ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN THỊ HÀ
PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GHI NHỚ SỰ KIỆN
CHO HỌC SINH TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ VIỆT NAM 1945-1975 CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM LỊCH SỬ
Chuyên ngành: Lí luận và phương pháp dạy học bộ môn Lịch sử
Mã số: 60.14.01.11
Cán bộ hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Bích
HÀ NỘI - 2014
LỜI CẢM ƠN
Lời đầu tiên trong luận văn, tác giả xin trân trọng cảm ơn các thầy cô
giáo Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội đã nhiệt tình giảng
dạy và giúp đỡ tác giả trong suốt khóa học và quá trình nghiên cứu đề tài.
Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS.
Nguyễn Thị Bích - người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ bảo, tạo điều kiện
thuận lợi cho tác giả trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài.
Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các em
học sinh trường THPT Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng đã tạo điều kiện giúp đỡ
tác giả trong quá trình hoàn thành luận văn.
Bên cạnh đó, sự giúp đỡ của bạn bè, đồng nghiệp trong lớp cao học Lịch sử
K8 - Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội là nguồn cổ vũ lớn lao,
tiếp thêm sức mạnh cho tác giả trong suốt thời gian học tập và thực hiện đề tài.
QTDH
Quá trình dạy học
SGK
Sách giáo khoa
THCS
Trung học cơ sở
THPT
Trung học phổ thông
2
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn ................................................................................................ i
Danh mục viết tắt ........................................................................................ii.
Mục lục ................................................................................................ iii
Danh mục các bảng .....................................................................................v.
Danh mục các biểu đồ ................................................................................v.i .
MỞ ĐẦU................................................................................................ 1
Chương 1: PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GHI NHỚ SỰ KIỆN CHO
HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG
2.1.1. Vị trí................................................................................................44
2.1.2. Mục tiêu ...........................................................................................4..5
2.1.3. Nội dung cơ bản phần lịch sử Việt Nam (1945-1975) 47
chương trình chuẩn.......................................................................................
2.2. Những yêu cầu khi xác định các biện pháp phát triển kĩ năng ghi
50
nhớ sự kiện lịch sử cho học sinh THPT ........................................................
2.3. Một số biện pháp phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện cho học
sinh THPT trong dạy học lịch sử Việt Nam (1945 - 1975)- chương
trình chuẩn..............................................................................................5.7 .
2.3.1. Phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện thông qua sử dụng sơ đồ tư duy..........5..7
2.3.2. Phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện thông qua hoạt động thực
60
hành sử dụng đồ dùng trực quan................................................................
2.3.3. Phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện thông qua sử dụng hệ thống
76
câu hỏi định hướng.......................................................................................
2.3.4. Phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện thông qua tóm tắt và ghi ý chính
78
3.2.5. Phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện thông qua củng cố, ôn tập
kiến thức đã học ...........................................................................................
82
2.4. Thực nghiệm sư phạm .........................................................................8..4
2.4.1. Mục đích thực nghiệm................................................................
hoá: có học sinh (HS) học tốt, HS học kém, có em thích học, có em lại không
thích học lịch sử. Thực tế các kì thi tốt nghiệp THPT, kì thi đại học và cao đẳng
môn lịch sử những năm qua đã phán ánh chất lượng dạy học lịch sử (DHLS)
chưa cao. Chúng ta không khỏi bàng hoàng khi hơn 60% thí sinh tham gia kì
thi Đại học năm 2004- 2005 đạt dưới điểm 5. Hay như hàng ngàn bài thi đạt điểm
0 trong kì thi Đại học và Cao đẳng năm 2010-1011… dẫn đến không nhiều HS
chọn môn Lịch sử để tham dự kì thi tốt nghiệp THPT năm học 2012-2013, 20132014. Vì sao HS không thích học Lịch sử? Vì sao kết quả học tập bộ môn lại
thấp như vậy? Có ý kiến cho rằng HS hiện nay thích học các môn khoa học tự
nhiên, ít quan tâm đến khoa học xã hội mà điển hình là môn lịch sử. Bên cạnh
đó phim ảnh của nước ngoài tràn ngập các loại dã sử, bán sử khiến HS phân
tâm, vô tình thuộc sử người hơn sử nhà. Hoặc có ý kiến cho rằng sách giáo
khoa (SGK) lịch sử viết không hay, cách dạy sử của các thầy cô giáo ở trường
THPT không sinh động càng làm cho lịch sử trở nên khô khan hơn.Dù chưa có
kết luận đúng, sai, song đều cho thấy một thực trạng là HS THPT đang ngại học
lịch sử mà mấu chốt của vấn đề theo chúng tôi là do HS chưa có kĩ năng ghi nhớ
sự kiện lịch sử.
