trong mùa lũ ñược bồi ñắp
lại. Hỗ trợ phong trào toàn dân tăng gia sản xuất, chính quyền cách mạng ra
sắc lệnh bãi bỏ thuế thân và các thứ thuế vô lý của chế ñộ cũ
4
. Miễn thuế
ruộng ñất ñối với vùng bị lũ lụt và có chiến sự ở Nam Bộ, Nam phần Trung
Bộ, cùng các loại ruộng hoang hóa mới ñược khai phá gieo trồng; chính phủ
cũng ra thông tư giảm tô 25%, giảm thuế ruộng 20% trong toàn quốc cho
nông dân, tịch thu ruộng ñất của ñế quốc Việt gian chịa cho dân cày nghèo,
chia lại ruộng ñất công cho cả nam và nữ
5
. ðối với giai cấp công nhân và các
tầng lớp nhân dân lao ñộng, chính phủ ñã chú trọng giải quyết những quyền
lợi thiết thực phù hợp với ñiều kiện cho phép như ñã ñệ trình Quốc hội dự án
toàn dân hưởng ứng tiêu dùng. ðây là một thắng lợi to lớn của nhân dân ta
và cũng là thất bại sâu cay của thực dân Pháp. Giành ñược chủ quyền về tiền
tệ, chúng ta ñã giải quyết ñược một phần vấn ñề chỉ tiêu của chính phủ, phụ
vụ sản xuất và ñời sống , bước ñầu xây dựng nền tài chính ñộc lập của nước
Việt Nam mới.
Cuộc ñấu tranh ñể giữ vững chủ quyền ñộc lập trên các lĩnh vực kinh tế
cũng không kém phần phức tạp và mới mẻ ñối với nhà nước cách mạng. ðối
với các xí nghiệp công nghiệp cần thiết cho quốc kế dân sinh như ngành
ñiện, nước (ở các thành phố), khai thác than (Hồng –gai, Cẩm-phả), gạch
ngói(ðáp Cầu), vải sợi(Nam ðịnh), xi măng (Hải Phòng) sửa chữa cơ khí
(Hà Nội) ta vẫn ñể cho tư bản Pháp và tư bản nước ngoài tiếp tục kinh doanh
theo luật lệ và chịu quyền kiểm soát của chính phủ Việt Nam theo sắc lệnh
ngày 9/10/1945. ðồng thời chúng ta cũng khôi phục các mỏ than Tân Trào
(Tuyên Quang) Quyết Thắng (Ninh Bình), tiếp tục khai thác mỏ thiếc Tĩnh
Túc (Cao Bằng), phụ hồi sữa chữa xe lửa Trường Thi (Vinh, Nghệ An)
Trên lĩnh vực giao thông vận tải ñường thủy, ñường bộ, ñường sắt,
ñường không cũng bước ñầu ñược phục hồi, ñảm bảo sinh hoạt, ñi lại bình
thường của nhân dân.
Về thương nghiệp, một mặt trận gắn bó trực tiếp với ñời sống hàng
ngày của nhân dân ñã ñược chính phủ Việt Nam hết sức quan tâm, nghiêm
cấm các hoạt ñộng ñầu cơ tích trữ, chợ ñen, mở ñường cho sự lưu thông
hàng hóa, kêu gọi các nhà buôn ñứng ra kinh doanh, lập phòng thương mại
và Nha thương vụ Việt Nam giúp chính phủ bước ñầu nắm các hoạt ñộng
thương mại trên thị trường nội ñịa.
