Rèn kỹ năng giải toán điển hình ở lớp 4 - Pdf 26

1
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO GIÁ RAI
TRƯỜNG TIỂU HỌC HỘ PHÒNG C

MỘT SỐ KINH NGHIỆM
RÈN KỸ NĂNG GIẢI TOÁN ĐIỂN HÌNH
Ở LỚP 4
Họ và tên người thực hiện: ĐỖ THANH THUÝ
Chức vụ: Giáo viên chủ nhiệm lớp 4
Hộ Phòng, ngày12 tháng 05 năm 2014
PHẦN THỨ NHẤT: ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong chương trình toán ở tiểu học, việc giải các bài toán chiếm một vị trí
rất quan trọng. Được thể hiện qua các khái niệm toán học, các quy tắc toán học đều
được giảng dạy thông qua giải toán. Việc giải toán giúp học sinh củng cố vận dụng
các kiến thức, rèn luyện kĩ năng tính toán . Đồng thời qua việc giải toán cho học
sinh mà giáo viên có thể dễ dàng phát hiện những mặt mạnh, mặt yếu của từng em
về kiến thức, kĩ năng và tư duy để từ đó giúp học sinh phát huy được tính chủ động
sáng tạo trong học tập.
Hướng dẫn học sinh tìm ra lời giải đúng và hay là rất khó. Đại đa số giáo
viên chỉ hướng dẫn học sinh giải các bài toán trong sách giáo khoa, ít khi đề cập
đến các bài toán khác trong các tài liệu tham khảo. Chính vì thế việc rèn kĩ năng
giải toán điển hình còn có phần hạn chế. Để dạy tốt các dạng toán này điều trước
tiên mỗi giáo viên phải thực sự yêu nghề mến trẻ, thực sự quan tâm đến học sinh từ
đó phải đầu tư nghiên cứu đề ra những biện pháp cụ thể cho từng tiết dạy. Từ
những điều này tôi thấy việc cần phải rèn kĩ năng giải toán điển hình cho học sinh
là quan trọng. Song bản thân tôi không có tham vọng lớn mà chỉ cố gắng nghiên
cứu tìm tòi nhằm đáp ứng được phần nào trong việc đổi mới và nâng cao chất
lượng dạy học. Vì lẽ đó năm học 2013-2014 này tôi đã chọn nội dung “ Rèn kỹ
năng giải toán điển hình ở lớp 4” để nghiên cứu và áp dụng vào công tác giảng dạy
của mình.
PHẦN THỨ HAI: NỘI DUNG

Cho học sinh giải các bài toán có tính chất chuẩn bị cơ sở việc giải loại toán
sắp học. Các bài toán có tích chất chuẩn bị này nên có số liệu không lớn lắm để
học sinh có thể tính miệng được dễ dàng nhằm tạo điều kiện cho các em tập trung
suy nghĩ váo các mối quan hệ toán học và các từ mới chứa trong đầu bài toán.
VD1: Để chuẩn bị cho việc học loại toán “Tìm số trung bình cộng” có thể
cho học giải bài toán đơn sau: “Anh Hải điều khiển máy xay lúa. Trong 8 giờ anh
xay được 72 tạ lúa. Hỏi trung bình mỗi giờ anh xay được mấy tạ thóc?”.
VD2: Để chuẩn bị cho việc học loại toán “ Tìm hai số biết tổng và tỉ số của
chúng”. Có thể cho học sinh giải bài toán sau: “ Mẹ có 30 cái kẹo, chia thành 3 gói
bằng nhau. Mẹ cho chị 1 gói, cho em 2 gói. Hỏi chị được mấy cái kẹo?”
b) Bước 2:
3
Cho học sinh phân tích và giải bài mẫu về loại toán điển hình đó. Những bài
toán được chọn làm mẫu này nên có số liệu không lớn quá và có dạng tiêu biểu
nhất chứa dựng tất cả những đặc điểm chung của loại toán điển hình cần học để
học sinh có thể tập trung chú ý được vào khâu nhận dạng loại toán và rút ra được
cách giải tổng quát.
VD3: Dạy phần bài mới của tiết: “Bài toán tìm 2 số biết tổng và hiệu của
chúng”- lớp 4.
* Giáo viên đọc đề toán “ Mẹ cho hai anh em tất cả 10 cái kẹo, em được
nhiều hơn anh 2 cái. Hỏi số kẹo của anh và số kẹo của em?”
* Tổ chức làm việc trên đồ dùng học tập.
- Mỗi học sinh lấy 10 nắp bia ( tượng trưng cho 10 cái kẹo ) khoanh phần
trên mặt bàn thành 2 vòng: vòng lớn chứa số kẹo của em, vòng nhỏ chứa số kẹo
của anh.
- Em được nhiều hơn anh 2 cái kẹo. Vậy ta lấy 2 cái kẹo cho em trước rồi
chia đôi phần còn lại. Hãy lấy 2 cái kẹo cho em trước (học sinh đặt 2 nắp bia vào
vòng lớn).
+ “Còn lại mấy cái kẹo?” (10 - 2 = 8 cái)
+ Bây giờ chia đều cho 2 anh em. Mỗi phần được mấy cái? (8 : 2 = 4 cái).