Trong DHLS, sự kiện là cơ sở, nguồn gốc ban đầu để giúp HS nhận thức
đúng lịch sử đã diễn ra như thế nào.Việc học tập lịch sử ở trường THPT là
nhằm hình thành kiến thức về khoa học lịch sử, hình thành thế giới quan khoa
học, phẩm chất đạo đức cho người học. Thông qua đó HS khôi phục lại được
hình ảnh của quá khứ để hiểu sự phát triển của xã hội và cao hơn nữa là từ
kiến thức lịch sử các em có thể rút ra bài học cho bản thân trong cuộc sống của
chính mình. Vì vậy, trong DHLS cần thiết phải hướng dẫn cho HS nắm vững
kiến thức cơ bản của khoa học lịch sử. Nắm vững sự kiện lịch sử là tiền
6
đề để hiểu kiến thức lịch sử, biết rút từ quá khứ những bài học cho hiện tại và
tương lai. Không có kiến thức về lịch sử không thể hiểu sự phát triển tương lai
của xã hội mà không có tài liệu- sự kiện thì cũng không thể hình thành kiến
trọng vào lí thuyết mà phải chú trọng đến rèn luyện kĩ năng, chú ý đến nhận
thức tích cực và kĩ năng thực hành cho HS.
Nửa sau thế kỉ XX, Kixegof X.I với tác phẩm "Hình thành các kĩ năng
và kỹ xảo sư phạm cho sinh viên trong điều kiện của nền giáo dục Đại học" đã
nhấn mạnh: "Việc hình thành kĩ năng, kĩ xảo khái quát có liên quan đến việc
phát triển tư duy và việc làm phong phú tầm hiểu biết của người được dạy dỗ.
Việc hình thành các kĩ năng chỉ có kết quả khi con người ý thức được rõ rệt mục
đích, nhiệm vụ, những điều kiện cụ thể, những phương thức thực hiện động
tác, cùng những phương thức kiểm tra của động tác này"[29- tr14].
Tác giả T.A. Ilina trong cuốn "Giáo dục học" tập II, NXB Giáo
dục.1973, đã khẳng định việc nắm kiến thức là yếu tố cơ bản của quá trình dạy
học (QTDH), đồng thời tác giả cũng đã đưa ra một số phương pháp giúp HS
nắm vững kiến thức như phương pháp sử dụng SGK, phương pháp học tại
phòng thí nghiệm, phương pháp luyện tập, ôn tập... đặc biệt là phương pháp
phát huy tích tích cực của HS từ đó giúp các em nắm vững kiến thức, hiểu sâu
bài học.
I.F.Kharlamốp, trong công trình "Phát triển tính tích cực học tập của học
sinh như thế nào", tập I, NXB Giáo dục, 1978 đã khẳng định dạy học là một
quá trình lĩnh hội một cách vững chắc kiến thức của HS, song việc nhận thức
của HS không phải là do GV hình thành mà là quá trình tự lĩnh hội kiến thức.