Về văn hóa giáo dục, do hậu quả của chính sách ngu dân của thực dân
Pháp, một chế ñộ thống trị mà “nhà tù nhiều hơn trường học”, hơn 90%dân
chúng Việt Nam mù chữ. Vì vậy chống nạn mù chữ không phải chỉ là nhiệm
vụ văn hóa mà còn ý nghĩa chính trị sâu sắc, nó góp phần ñảm bảo cho người
lao ñộng nâng cao trình ñộ văn hóa tham gia quản lý ñất nước một cách có
hiệu quả. Hồ Chủ tịch ñã nêu rõ “muốn giữ vững nền ñộc lập, muốn làm cho
quần chúng nhân dân. Báo Cờ giải phóng, Sự thật, Cứu quốc là những tờ báo
ñược quần chung tín nhiệm và có tác dụng lớn nhất trong việc tuyên truyền
phổ biến chủ trương ñường lối của ðảng và mặt trận Việt Minh.
Cuộc vận ñộng ñời sống mới do Hồ Chủ tịch ñề xướng ñược ñông ñảo
ñồng bào cả nước hưởng ứng nhằm xây dựng một ñáo ñước mới với nội
dung cần - kiệm - liêm – chính, bài trừ các tệ nạn xã hội cũ như nạn rượu
chè, cờ bạc, trộm cướp, mại dâm,những hủ tục cúng tế, ma chay, cưới xin
linh ñìnhv.v… Trên mặt trận văn hóa mới ta ñã tập hợp ñoàn kết ñược các
lực lượng văn hóa yêu nước tiến bộ, làm thất bại âm mưu chia rẽ phá hoại
của kẻ thù. Nó ñặt nền móng vững chắc cho một nền văn hóa cách mạng
mang ñậm tính chất dân tộc, khoa học và ñại chúng, góp phần thúc ñẩy sự
nghiệp kháng chiến kiến quốc.
6
Hồ Chí Minh Tuyển tập, ST, H.1960, tr 222
7
Hồ Chí Minh Tuyển tập, ST, H.1960, tr 208
c/ Hòa hoãn với quân Tưởng, ñàm phán với phía Pháp phá vỡ thế bao
vây và uy hiếp của kẻ thù
Trong hoàn cảnh phải ñối phó với thực dân Pháp trở lại xâm lược miền
Nam và sự uy hiếp lật ñổ của quân Tưởng và tay sai ở miền Bắc, trên cơ sở
khẳng ñịnh thực dân Pháp là kẻ thù chính, ðảng, Chính phủ và Hồ Chủ tịch
ñã vạch rõ “phải trành các trường hợp một mình ñối phó với nhiều lực lượng
ñồng minh (Tàu, Pháp, Anh, Mỹ) tràn vào nước ta”. Mũi nhọn của cách
mạng lúc này chủ yếu là ñánh Pháp ñang xâm lược ở miền Nam. ðối với
quân ñội Tưởng Giới Thạch ta chủ trươn tạm thời hòa hoãn với khẩu hiệu
“Hoa – Việt thân thiện”, tránh những sự khiêu khích, xung ñột không có lợi.
ñồng thời phải ra sức lợi dụng mâu thuẫn trong nội bộ của chúng ñể phân
hóa chúng; kiên quyết giữ vững chủ quyền của ta. Song về sách lược biện
pháp ñối phó với quân Tưởng thì phải rất mềm dẻo, linh hoạt ñể giải quyết
8
Hồ Chí Minh Tuyển tập, ST, H.1960, tr 358
không khéo ñánh lùi từng bước, ñánh bại từng âm mưu phá hoại của chúng,
bảo vệ chính quyền cách mạng. Khi các kẻ thù ñã cấu kết với nhau ñể
nhường cho Pháp ñưa quân ra miền Bắc thực hiện ý ñồ xâm lược của chúng,
buộc chúng ta phải “tương kế tựu kế”, tranh thủ thời cơ ñánh bại hoàn toàn
âm mưu phản ñộng của quân ñội Tưởng Giới Thạch và quét sạch bọn tay sai
của chúng.
Ở miền Nam theo sự dàn xếp giữa Anh, Mỹ và Pháp, ngày 28/1/1946
quân Anh rút khỏi Sài Gòn, ñến ngày 5/3/1946 chúng rút khỏi miền Nam
ðông Dương nhường cho Pháp quyền chiếm ñóng từ vĩ tuyến 16 trở vào.
