A. PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÝ DO - MỤC ĐÍCH CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay các quốc gia dân tộc muốn
không tự đánh mất mình thì phải giữ được bản sắc dân tộc, trong đó có
những giá trò truyền thống, như đồng chí Đỗ Mười - Nguyên tổng Bí thư
Ban chấp hành Trung ương Đảng - đã nói: “Một dân tộc trên con đường
phát triển phải luôn luôn gắn với cội nguồn với truyền thống và bản sắc
của mình”. Thế hệ trẻ hiện nay, những người chủ tương lai đất nước,
những người nhạy bén nhất trong việc tiếp thu các tinh hoa văn hoá cảu
nhân loại, lại càng cần gắn bó với cội nguồn, càng cần được bồi đắp tâm
hồn dân tộc để giữ gìn bản sắc và truyền thống dân tộc mình, phát huy đầy
đủ năng lực nội sinh của dân tộc trong sự nghiệp công nghiệp hoá và hiện
đại hoá đất nước. Văn học nói chung, văn học dân gian,truyện dân gian nói
riêng sẽ góp phần tích cực vào việc bồi đắp tâm hồn dân tộc, tạo điều kiện
ươm mần cho những nhân tài của mai sau.
Tuy nhiên, trong bối cảnh của nền kinh tế thò trường năng động,
những mặt trái của nó như: Lối sống thực dụng, tôn sùng vật chất và đồng
tiền hơn cả tình nghóa con người. . . Đang phá vỡ dần những mối quan hệ
tốt đẹp giàu lòng nhân ái trong xã hội chúng ta, làm xói mòn những chuẩn
mực đạo đức truyền thống của dân tộc Việt Nam. Vì vậy một vấn đề cấp
thiết được đặt ra cho toàn xã hội và hơn ai hết đó là những người thầy
giáo, cô giáo trực tiếp giảng dạy trong nhà trường cần phải có một sự đònh
hướng rõ ràng trong việc giáo dục con em ngay từ khi còn ngồi trên ghế
nhà trường. Điều mà chúng tôi muốn đề cập ở đây chính là nền văn học
dân gian, cụ thể hơn nữa là các thể loại truyện dân gian ở bậc Tiểu học –
bậc học đầu tiên và là nền tảng trong ngôi nhà giáo dục.
Hiện nay Việt Nam đang trên đà phát triển trên tất cả mọi lónh vực
từ kinh tế, chính trò, văn hoá, xã hội… từng bước hoà nhập vào xu thế phát
triển chung của thế giới (Sự kiện Việt Nam gia nhập WTO - Tổ chức
Thương mại thế giới là một minh chứng). Để có thể đứng vững được trong
guồng quay đó, điều đầu tiên mà Đảng và nhà nước quan tâm là phải đào
III. PHẠM VI NGHIÊN CỨU :
- Chương trình SGK tiểu học CCGD và SGK tiểu học 2000.
IV. ĐỐI TƯNG NGHIÊN CỨU :
- Truyện dân gian trong SGK Tiểu học mới.
2
B. PHẦN NỘI DUNG
I. TẬP HP TRUYỆN DÂN GIAN TRONG SGK TIỂU HỌC MỚI.
1. Ở khối 1.