HS chỉ "thực sự nắm vững cái mà chính bản thân giành được bằng lao động
của chính mình". Từ đó tác giả đi đến kết luận "học tập là một quá trình nhận
thức tích cực của học sinh, học sinh muốn nắm vững kiến thức một cách sâu
sắc thì phải thực hiện đầy đủ một chu trình trí tuệ: bao gồm những hành động tri
giác tài liệu, thông hiểu, ghi nhớ, luyện tập kĩ năng, kĩ xảo và cuối
8
cùng là hành động khái quát hoá hệ thống hoá kiến thức nhằm xác lập mối
QTDH. Theo tác giả, thông qua các biện pháp này sẽ kích thích năng lực sáng
10
tạo, nhận thức tích cực của HS nâng cao chất lượng dạy học môn lịch sử.
Theo Bloom (1956- 1984), nhà nghiên cứu tâm lí học người Mĩ trong bài
viết "Phân loại các mục tiêu giáo dục và các vấn đề đánh giá chất lượng" cho
rằng " nhận thức là quá trình lĩnh hội từ đơn giản đến phức tạp. Biểu hiện mức
độ như: nhận biết, phân tích, tổng hợp, đánh giá, vận dụng" đề cao vai trò của
việc lĩnh hội tri thức phù hợp với đối tượng và năng lực nhận thức của HS và ghi
nhớ sự kiện là cơ sở nền tảng đầu tiên cho quá trình nhận thức đó.
Như vậy, các tác giả nước ngoài trong các công trình nghiên cứu của
mình ở từng góc độ khác nhau đều khẳng định vai trò của việc phát triển kĩ
năng ghi nhớ và sự cần thiết phải phát triển kĩ năng ghi nhớ trong dạy học.
2.2. Tài liệu trong nước
Các nhà giáo dục học trong nước cũng đã đề cập đến những vấn đề lí
luận nhận thức, trong đó có kĩ năng ghi nhớ trong QTDH. Cuốn " Giáo dục
học", tập 1, tập 2, các tác giả Hà Thế Ngữ, Đặng Vũ Hoạt đã chỉ rõ quá trình
nhận thức của con người trải qua hai giai đoạn cụ thể: nhận thức cảm tính và
nhận thức lí tính, ghi nhớ thuộc giai đoạn đầu - giai đoạn nhận thức cảm tính.
Các tác giả cho rằng"lĩnh hội tri thức của học sinh là hoạt động nhận thức tích
cực, quá trình này đi từ biết đến hiểu và vận dụng vào thực tiễn"[41- tr148152].
Tác giả Bùi Văn Huệ trong cuốn " Tâm lí học", Nxb Đại học Quốc gia Hà
Nội, 2000 đã nêu lên sự lĩnh hội tri thức của HS là quá trình đi từ biết, hiểu bản
chất sự vật hiện tượng và vận dụng tri thức vào những tình huống khác nhau,
trong đó tác giả phân tích các mức độ biết- hiểu- ở trong tình huống cụ thể.
Bên cạnh các nhà giáo dục học, tâm lí học thì nhiều nhà giáo dục lịch sử
cũng đã đề cập tới vấn đề nhận thức của HS trong QTDH lịch sử.
Giáo trình "Phương pháp dạy học lịch sử" xuất bản năm 1966, 1976,
các tố chất của một người có kĩ năng "kĩ năng đòi hỏi con người phải có tri
thức về hành động và các kinh nghiệm cần thiết" [10- tr15]. Đây
là tác phẩm giúp ích rất nhiều về mặt lí luận cho tác giả khi làm luận văn.