Thực dân Pháp và bọn Tưởng Giới Thạch cũng ñạt ñược sự thỏa hiệp. Ngày
28/2/1946 hiệp ước Pháp – Hoa ñược ký kết giữa ñại sứ Pháp với bộ trưởng
ngoại giao của chính phủ Tưởng Giới Thạch. Theo hiệp ước, Pháp nhường
cho cho Tưởng một số quyền lợi kinh tế, chính trị như hủy bỏ các trị ngoại
pháp quyền của Pháp trên ñất Trung Quốc, nhượng cho Tưởng Giới Thạch
một “khu ñặc biệt” ñể tự do buôn bán và có quyền kiểm soát thuế quan ở
càng Hải Phòng, bán cho Tưởng ñoạn ñường sắt từ Hồ Kiều ñến Côn Minh
(thuộc ñường sắt Hà Nội – Vân Nam), những kiều dân Trung Quốc ở ðông
Dương sẽ ñược hưởng nhiều quyền lợi ñặc biệt. Ngược lại Tưởng nhường
cho quân ñội Pháp quyền thay thế quân ñội Tưởng chiếm ñóng phía Bắc
ðông Dương từ vĩ tuyến 16 trở ra làm nhiệm vụ giải giáp quân ñội Nhật.
Như thế là “vì muốn cứu vãn quyền lợi chung của ñế quốc, chống
phong trào cách mạng vô sản và cánh mạng thuộc ñịa, Anh, Pháp, Mỹ và
tưởng ñã tạm dẹp mâu thuẫn bộ phận ở ðông dương. Coi ñó thì hiệp ước
Hoa – Pháp không phải là chuyện riêng của Tưởng và Pháp. Nó là chuyện
chung của phe dế quốc và bọn tay sai của chúng ở thuộc ñịa”
9
.
Tình hình trở nên khẩn trương và phức tạp, ñặt ra trước ðảng, chính
kỳ do nhân dân ta quyết ñịnh.
• Chính phủ nước Việt Nam ñồng ý ñể cho 15.000 quân Pháp
ñược vào miền Bắc thay cho quân ñội Tưởng Giới Thạch. Mỗi năm sẽ
rút 1/5 số quân ñó về Pháp và sau 5 năm sẽ rút về hết.
• Hai bên sẽ ngừng cuộc xung ñột và giữ nguyên quân ñội hai bên
tại vị trí cũ nhằm tạo ñiều kiện cần thiết ñể ñi ñến một cuộc ñiều ñình
thân thiện ñể bàn về các vấn ñề ngoại giao của Việt Nam, chế ñộ
tương lai của ðông dương, những quyền lợi kinh tế và văn hóa của
Pháp ở Việt Nam.
Ký hiệp ñịnh sơ bộ 6/3/1946 tạm hòa với Pháp, ta ñã ñẩy ñược 20 vạn
quân Tưởng và tay sai ra khỏi ñất nước, giành thêm thời gian hòa bình cần
thiết ñể củng cố chính quyền cách mạng, mở rộng mặt trận dân tộc thống
nhất, phát triển quân ñội, chuẩn bị lực lượng cho cuộc kháng chiến lâu dài.
Thực tiễn lịch sử ñã chứng tỏ rằng việc ký hiệp ñịnh sơ bộ 6/3/1946 là một
chủ trương ñúng ñắn của ðảng và chính phủ ta.
Nhiệm vụ ñặt ra cho quân và dân cả nước sau khi ký hiệp ñịnh sơ bộ là
ñấu tranh buộc ñế quốc Pháp thi hành hiệp ñịnh, tiếp tục ñàm phán ngoại
giao giữa hai chính phủ ñể ñi ñến một hiệp ñịnh chính thức. Mặt khác, về
phía ta phải tranh thủ củng cố và phát triển lực lượng về mọi mặt.