Stt Tên truyện Thể loại Tên sách Trang
1 Hổ NN TV1-T1 25
2 Cò đi lò dò NN “ 35
3 Thỏ và sư tử NN “ 45
4 Tre ngà T.thuyết “ 57
5 Khỉ và rùa NN “ 65
6 Cây khế Cổ tích “ 77
7 Sói và cừu NN “ 89
8 Chia phần NN “ 105
9 Quạ và công NN “ 121
10 Đi tìm bạn NN “ 137
11 Chuột nhà và chuột đồng NN “ 153
12 Anh chàng ngốc và con ngỗng
vàng
NN “ 169
13 Ngỗng và tép NN T.Việt1-T.2 17
14 Chú gà trống khôn ngoan NN “ 31
15 Truyện kể mãi không hết Cổ tích “ 43
16 Rùa và thỏ NN “ 54
17 Cô bé trùm khăn đỏ NN “ 63
18 Trí khôn Cổ tích “ 72
19 Sư tử và chuột nhắt NN “ 81
20 Quả tim khỉ NN “ 52
21 Sơn tinh – thuỷ tinh T.thoại “ 62
22 Tôm càng và cá con NN “ 70
23 Cá sấu sợ cá mập Vui cười “ 74
24 Kho báu NN “ 84
25 Cậu bé và cây si già NN “ 96
26 Chuyện quả bầu Cổ tích “ 116
27 Cháy nhà hàng xóm NN “ 139
28 Vẽ sừng cho ngựa Vui cười “ 144
4
3. Ở khối 3
Stt Tên truyện Thể loại Tên sách Trang
1 Cậu bé thông minh Cổ tích TV3-T1 5
2 Lừa và ngựa NN “ 57
3 Đất quý đất yêu Cổ tích “ 86
4 Hũ bạc của người cha “ “ 121
5 Ba điều ước “ “ 136
6 Mồ côi xử kiện “ “ 139
7 Ông tổ nghề thêu T.thuyết Tập 2 22
8 Sự tích lễ hội Chử Đồng Tử “ “ 65
9 Cuộc chạy đua trong rừng NN “ 80
10 Người đi săn và con vượn NN “ 114
11 Cóc kiện trời Cổ tích “ 124
12 Sự tích chú Cuội cung trăng T.thoại “ 132
5
4. Ởû khối 4
Stt Tên truyện Thể loại Tên sách Trang
1 Sự tích hồ Ba Bể T. thoại TV4-T1 8
2 Nàng tiên ốc Cổ tích “ 18
3 Một nhà thơ chân chính Cổ tích “ 40
6 Người đi săn và con vượn NN “ 116
7 Mồ côi xử kiện Cổ tích “ tập 2 19
8 Phân xử tài tình “ “ 46
9 Câu chuyện bó đũa “ “ 83
10 Thuần phục Sư tử “ “ 117
11 Người đi săn và con nai NN “ 107
7
II. NHẬN XÉT CỦA BẢN THÂN
1. NHẬN XÉT CHUNG:
a. Chương trình CCGD :
- Về chương trình: Ở chương trình CCGD, các câu truyện dân gian
chủ yếu được đưa vào dạy học ở một phân môn riêng biệt đó là môn Kể
chuyện. Mỗi năm học có 33 tuần tương đương với 33 tiết kể chuyện với
khoảng 25 -35 câu chuyện đủ các thể loại như truyện dann gian, truyện về
các nhân vật lòch sử
- Về nội dung : Ở các khối 1,2,3 do đặc điểm tâm sinh lý lứa tuổi, tư
duy thấp chủ yếu dựa vào môi trường xung quanh nên người ta thường đưa
vào chương trình chủ yếu các câu truyện cổ tích, ngụ ngôn có nội dung đơn
giản giải thích đặc điểm tự nhiên của loài vật. Ví dụ : Hoa mào gà (truyện
đọc 3); Nước mắt cá sấu (truyện đọc 3); Lời hứa của sâu róm; mượn truyện
của các loài vật để giáo dục con người (Dê con nghe lời mẹ (truyện đọc 1);
Cô chủ không biết quý tình bạn(truyện đọc 3); Gà rừng và hổ (truyện đọc
3); Hai chú gấu tham ăn (truyện đọc 3); Con thỏ mưu trí (truyện đọc 3) ).
chương trình CCGD coi trọng hơn về giáo dục phẩm chất đạo đức cho hs.