12
Cuốn "Áp dụng dạy và học tích cực trong môn lịch sử" Dự án Việt - Bỉ
do Trần Bá Hoành, Vũ Ngọc Anh, Phan Ngọc Liên (biên soạn) đã đề cập về lí
luận cơ bản dạy và học tích cực trong dạy học nói chung và với bộ môn Lịch sử
nói riêng. Đặc biệt, tác phẩm đã đưa ra 4 PPDH tích cực là PPDH đặt và giải
quyết vấn đề, PPDH trực quan, PPDH vấn đáp, PPDH vĩ mô. Chính qua các
phương pháp trên năng lực nhận thức và kĩ năng nhận thức, kĩ năng thực hành
của HS được tăng lên rõ rệt: "học sinh được đặt vào tình huống của đời sống thực
tế, người học trực tiếp quan sát, thảo luận, làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề
đặt ra theo cách suy nghĩ của mình, từ đó nắm được kiến thức kĩ năng mới, vừa
nắm được phương pháp "làm ra" kiến thức, kĩ năng đó và phát huy tiềm năng
sáng tạo" [23-tr15].
Cùng với sách tham khảo, đã có một số luận án, luận văn, khóa luận Tốt
nghiệp cũng đã đề cập đến vấn đề HS cần ghi nhớ sự kiện. Nổi bật là Luận án "Tổ
chức, hướng dẫn ôn tập trong dạy học Lịch sử ở trường THPT (Vận dụng trong
dạy học Lịch sử lớp 10) của Hoàng Thanh Tú cũng đã khẳng định vai trò, ý
nghĩa của ghi nhớ sự kiện trong quá trình nhận thức lịch sử của HS. Khoá luận
tốt nghiệp "Một số biện pháp giúp học sinh ghi nhớ kiến thức cơ bản trong dạy
học lịch sử Việt Nam từ thế kỉ X đến thế kỉ XV ở lớp 10 THPT (chương trình
chuẩn) của Phạm Thị Kiều Trang đã đề xuất một số biện pháp giúpHS ghi nhớ sự
kiện lịch sử.
Như vậy, hướng dẫn HS ghi nhớ sự kiện lịch sử là vấn đề đã được nhiều công
trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài cũng như các tác giả trong nước
quan tâm. Các tác giả đều khẳng định tầm quan trọng của việc ghi nhớ sự kiện
nguồn tài liệu trong dạy học nói chung, DHLS nói riêng.
- Nghiên cứu chương trình, SGK lịch sử lớp 12- chương trình chuẩn phần Lịch sử Việt Nam từ 1945 -1975 cùng các tài liệu tham khảo khác để giúp
phát triển kỹ năng ghi nhớ sự kiện lịch sử cho HS.
14
- Tìm hiểu thực trạng việc DHLS ở trường THPT về vấn đề phát triển kĩ
năng ghi nhớ sự kiện cho HS trong học tập lịch sử.
- Đề xuất các biện pháp phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện cho HS trong dạy
học lịch sử Việt Nam lớp 12 THPT - chương chình chuẩn.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm tại một số trường THPT để khẳng định
tính khả thi của các biện pháp đề xuất.
5. Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1.Cơ sở phương pháp luận
Đề tài dựa trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ
Chí Minh, quan điểm của Đảng và Nhà nước về giáo dục.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
- Nghiên cứu lí luận thông qua các tài liệu tâm lí, giáo dục học, giáo dục
lịch sử về vấn đề phát triển kỹ năng ghi nhớ sự kiện lịch sử.
- Điều tra thực tiễn vấn đề phát triển kỹ năng ghi nhớ sự kiện trong dạy học
lịch lớp 12 THPT - chương trình chuẩn thông qua phát phiếu điều tra, dự giờ, lấy
ý kiến giáo viên đang trực tiếp giảng dạy lịch sử ở các trường THPT để đề xuất
các biện pháp nhằm phát triển kỹ năng ghi nhớ sự kiện lịch sử cho học sinh nhằm
nâng cao chất lượng dạy học lịch sử.