Sau khi ký hiệp ñịnh sơ bộ, thực dân Pháp ñã giở mặt phản bội, vi phạm
những ñiều ñã ký kết. Ở miền Bắc, sau khi ñã ñóng quân ở các thành phố thị
xã quan trọng, Pháp bắt ñầu có những hành ñộng khiêu khích, uy hiếp quần
chúng,liên lạc móc nối với các ñảng phái phản ñộng, tập hợp việt gian bán
nước ñể phá hoại chính quyền cách mạng. Chúng vạch kế hoạch phong tỏa
vùng biển và ñánh chiếm từ Quảng Yên ñến Móng Cái ñể lập “Xứ Nùng tự
trị”; chúng mở các cuộc tiến công ở Sơn La, Lai Châu ñể lập “Xứ Thái tự
trị”… Ở miền Nam, Pháp tiếp tục mở rộng càn quét khủng bố nhân dân, tập
hợp bọn phản ñộng trong các giáo phái Cao ðài, Hòa Hảo tổ chức lực lượng
vũ trang làm tay sai cho chúng. Mặt khác chúng thành lập chính phủ “Nam
kỳ tự trị” do Nguyễn Văn Thinh cầm ñầu, âm mưu tách Nam Bộ ra khỏi Việt
vấn ñề thống nhất 3 kỳ và việc trưng cầu dân ý ở Nam Bộ, những vấn ñề
kinh tế văn hóa và thảo một dự án hiệp ước.
Cũng như ở Hội nghị trù bị ðà Lạt, lập trường của chính phủ Pháp hoàn
toàn không có gì thay ñổi, nó ñối lập với lập trường chính nghĩa và thiện chí
của chính phủ ta. Mặc dù phái ñoàn ta kiên trì và cố gắng ñể cho cuộc ñàm
phán có kết quả tốt, song thực dân Pháp vẫn ngoan cố giữ lập trường phản
10
Phái ñoàn Pháp do Mác An-ñơ-rê (Mare Andre’) dẫn ñầu; phái ñoàn ta do ñồng chí Võ Nguyên Giáp
dẫn ñầu.
ñộng xâm lược cho nên cuộc ñàm phán ñã thất bại. Hội nghị ñã chấm dứt
ngày 12/9/1946. Ngày 13/9/1946 phái ñoàn của ta xuống tàu về nước.
Hội nghị Phông-ten-nơ-bơ-lô thất bại do chính phủ Pháp gây ra ñã làm
cho tình hình bang giao việt – Pháp thêm căng thẳng, nguy cơ một cuộc
chiến tranh ñã ñến gần. Cần phải có một quyết ñịnh nhanh chóng nhằm kéo
dài thêm thời gian hòa hoãn, tiếp tục bổ xung lực lượng, làm cho nhân dân
Pháp và nhân dân thế giới thấy rõ thiện chí hòa bình của Việt Nam và dã tâm
xâm lược của thực dân Pháp. Chính vì lẽ ñó ngày 14/9/1946 Hồ Chủ tịch ñã
ký với Mu-Te (Moutet) bộ trưởng thuộc ñịa Pháp một bản tạm ước. ðây là
sự nhân nhượng cuối cùng của ta nhằm cứu vãn tình thế của ñất nước khó
khăn lúc ñó.
Ngày 20/10/1946 Hồ Chủ tịch trở về ñến Tổ quốc trong sự ñóng chờ
ñầy tin tưởng của toàn dân. Cuộc hành trình ngoại giao của Hồ Chủ tịch và
phái ñoàn chính phủ Việt Nam Dân chủ Cộng hòa trên ñất Pháp tuy chưa
giải quyết ñược những mục tiêu cơ bản của cuộc ñàm phán, song uy tín của
nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ñã ñược chìn phủ Pháp, nhân dân
Pháp, người nước ngoài tôn trọng, họ ñề hiểu rõ vấn ñề Việt Nam hơn trước,
làm cho số ñông người Pháp ñồng tình ủng hộ Việt Nam ñộc lập. Họ tán
thành xây dựng mối quan hệ cộng tác Việt – Pháp trên tinh thần bình ñẳng,
thật thà, cùng có lợi.