Do đó nhiều thể loại truyện được đưa vào với nội dung phong phú, đa
dạng, còn kỹ năng kể chuyện ít được coi trọng hơn. Với độ tuổi lớn hơn
như HS lớp 4,5 các câu truyện dân gian vẫn được đưa vào với số lượng lớn
những nội dung truyện phức tạp hơn. Có nhưng truyện phải thực hiện trong
2-3 tiết (Tấm Cám (truyện đọc 5); Alibaba và 40 tên cướp (truyện đọc 4 );
Cây đèn thần ( truyện đọc 5); Thạch Sanh (truyện đọc 5); Bầy chim thiên
theo việc giáo dục phải thay đổi nội dung, chương trình, SGK.
- Về chương trình: Từ năm 2001 đến nay, Bộ Giáo dục đã thực hiện
xong việc thay chương trình SGK Tiểu học. Chương trình hiện nay ngoài
mục tiêu truyền thụ kiến thức việc rèn luyện kỹ năng trong học tập được coi
trọng nhiều hơn. Vì thế, các văn bản đưa vào chương trình thường mang tính
thực tế, gắn chặt với cuộc sống xung quanh của các em,( Tập đọc thì có
thêm: thời khoá biểu, mẫu báo cáo, đơn từ, bì thư, tin nhắn, còn kể chuyện
thì có kể lại truyện đã nghe hoặc đã đọc, đã chứng kiến hoặc tham gia theo
một chủ đề cụ thể ) phân môn Kể chuyện ở Tiểu học không có SGK riêng,
truyện dân gian đưa vào chương trình ít hơn rất nhiều. Ở các lớp đầu bậc
tiểu học thì số lượng truyện dân gian nhiều hơn và có sự giảm dần ở các lớp
cuối bậc Tiểu học. Sự phân bố này khá hợp lý bởi học sinh lớp 1,2,3 các em
còn nhỏ rất hồn nhiên, ngây thơ và cả tin, tầm hiểu biết còn hạn chế. Việc
tiếp xúc với nhiều truyện dân gian sẽ hình thành cho các em những cảm
quan về thế giới xung quanh bằng trí tưởng tượng của người xưa, các em sẽ
dễ dàng chấp nhận những điều huyền hoặc, thần kỳ trong các câu chuyện cổ
tích, thần thoại… Đến các lớp 4,5 các em đã lớn, việc nhìn nhận vấn đề về
thế giới bên ngoài đã giảm hẳn yếu tố mơ hồ, ngộ nhận mà lúc này có sự
hiểu biết, nhận thức đúng đắn hơn và có cơ sở khoa học hơn. Do đó, việc
giảm số lượng truyện dân gian ở các lớp lớn là hợp lý. Thay vào đó các em
được học thêm về các thể loại khác như : truyện danh nhân, truyện khoa
9
học, truyện “Người tốt, việc tốt”, truyện cảnh giác, truyện ngắn hiện đại …
để trang bò thêm một số tri thức về TN và XH, hiểu biết thêm về một số
hiện tượng khoa học. Từ đó dựa vào khoa học để giải thích các hiện tượng
tự nhiên một cách chính xác không dựa vào lực lượng thần bí như người xưa.
Các lớp 2,3 có tiết Kể chuyện được học kèm Tập đọc (nội dung chung một
văn bản.). Truyện dân gian được bố trí vào cả môn Tập đọc để sau khi học
tập đọc xong kể chuyện chỉ nhằm mục đích rèn kỹ năng kể chuyện cho HS.
Ngoài ra nó còn làm tư liệu để minh hoạ cho các bài học Đạo đức hoặc làm
thoại và truyền thuyết, có sự lựa chọn khá kỹ về nội dung truyện để phù hợp
với tình hình giáo dục hiện nay.
2. NHẬN XÉT CỤ THỂ:
a, Với khối 1:
- Về số lượng : 25 truyện
+ Cổ tích : 5 truyện
+ Ngụ ngôn : 17 truyện
+ Truyền thuyết : 3 truyện
* Nhận xét : Trong Chương trình SGK lớp 1 chủ yếu các câu chuyện
dân gian được tách riêng ở phân môn kể chuyện, nhưng không được trình
bày bằng văn bản mà được trình bày dưới hình thức tranh vẽ theo ý của
từng đoạn trong câu chuyện.