- Tiến hành thực nghiệm sư phạm ở lớp 12 THPT Ngô Quyền thuộc thành
phố Hải Phòng.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện lịch sử cho HS theo những biện
pháp được đề xuất trong đề tài sẽ tạo hứng thú học tập lịch sử cho HS góp
phổ thông - chương trình chuẩn
16
Chương 1. PHÁT TRIỂN KĨ NĂNG GHI NHỚ SỰ KIỆN
CHO HỌC SINH TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG- LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
Trong chương này chúng tôi đi sâu giải quyết các vấn đề cơ bản về khái
niệm, cơ cở xuất phát, vai trò, ý nghĩa, phân loại kĩ năng ghi nhớ sự kiện và tổng
kết điều tra thực trạng của việc phát triển kĩ năng ghi nhớ sự kiện trong DHLS ở
trường THPT hiện nay.
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Một số khái niệm
Kĩ năng: trong khoa học và thực tế cuộc sống có nhiều cách gọi về thuật
ngữ "kĩ năng" như là kĩ năng sống, kĩ năng mềm, kĩ năng chuyên môn, trung tâm
huấn luyện kĩ năng... Vậy kĩ năng là gì? Bằng cách nào để tạo ra kĩ năng? cần phải
học kĩ năng ở đâu? là vấn đề mà chúng ta quan tâm và mong muốn có lời giải.
Trong khuôn khổ luận văn, chúng tôi muốn thống nhất cách hiểu khái niệm "kĩ
năng" nhằm vận dụng linh hoạt trong học tập và cuộc sống.
Khái niệm kĩ năng có nhiều cách định nghĩa bắt nguồn từ góc nhìn
chuyên môn và quan niệm cá nhân của cá nhân các nhà khoa học.
Theo Từ điển Tiếng Việt "kĩ năng là khả năng vận dụng những kiến
thức thu nhận được trong một lĩnh vực nào đó vào thực tế" .
Từ điển Tâm lí học định nghĩa "kĩ năng là năng lực vận dụng có kết quả
những tri thức về phương thức hoạt động đã được chủ thể lĩnh hội để thực hiện
những nhiệm vụ tương ứng".
Nhà giáo dục I.F Kharlamop cho rằng "kĩ năng là những khả năng của
học sinh có thể hoàn thành những hành động nào đó gắn liền với việc ứng
dụng kiến thức vào thực tiễn.
Giữa kĩ năng và thói quen cũng có sự khác nhau. Hầu hết các thói quen
hình thành một cách vô thức và khó kiểm soát, trong khi đó kĩ năng được hình
thành một cách có ý thức do quá trình luyện tập. Thói quen rất khác với kiến
thức, thậm chí có một số người còn nhầm lẫn kiến thức là kĩ năng cứng. Vậy đâu
là khác biệt? Kiến thức là biết, là hiểu nhưng chưa bao giờ làm, thậm chí
18
không bao giờ làm. Trong khi đó kĩ năng lại là hành động thuần thục trên nền
tảng kiến thức. Nhiều học giả cho rằng chỉ có kiến thức suông thì chưa mạnh sử
dụng kiến thức mới là sức mạnh. Nói cách khác kĩ năng chính là sức mạnh.
Có nhiều cách phân loại kĩ năng. Nếu xét theo tổng quan thì kĩ năng
phân ra làm 3 loại: kĩ năng chuyên môn, kĩ năng sống và kĩ năng làm việc. Nếu
xét theo liên đới chuyên môn có kĩ năng cứng, kĩ năng mềm và kĩ năng hỗn hợp.
Theo tính hữu ích cộng đồng có kĩ năng hữu ích và phản lợi ích xã hội. Cần nói
thêm rằng kĩ năng mềm hay kĩ năng sống cũng chỉ là một nhóm kĩ năng với tên gọi
khác nhau đều là những nhóm kĩ năng thiết yếu giúp cho chủ thể tồn tại và thăng
hoa trong cuộc sống.
Ghi nhớ: quá trình nhận thức của con người trải qua hai giai đoạn cảm
tính và lí tính.Trong nhận thức sự kiện, muốn đánh giá được sự kiện phải trải qua
giai đoạn nhận thức cảm tính, tức là HS phải ghi nhớ sự kiện, hiện tượng lịch sử.