quân khu. Toàn Nam Bộ ñã xây dựng ñược 25 chi ñội, tăng 250% so với lúc
mới hình thành. Hệ thống tổ chức ðảng trong lực lượng vũ trang ñã ñược
thành lập từ cấp Xứ ñến cấp cơ sở. ðây là lực lượng nòng cốt của toàn dân
ñánh giặc, cho sự phát triển lâu dài và thắng lợi to lớn của cuộc kháng chiến
Nam Bộ trong những năm về sau.
Ở Nam Trung Bộ và Tây Nguyên chiến tranh du kích ñã bước ñầu phát
triển. Các thành thị các cuộc ñấu tranh chính trị của quần chúng ñã xuất hiện,
nhiều căn cứ du kích ñã hình thành ở nông thôn và rừng núi. Ngoài các ñơn
vị bộ ñội tập trung ở vùng tự do liên khu 5, ñến tháng 7/1946 ở cực Nam
Trung Bộ ñã xây dựng ñược 4 trung ñoàn chủ lực và 1 tiểu ñoàn ở Tây
Nguyên – tiểu ñoàn Nơ-trang-lơn, gồm hầu hết các chiến sĩ người dân tộc
thiểu số. Các ñơn vị bộ ñội tập trung ở ñây ñã chiến ñấu rất anh dũng, vượt
qua mọi thiếu thốn khó khăn, bệnh tật ñể chặn từng bước tiến của ñịch.
Nói chung tình hình chính trị và quân sự ở Nam Bộ, cực Nam Trung Bộ
từ sau 6/3/1946 ñến cuối năm 1946 có những thay ñổi lớn, lực lượng kháng
chiến ñã ñược củng cố và phát triển rộng rãi, ñưa cuộc kháng chiến của nhân
dân miền Nam sang một thời kỳ mới. Thực tế lịch sử ñã khẳng ñịnh chủ
trương “hòa ñể tiến” với việc ký hiệp ñịnh sơ bộ 6/3 và tạm ước 14/9 là hoàn
toàn ñúng ñắn.
Ở miền Bắc, tranh thủ thời gian hòa hoãn quân và dân ta cũng ra sức
xây dựng và phát triển lực lượng mọi mặt. Ngày 29/5/1946, theo sáng kiến
của Hồ Chủ tịch, hội liên hiệp quốc dân Việt Nam (gọi tắt là Liên Việt) ñược
chính thức ra ñời ở Hà Nội nhằm ñoàn kết rộng rãi các tổ chức, ñảng phái và
cá nhân chưa tham gia mặt trận Việt minh. ðây là một thắng lợi mới của
chính sách ñại ñoàn kết dân tộc của Hồ Chủ tịch và là một ñòn mạnh ñánh
vào âm mưu chia rẽ của thực dân Pháp. Ngày 27/5/1946, ðại hội ñại biểu
công nhân toàn quốc họp ở thủ ñô Hà Nội quyết ñịnh thành lập Tổng liên
ñoàn lao ñộng Việt Nam nhằm ñoàn kết lực lượng lao ñộng trí óc và chân
tay,không phân biệt dân tộc, tôn giáo, nam nữ ñể kháng chiến thắng lợi và
xây dựng chế ñộ dân chủ nhân dân. ðến cuối năm 1946 tổng số ñoàn viên
Trong công tác xây dựng lực lượng vũ trang, ðảng và nhà nước ta ñặc
biệt chú trọng giáo dục bản chất cách mạng, kiện toàn hệ thống tổ chức ðảng
và hệ thống công tác chính trị từ trên xuống cơ sở. Công tác ñào tạo cán bộ
cũng ñược tiến hành một cách khẩn trương. Trường quân chính Bắc Sơn,
trường võ bị Trần Quốc Tuấn ñược thành lập ñầu năm 1946. ðến cuối năm
1946, các trường quân sự ñã ñào tạo ñược hàng ngàn cán bộ bổ xung cho các
ñơn vị cơ sở trước khi cuộc kháng chiến bùng nổ.