- Truyện dan gian trong SGK Tiếng Việt 1 phần lớn là truyện ngụ
ngôn (một số truyện cổ tích) mượn truyện của loài vật ( những con vật gần
gũi quen thuộc như : gà, vòt, rùa, thỏ, dê, chó, ) để giáo dục trẻ một cách
nhẹ nhàng chủ yếu là khuyên bảo, hướng cho hs học tập theo các tấm
gương tốt như các con vật. Giáo dục hs sớm có thái độ phê phán hoặc nhắc
nhở các em tránh xa cái xấu, cái ác, nhận biết ban đầu về cái xấu, cái ác,
để có ý thức tránh (đại diện cho cái xấu, cái ác có các con vật: sói, sư tử,
hổ, cá sấu…). Truyện truyền thuyết chỉ được đưa vào có 3 truyện nhằm
bước đầu giải thích cho hs biết về nguồn gốc của con người, về tinh thần
đấu tranh của dân tộc và về nguồn gốc Quả dưa hấu phù hợp với tầm nhận
thức non nớt của trẻ em.
b, Với khối 2:
- Về số lượng : 28 truyện
+ Cổ tích : 6 truyện( chủ yếu ở kỳ I)
+ Ngụ ngôn : 12 truyện
+ Truyện cười : 8 truyện.
+ Thần thoại : 2 truyện.
* Nhận xét : Chương trình lớp 2 các truyện dân gian thường là các
yếu, tâm sinh lý lứa tuổi vẫn ham mê các câu truyện mang tính cổ xưa có
yếu tố hoang đường cho nên vẫn dược đưa vào chương trình Tiểu học để
góp phần giáo dục nhân cách cho hs.
d, Với khối 4:
- Về số lượng : 25 truyện (chủ yếu là nêu tên truyện dùng cho
môn Kể chuyện)
+ Cổ tích : 16 truyện
12
+ Ngụ ngôn : 6 truyện
+ Truyền thuyết : 1 truyện.
+ Thần thoại : 2 truyện
* Nhận xét: So với khối 3 thì ở khối 4 số lượng truyện dân gian
nhiều hơn nhưng chỉ là số lượng tên truyện là chính, ít văn bản, hình thức
gợi ý cho hs nhớ lại truyện đã đọc, đã nghe để giáo dục hs rèn luyện kỹ
năng kể chuyện, kỹ năng ghi nhớ của HS về truyện dân gian thông qua các
chủ điểm học tập được xây dựng trong chương trình. Chủ yếu bằng các
hình thức như tranh vẽ theo ý của từng đoạn truyện và gợi ý các câu hỏi để
hs nhớ, không trình bày nguyên văn bản cả câu chuyện. Chỉ có 5 truyện
được đưa vào sử dụng cho môn Tập đọc đó là : Nàng tiên ốc, Điều ước của
vua Mi-đát, Bốn anh tài, Vương quốc vắng nụ cười, Ăn “mầm đá”.
e, Với khối 5:
- Về số lượng : 11 truyện
+ Cổ tích : 7 truyện
+ Ngụ ngôn : 3 truyện
+ Thần thoại : 1 truyện
* Nhận xét : Khác với khối 4, ở khối 5 truyện dân gian được đưa vào
chương trình rất ít, nhưng bằng con đường đó là truyện được đưa vào sử
dụng cho môn Tập đọc, chủ yếu là truyện Cổ tích. Các câu chuyện được
lựa chọn để đưa vào chương trình là những câu chuyện mang tính giáo dục
cao cần sự tư duy nhiều hơn của HS. Giáo dục tình đoàn kết (Câu chuyện
lượng như thế nào?
c. Số truyện dân gian được đưa vào chương trình chủ yếu thuộc loại
truyện nào? Nội dung hướng đến vấn đề gì là chính?
d. Theo anh(chò, bạn) việc đưa truyện dân gian vào chương trình với
số lượng ít hơn, nội dung chọn lọc hơn là nhằm mục đích gì?