Trong cuốn "Từ điển từ và ngữ" ghi nhớ được hiểu chính là "sự ghi nhận, tái
hiện và nhận thức lại của bộ não với những gì đã trải qua. Ghi nhớ là sự nhận
thức và ghi nhận lại những đặc điểm của sự vật, hiện tượng và mối liên hệ giữa
chúng, cơ sở sinh học của quá trình này là mối liên hệ thần kinh tạm thời dưới
dưới hình thức là tự làm sống lại mối liên hệ tạm thời đó bằng nhận thức và
lưu giữ để tích lũy tri thức và kinh nghiệm. Bản thân sự tái hiện và nhận thức
có tác dụng khôi phục tri thức và kinh nghiệm trong quá khứ. Sự nhanh, chậm,
độ chuẩn xác, bền vững và linh hoạt trong ghi nhớ ở mỗi người khác nhau tùy
theo mục đích, nhiệm vụ ghi nhớ, do phương pháp và thái độ trong quá trình
không liên quan gì tới nhau. Biểu hiện của hình thức ghi nhớ máy móc của học
sinh là học vẹt, ghi nhớ máy móc sẽ trở thành thói quen của học sinh nếu thầycô giáo thường xuyên đòi hỏi HS phải trả lời nguyên vẹn như trong sách. Ví dụ
như ghi nhớ định nghĩa, định luật, bài thơ, thuật nhớ là học thuộc lòng.
Ghi nhớ ý nghĩa là loại ghi nhớ dựa trên sự thống nhất nội dung của tài
liệu, dựa trên sự nhận thức những mối liên hệ lô gic giữa các bộ phận của tài
liệu đó. Tức là ghi nhớ tài liệu trên cơ sở hiểu bản chất của nó, gắn quá trình ghi
nhớ với quá trình tư duy và tưởng tượng nhằm nắm lấy bản chất của tài
20
liệu. Do vậy, người ta gọi ghi nhớ ý nghĩa là ghi nhớ lôgic. Điển hình của loại
ghi nhớ này trong học tập của HS là phương pháp ghi nhớ theo điểm tựa. Ghi
nhớ ý nghĩa là loại ghi nhớ chủ yếu trong học tập của HS, nó đảm bảo cho sự
lĩnh hội tri thức một cách sâu sắc, bền vững. Loại hình ghi nhớ này tốn ít thời gian
nhưng lại tiêu hao năng lượng thần kinh nhiều hơn.
Quá trình ghi nhớ được tạo nên bởi các khâu không thể thiếu là ghi nhận,
lưu giữ và nhớ lại.
Ghi nhận là quá trình nhận biết và ghi lại những đặc điểm sự vật và mối
liên hệ giữa chúng, từ đó tích lũy tri thức và kinh nghiệm. Ghi nhớ được xuất
phát từ ghi nhận, ghi nhận là tiền đề cho lưu giữ và nhớ lại.
Lưu giữ là quá trình lưu lại những nội dung đã ghi nhận vào não bộ dưới
các hình thức nhất định. Lưu giữ là khâu trung gian của ghi nhớ, nếu không có
lưu giữ thì không có quá trình nhớ lại.
Nhớ lại là sự khôi phục lại những gì đã xảy ra trong quá khứ, là quá trình
sử dụng, ứng dụng thông tin lưu giữ trong bộ não. Nhớ lại có hai dạng là tái
hiện và nhận thức lại. Hai giai đoạn này có sự khác nhau đặc biệt cơ bản về
bản chất nhưng chúng đều thuộc phạm trù nhớ lại và quá trình sử dụng những tri
thức kinh nghiệm lưu giữ trong bộ nhớ.
Tiêu chí để đánh giá mức độ ghi nhớ bao gồm:
đơn giản nào cũng bao gồm vô số những sự kiện khác nhỏ hơn mà các nhà sử
học không hề biết. Quan niệm trên cho thấy, sự kiện lịch sử do trí óc tạo nên,
hay nói cách khác sự kiện là sản phẩm của trí tuệ mang tính chủ quan, còn hiện
thực lịch sử trở thành "thế giới không sờ mó được, nó được khôi phục bằng tư
duy và tồn tại trong ý thức ta" [38-tr123-124].