Ngày 19/10/1946 Hội nghị quân sự toàn quốc của ðảng họp dưới sự
chủ tọa của Tổng bí thư Trường Chinh chuẩn bị một cách cụ thể hơn cho
cuộc kháng chiến toàn quốc. Gần 1 năm tạm hòa hoãn, lực lượng của ta ñã
ñược xây dựng ñể bước vào một trận chiến ñấu quyết liệt với quân thù.
Từ hạ tuần tháng 11/1946 trở ñi tình hình trở nên hết sức căng thẳng.
Trong khi ta vẫn kiên nhẫn tranh thủ hòa bình, thì thực dân Pháp quyết xâm
xô ñẩy ta vào chiến tranh. Chúng tiếp tục thực hiện chính sách “việc ñã rồi”
11
ðến cuối năm 1946 lực lượng vũ trang tập trung có 30 trung ñoàn, tổng số quân là 8 vạn người
hòng ñặt lại ách thống trị của chúng lên ñất nước ta một lần nữa. Ở Nam Bộ
và Nam Trung Bộ thực dân Pháp ñã tập trung quân tiến công vào các phòng
tuyến của ta, thực hiện chính sách ñàn áp khủng bố nhân dân rất dã man.
Ở miền Bắc, những ñám mây ñen chiến tranh của Pháp ngày một kéo
ñến gần, chúng tìm cách gây hấn ñánh chiếm các thành phố chiến lược của
ta. Ngày 24/11/1946 Pháp nổ súng ñánh chiếm các vị trí xung yếu của ta ở
Hải Phòng. Cùng ngày Pháp tiến ñánh ta ở Lạng Sơn, chúng dùng cả trọng
pháo, máy bay khu trục, thiết giáp ñể tấn công. ðể bảo vệ thành phố thân yêu
của mình, các ñơn vị tự vệ và bộ ñội tập trung ñã cùng nhân dân chiến ñấu
diệt hàng trăm tên Pháp. Sau mấy ngày chiến ñấu quyết liệt, do tương quan
lực lượng không có lợi cho ta, nên quân ta ñã rút lui ra khỏi các thành phố và
hình thành vòng vây giam chân quân Pháp ở các vị trí này.
Tại Hà Nội, từ ñầu tháng 12/1946 thực dân Pháp liên tiếp gây xung ñột
chiến chống thực dân Pháp xâm lược, ñiều mà ðảng ñã biết chắc là không
thể nào tránh khỏi” Lê Duẩn ñã viết trong tác phẩm “Dưới lá cờ vẻ vang của
ðảng…”
12
.
II. KHÁNG CHIẾN TOÀN QUỐC CHỐNG THỰC DÂN PHÁP VÀ
CAN THIỆP MỸ (1946-1954)
1. Phát triển thực lực, ñẩy mạnh cuộc kháng chiến toàn
dân, toàn diện chống ñịch mở rộng chiến tranh (1946-1954)
a/ Cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ và sự hình thành ñường lối
kháng chiến của ðảng cộng sản ðông dương
Thực dân Pháp ñã trắng trợn xé bỏ hiệp ñịnh 6/3/1946 và Tạm ước
14/9/1946, chúng quyết tâm xâm lược nước ta một lần nữa. Trước hành
ñộng bội ước và xâm lược của Pháp, nhân dân ta chỉ còn một con ñường:
Cầm vũ khí ñứng lên kháng chiến bảo vệ nến ñộc lập tự do của Tổ quốc.