2. Phỏng vấn, ghi chép lại ý kiến nhận xét của giáo viên dạy ở Trường
Tiểu học A,C xã Nam Dong, huyện Cư Jút, tỉnh ĐăkNông .
A. Ở khối 1:
* Ý kiến 1: Cô giáo BÙI THỊ THANH – khối trưởng khối1(18 năm
trong nghề - chuyên dạy lớp 1) hiện giảng dạy tại Trường Tiểu học Nam
Dong C- xã Nam Dong, huyện Cư Jút, tỉnh ĐăkNông.
+ Chương trình CCGD có sách truyện đọc (phân môn Kể chuyện
riêng) nên hầu hết các câu chuyện dân gian được phân bố ở phân môn này
và được trình bày dưới dạng văn bản. Chủ yếu truyện ngụ ngôn và truyện
cổ tích.
+ Chương trình mới số lượng truyện dân gian chênh lệch không đáng
kể, nhưng truyện được trình bày dưới hình thức tranh vẽ là chính, không có
văn bản.
+ Nội dung các câu chuyện đơn giản, nhẹ nhàng trong cách giáo dục
phù hợp với đối tượng hs 6 – 7 tuổi.
14
*Ý kiến 2 : Cô giáo LÊ THỊ SEN – khối trưởng khối1( 13 năm trong
nghề) hiện giảng dạy tại Trường Tiểu học Nam Dong A- xã Nam Dong,
huyện Cư Jút, tỉnh ĐăkNông.
+ Truyện dân gian chủ yếu tập trung ở môn Kể chuyện được dạy
1tiết/tuần, thường là truyện cổ tích về các con vật, truyện ngụ ngôn
khuyên bảo trẻ con những điều nên làm một cách nhẹ nhàng, nội dung
truyện ngắn, dễ nhớ, các con vật gần gũi với các em.
+ Ở chương trình mới truyện dân gian chỉ được trình bày dưới dạng
tranh vẽ tóm tắt nội dung truyện.Với cách này HS học nắm chắc bài hơn,
B, Ở khối 2:
* Ýù kiến 1: Cô giáo HỒ THỊ HOÀ – Giáo viên khối2( 17 năm trong
nghề) hiện giảng dạy tại Trường Tiểu học Nam Dong A- xã Nam Dong,
huyện Cư Jút, tỉnh ĐăkNông.
+ Khác ở lớp 1, lớp 2 chương trình mới đưa truyện dân gian vào
không chỉ riêng môn Kể chuyện mà lồng ghép trong môn Tập đọc. Chương
trình sử dụng rất nhiều truyện ngụ ngôn, có một số truyện cười thời mới
cũng được đưa vào trong chương trình môn Tập đọc với nội dung mới, đơn
giản, dí dỏm nhưng mang tính giáo dục rất cao.(Mua kính, Đổi giày, Cá
sấu sợ cá mập, Bán chó, Mít làm thơ).
* Ýù kiến 2 : Thầy giáo NÔNG VĂN TUẤN – Giáo viên khối 2( 10
năm trong nghề ) hiện giảng dạy tại Trường Tiểu học Nam Dong A- xã Nam
Dong, huyện Cư Jút, tỉnh ĐăkNông.
+ Truyện dân gian ở chương trình lớp 2 mới ít hơn chương trình lớp 2
cũ. Chương trình mới truyện dành cho môn Tập đọc có văn bản rõ ràng, ở
môn kể chuyện khong có mẩu chuyện riêng mà HS kể lại truyện đã học ở
Tập đọc. chương trình cũ truyện dân gian chủ yếu tập trung ở phân môn
kể chuyện. Cơ bản người ta đưa vào chương trình là truyện ngụ ngôn, cổ
tích, truyện cười cũng được đưa vào nhiều hơn để tạo niềm vui học tập cho
hs thông qua sự dí dỏm, ngây thơ của các nhân vật trong truyện, qua đó
gián tiếp giáo dục các em một các nhẹ nhàng, tránh sự nhàm chán khi phải
lónh hội nhiều tri thức mang tính thực tiễn, khô khan như : Các vấn đề về
đời sống xã hội, tài nguyên, khoa học có xung quanh các em.