Tác giả C. Hucow khi nghiên cứu về khái niệm "sử học" lại cho rằng bản
thân lịch sử được xem như một quá trình vận động trong không gian và thời
gian nhưng không có sự kiện. Theo ông "sự kiện chỉ được nêu ra trong quá trình
nghiên cứu" sự kiện sinh ra là do ý thức chủ quan của của nhà sử học.
Còn tác giả R. Aragông đứng trên quan điểm duy lí để xem xét sự kiện
lịch sử như những cấu tạo chủ quan về nội dung của người nghiên cứu. Nó ra
đời từ ý thức của sử gia và là kết quả của tư duy khái niệm "các khái niệm
22
không tồn tại cho nó mà thông qua ý thức và cho ý thức". Ông cho rằng sử gia
chỉ nhận thức một trận đánh trong ý tưởng về nó chứ không nhìn thấy trận
đánh xảy ra trong hiện thực lịch sử. Như vậy R. Aragông có quan niệm khác
với các sử gia tư sản khác ở chỗ "lịch sử nghiên cứu khách thể không phải là cái
đã qua rồi, không phải là cái đã biến mất mà chỉ là những tồn tại và thay đổi
trong ý thức của chúng ta" [38-tr124].
Quan niệm Mác xít khẳng định sự kiện mà con người nhận thức phải gắn
liền với hiện thực, phản ánh tính hiện thực, có những đặc trưng như tính khách
quan, tính kế thừa, tính không lặp lại. Trong "Hệ tư tưởng Đức",Mác và
Ăngghen lên án các sử gia tư sản chỉ viết " lịch sử của những quan niệm, tách
rời các sự kiện với các quá trình thực tiễn"[38-tr125]. Trong lời nói đầu bộ Tư
bản Mác đã khẳng định, sự kiện là điểm xuất phát, là chỗ dựa của việc nghiên
cứu chứ không phải là ý tưởng, nó là hiện tượng khách quan bên ngoài. Phân
tích, phê phán một sự kiện không phải là so sánh nó với ý tưởng mà là với sự
nó để lại những dấu vết gọi là sự kiện tư liệu như báo chí, hồi kí, phim ảnh,
hiện vật. Từ những nguồn tư liệu đó mà các nhà sử học viết thành sự kiện nhận
thức, đặt tên cho sự kiện này là quốc khánh nước Việt Nam.
Ba dạng tồn tại trên của sự kiện lịch sử có mối quan hệ chặt chẽ với nhau,
không thể tách rời. Nếu thiếu một trong ba dạng ấy thì không còn là sự kiện nữa.
Nếu sự kiện hiện thực mà không có tư liệu thì nó vẫn là ẩn số, ngược lại nếu có
sự kiện nhận thức mà mà không có tư liệu thì đó là sự kiện bịa đặt.
Tóm lại, sự kiện lịch sử là tất cả những gì xảy ra trong xã hội loài người,
được con người nhận thức, ghi chép lại trong các nguồn tư liệu. Sự kiện lịch sử
chính là cơ sở để nhận thức quá khứ, không có sự kiện lịch sử sẽ không có nhận
thức lịch sử. Tuy nhiên, sử học không chỉ dừng lại ở việc liệt kê, miêu tả sự kiện
mà phải đi sâu tìm hiểu bản chất của nó, rút ra những qui luật vận động và tác
động đến nó. Nắm được quy luật lịch sử mới nêu đúng những kết luận khái quát,
rút ra bài học kinh nghiệm có giá trị cho cuộc sống hiện tại và tương lai.
Việc nhận thức các sự kiện lịch sử của HS khác với nhận thức sự kiện lịch
sử của các nhà nghiên cứu. Các nhà sử học nhận thức sự kiện bằng con
24