Theo quyết ñịnh của Ban thường vụ Trung ương ðảng, chính phủ và Hồ
Chủ tịch ñã phát ñộng cuốc kháng chiến trong toàn quốc chống pháp xâm
lược
Ngày 20/12/1946 Lời kêu gọi Toàn quốc kháng chiến cùa Hồ Chủ
tịch ñã truyền ñi khắp cả nước
“Hỡi ñồng bào toàn quốc
Chúng ta muốn hòa bình, chúng ta ñã nhân nhượng. Nhưng chúng
ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm
cướp nước ta một lần nữa.
Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ không chịu mất nước, nhất
ñịnh không chịu làm nô lệ
Hỡi ñồng bào! Chúng ta phải ñứng lên!
Bất kỳ ñàn ông ñàn bà, bất kỳ người già người trẻ, không chia tôn
giáo, ñảng phái, dân tộc, hễ là người Việt Nam thì phải ñứng lên ñánh
thực dân Pháp, cứu Tổ quốc. Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng
các vấn ñề cơ bản và có cơ sở khoa học về mục ñích, tính chất, nội dung,
phương châm, triển vọng tất thắng của cuộc kháng chiến.
Thực dân Pháp tiến hành cuộc chiến tranh nhằm thôn tính nước ta,
duy trì quyến lợi thuộc ñịa của chúng ở ðông dương, ñó là cuộc chiến
tranh phi nghĩa, chiến tranh xâm lược, ngày càng bị nhân dân Pháp và
nhân dân tiến bộ trên thế giới lên án, chúng ngày càng bị cô lập và suy
yếu. Còn nhân dân ta ñể bảo vệ nền ñộc lập, thống nhất, dân chủ, phải
cương quyết ñứng lên kháng chiến chống thực dân Pháp và bọn tay sai
của chúng. ðó là cuộc chiến tranh tự vệ, chiến tranh chính nghĩa và tiến
bộ vừa ñể chống lại xâm lược giành giải phóng cho dân tộc, vừa ñể từng
bước thực hiện nhiệm vụ dân chủ, ñem lại ruộng ñất cho nông dân. Cuộc
kháng chiến ñó do toàn dân tiến hành. Mọi người yêu nước Việt Nam
không phân biệt ñều có nghĩa vụ và quyền lợi tham gia. ðể có cuộc kháng
chiến toàn dân, ðảng và chính phủ phải ñộng viên, tổ chức lực lượng,
lãnh ñạo toàn dân chiến ñấu theo khẩu hiệu “Mỗi người dân là một người
lính, mỗi phố là một mặt trận, mỗi làng là một pháo ñài”.
Tính chất toàn dân của cuộc kháng chiến có quan hệ mật thiết với
kháng chiến toàn diện. Cuộc kháng chiến ñó không chỉ diễn ra trên mặt
trận quân sự mà trên tất cả các mặt trận kinh tế, chính trị, văn hóa…
Về quân sự phải ra sức tiêu diệt lực lượng ñịch, bồi dưỡng lực lượng
ta, tiến lên quét ñịch ra khỏi nước ta, lấy lại toàn bộ ñất nước. Muốn
kháng chiến thành công phải có lược lượng vũ trang hùng hậu gồm 3 thứ
quân bộ ñội chính quy, bộ ñội ñịa phương và dân quân du kích. Quân ñội
ñó từ nhân dân mà ra, phát triển từ không ñến có, từ nhỏ ñến lớn, từ yếu
ñến mạnh. Về tác chiến cũng gồm 3 hình thức cơ bản: du kích chiến, vận
ñộng chiến, trận ñịa chiến, trong ñó du kích chiến là lối ñánh phổ biến
nhất.
Về chính trị, phải giữ vững và tăng cường khối ñoàn kết toàn dân
trong mặt trận dân tộc thống nhất rộng rãi, tranh thủ sự ñồng tình ủng hộ
của nhân dân tiến bộ trên thế giới. ðể thực hiện nhiệm vụ ñó phải ra sức