* Ý kiến 3: Cô giáo TRƯƠNG THỊ SỚM – GV khối 2 (14 năm trong
nghề) Trường Tiểu học Nam Dong A – Huyện Cư jút – Tỉnh Đăk Nông.
Mười bốn năm thực tế giảng dạy cấp 2 tôi nhận thấy truyện dân gian
ở chương trình mới hiện nay được đưa vào tương đối nhiều so với các khối
khác, tuy nhiên so với chương trình cũ thì số lượng có ít hơn. Trong chương
trình cũ truyện được trình bày thành văn bản đầy đủ và chỉ phục vụ cho
môn Kể chuyện nên giáo viên dạy có phần khoẻ hơn. Đây chính là nhược
C. Ở khối 3:
* Ý kiến 1: Cô giáo TẠ THỊ NHÂM – Khối trưởng- Giáo viên khối
3 ( 14 năm trong nghề ) hiện giảng dạy tại Trường Tiểu học Nam Dong A-
xã Nam Dong, huyện Cư Jút, tỉnh ĐăkNông.
+ Cũng như lớp 1,2, lớp 3 chương trình cũ truyện dân gian được đưa
vào dưới hình thức (truyện đọc) phục vụ môn Kể chuyện. Trong Tập đọc
không sử dụng truyện dân gian. Còn chương trình mới truyện dân gian
được đưa vào trong việc dạy Tập đọc lồng kể chuyện chủ yếu là truyện Cổ
tích. Các thể loại khác ít hơn, đặc biệt khác với lớp 2, chương trình lớp 3
17
không đưa truyện cười vào chương trình giảng dạy, vấn đề này tôi thấy
chưa hợp lý. Các câu chuyện nội dung chủ yếu hướng vào việc giáo dục
HS biết quý sức lao động, rèn luyện trí thông minh và có lòng nhân đạo,
biết bảo vệ môi trường.
* Ý kiến 2: Cô giáo LÊ THỊ MINH HIỀN – Khối trưởng- Giáo viên
khối 3 (10 năm trong nghề ) hiện giảng dạy tại Trường Tiểu học Nam
Dong C- xã Nam Dong, huyện Cư Jút, tỉnh ĐăkNông.
+ Ở chương trình mới, song song với việc cung cấp kiến thức là
việc rèn kỹ năng : Nghe, nói, đọc, viết cho HS do đó người ta đưa vào
chương trình SGK mới ít truyện dân gian hơn. Các câu truyện cũng được
chọn lựa để phù hợp với nội dung của từng chủ điểm.(Ví dụ: Chủ điểm
”Bầu trời và mặt đất” người ta đưa truyện tiêu biểu là : truyện “Cóc
kiện trời”, “Sự tích chú Cuội cung trăng”; Chủ điểm “Anh em một nhà”
người ta chọn truyện “Hũ bạc của người cha”; Chủ điểm “Cộng đồng”
chọn truyện “Lừa và Ngựa” )
* Ý kiến 3: Cô giáo TỐNG THỊ DIỆU – GV khối 3 (10 năm trong
nghề) Trường Tiểu học Nam Dong A – huyện Cư jút – tỉnh Đăk Nông.
+ Khác với khối 2, ở khối 3 truyện dân gian được đưa vào chương
trình số lượng ít hơn, đặc biệt không có truyện vui cười. Truyện chủ yếu là
cổ tích nhưng không phải nhằm giải thích nguồn gốc của sự vật loài vật
chuyện (Truyện đọc4) không theo chủ điểm. Chương trình mới lồng vào cả
Tập đọc xếp theo từng chủ điểm học tập, phù hợp nội dung của từng chủ
điểm đòi hỏi HS phải tư duy nhiều hơn, đồng thời có tranh ảnh minh hoạ
học sinh nhớ bài chắc hơn.
* Ý kiến 3: Cô giáo LẠI THỊ MINH LIỄU - Khối trưởng- Giáo viên
khối 4 (8 năm trong nghề ) hiện giảng dạy tại Trường Tiểu học Nam Dong
C- xã Nam Dong, huyện Cư Jút, tỉnh ĐăkNông.
+ Đồng ý với nhận xét của thầy Lâm.
+ Bổ sung : Ở chương trình lớp 4 truyện dân gian chủ yếu là truyện
cổ tích, truyện ngụ ngôn, thần thoại, truyền thuyết có đưa vào nhưng ít
hơn. Đặc biệt không có truyện cười. Nội dung truyện phù hợp với từng chủ
điểm nên được sắp xếp theo chủ điểm, phần lớn truyện dân gian chỉ được
giới thiệu tên truyện để hs tìm hiểu nội dung theo chủ điểm. Điều này
chứng tỏ tuy truyện dân gian được đưa vào chương trình học không nhiều
nhưng bắt buộc giáo viên và hs không thể bỏ qua thể loại truyện này mà
phải dành thời gian để đọc, để tham khảo ngoài chương trình SGK mà Bộ
Giáo dục đã ban hành để thực hiện trong giảng dạy.
E. Ở khối 5:
* Ý kiến 1: Cô giáo NGUYỄN THỊ THU HÀ - Khối trưởng- Giáo viên
khối 5 (20 năm trong nghề) hiện giảng dạy tại Trường Tiểu học A
NamDong, huyện Cư Jút , tỉnh Đăk Nông
So với các khối khác, chương trình lớp 5 truyện dân gian được đưa
vào rất ít. Do đặc điểm tam sinh lý lứa tuổi của học sinh lớp 5 đã phát triển
19
hơn các lớp khác. Đồng thời nục tiêu của nhà giáo dục là HS hoàn thành
chương trình tiểu học phải có vôn kiến thức sơ giản nhưng khá đầy đủ về
VH,XH,TN,KH-KT…để HS có thể vận dụng kiến thức đã học vào cuộc
sống thực tế mà không còn bỡ ngỡ trước yêu cầu phát triển của xã hội. Vì
thế các vấn đề mang tính thiết thực cho cuộc sống được đưa vào nhiều hơn
trong chương trình dẫn đến truyện dân gian được đưa vào chương trình ít
lượng truyện vui cười, giảm số lượng truyện thần thoại, truyền thuyết.
Hình thức trình bày phong phú hơn, có truyện trình bày dứơi dạng văn bản
(phục vụ cho môn Tập đọc) có dạng trình bày dưới dạng tranh vẽ (phục vụ
cho Kể chuyện), có dạng chỉ nêu tên truyện buộc giáo viên và học sinh
phải tham khảo tài liệu ngoài và tư duy nhiều hơn (trong môn kể chuyện
của lớp 4 - 5). Cách sắp xếp truyện dựa theo chủ điểm học tập đồng thời
có cả ở môn Tập đọc, Kể chuyện, Tập làm văn, Luyện từ và câu, Chính tả.
Còn chương trình CCGD truyện dân gian chủ yếu có trong môn Kể
chuyện, một số ít truyện có trong Tập đọc. Chương trình càng lên cuối cấp
số lượng truyện dân gian càng giảm nhất là hai thể loại truyện thần thoại
và truyền thuyết (chương trình chỉ đưa vào những truyện thật tiêu biểu và
có giá trò nghệ thuật đặc sắc). Điều đó tỷ lệ nghòch với sự phát triển về
tâm sinh lý lứa tuổi và trình độ, nhận thức, khả năng tư duy của học sinh.
- Hai là: Mặc dù các thể loại truyện dân gian đều được đưa vào
chương trình nhưng tỷ lệ nhiều ít khác nhau. Các khối 1,2,3 truyện cổ tích,
ngụ ngôn, truyện cười được đưa vào nhiều hơn so với truyện thần thoại và
truyền thuyết. Các khối 1,3,4,5 thể loại truyện cười không được đưa vào
chương trình.Thiết nghó truyện vui cười cũng mang tính giáo dục rất cao nó
vừa mang tiếng cười vui dí dỏm tạo sự hứng khởi cho học sinh trong học
tập kết hợp với giáo dục học sinh thông qua truyện cười là rất tốt nhưng
chương trình chỉ biên soạn cho duy nhất khối 3 với số lượng khá nhiều còn
các khối khác không đề cập đến theo tôi là chưa hợp lý. Nên đưa thể loại
21
truyện cười vào các khối cân bằng về số lượng sẽ hợp lý hơn. Truyện Thần
thoại và truyền thuyết rất iùt chủ yếu là cổ tích và ngụ ngôn.
- Ba là: Truyện dân gian là một bộ phận của văn học dân gian, ở nhà
trường phổ thông nó có một ý nghóa rất thiết thực trong hoạt động dạy và
học của giáo viên và học sinh. thể loại nào, tác phẩm cụ thể nào cũng
thấm đượm tinh thần “răn dạy”, cũng mang ý nghóa giáo dục sâu sắc, là
những bài học kinh nghiệm trong cuộc sống của cha ông từ xa xưa truyền
những hiểu biết, trí tuệ, tri thức, kinh nghiệm của nhân loại. Chính vì thế
22
mặc dù số lượng truyện dân gian đựơc đưa vào chương trình SGK tiểu học
có phần giảm nhưng thiết nghó những câu truyện mang tính chất giáo dục
giúp học sinh rèn luyện phẩm chất đạo đức, tăng thêm vốn sống thì lúc
nào, thời đòa nào cũng cần phải có nhất là ở lứa tuổi tiểu học và cần phải
có trong chương trình SGK ở Tiểu học.
Trên đây là kết quả nghiên cứu đề tài của tôi, do thời gian nghiên
cứu không được nhiều, trình độ nghiên cứu còn hạn chế, điều kiện học tập
đi lại khó khăn, tài liệu thu thập không đầy đủ lại trong thời gian nghỉ hè
việc tiếp cận với giáo viên tương đối khó nên kết quả nghiên cứu có thể
chưa thật đầy đủ, chi tiết. Tuy vậy tôi cảm thấy khi nghiên cứu đề tài này
tôi đã có được những hiểu thêm về truyện dân gian được sử dụng trong
SGK Tiểu học mới và vai trò của nó trong giáo dục ở các bậc học phổ
thông nói chung, tiểu học nói riêng, để từ đó có được những phương pháp
dạy học phù hợp nâng cao chất lượng giảng dạy trong nhà trường. Rất
mong qúy thầy cô, các bạn tham khảo và góp ý thêm để những đề tài sau
tôi nghiên cứu được tốt hơn. Cuối cùng tôi xin chân thành cám ơn!
Đăk Lăk, ngày 30 tháng 07 năm 2007
Người viết
Nguyễn Thò Ngọc Hà
23
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. SGK chương trình CCGD từ khối 1 đến khối 5 (sách Tiếng Việt và
truyện đọc)
2. SGK chương trình mới từ khối 1 đến khối 5 (sách Tiếng Việt )
3. Văn học dân gian- nhà xuất bản Đà Nẵng (trung tâm đào tạo từ xa
ĐH Huế)
4. Giáo trình văn học dân gian – tài liệu của trường ĐH Quy Nhơn
5. Tài liệu bồi dưỡng cho gv học thay SGK từ lớp 1 đến lớp 5