Hai lần số bé là: 10 - 2 = 8
tổng hiệu
Số bé là; 8 : 2 = 4
(Tổng - hiệu): 2
Số lớn là: 4 + 2 = 6
số bé hiệu
Vậy tìm số bé ta làm như thế nào?(giáo viên ghi)

Muốn tìm tiếp số lớn ta làm thế nào?(giáo viên ghi)

Vài học sinh nhắc lại
5
Số bé = (tổng - hiệu) : 2
Số lớn = Số bé + hiệu
10
*Làm tương tự để hướng dẫn cách giải thứ 2.
- Bước3: Học sinh giải 1 số bài toán tương tự với bài mẫu song thay đổi
“văn cảnh” và số liệu để học sinh có khả năng nhận dạng loại toán và giải bài toán.
- Bước 4: Cho học sinh giải các bài toán phức tạp dần.
Chẳng hạn bài toán có thêm câu hỏi hay có câu hỏi khác với câu hỏi bài mẫu
để sau khi giải như bài mẫu học sinh phải làm thêm 1, 2 phép tính nữa mới ra đáp
số.
Thay đổi dữ liệu để học sinh phải giải trước những bước trung gian rồi mới
áp dụng được cách giải như bài mẫu.
- Bước 5: Cho giải xen kẽ 1, 2 bài toán thuộc loại khác đã học nhưng có
dạng na ná tương tự loại toán đang học (tương tự về nội dung, về cách nêu dữ liệu
hoặc về một bước giải nào đó ) để tránh cách suy nghĩ máy móc, dập khuôn.
- Bước 6: Cho học sinh tự lập đề toán thuộc loại toán điển hình đang học.
*Rèn kỹ năng cho học sinh sau khi đã biết cách giải.
Cụ thể: các loại bài rèn KN dạng toán “Tìm 2 số khi biết tổng và hiệu của 2

Vậy chiều dài hơn chiều rộng là 200m
Nửa chu vi là:
480 : 2 = 240 (m)
Chiều rộng vườn trường là:
(240 - 200): 2 = 20 (m)
Chiều dài vườn trường là:
200 + 20 = 220 (m)
Diện tích HCN là:
220 x 20 = 4400 (m
2
)
ĐS: 4400 m
2
*Một số điểm cần lưu ý:
- Khắc sâu kiến thức đã học, ôn lại kiến thức cũ. Gọi học sinh nhắc lại công
thức tính diện tích HCN.
- Học sinh tính nửa chu vi HCN để tính tổng chiều dài và chiều rộng.
- Khi viết thêm chữ số 2 vào 1 số có 2 chữ số thì có ý nghĩa gì?
Biện pháp khắc phục:
- Gọi học sinh nêu công thức tính chu vi, diện tích HCN.
P = (a + b) x 2 = > Nửa chu vi: 480 : 2
S hcn = a x b
7
- Đưa bài toán về dạng cơ bản.
+ Biết nửa chu vi có nghĩa là biết gì? (tổng dài + rộng).
+ Viết thêm 2 vào chiều rộng được chiều dài nghĩa là gì? (chiều dài hơn
chiều rộng 200 đơn vị).
+ Đây là bài toán ở dạng nào? (tìm 2 số khi biết tổng và hiệu).
2. Giải bài toán có nhiều cách giải.
* Ví dụ:

bố sinh con năm bố 29 tuổi. Hỏi tuổi của bố và con.
VD2: Cả 2 lớp 4A, 4B trồng được 485 cây. lớp 4A trồng được ít hơn lớp 4B
là 45 cây. Lớp 4C trồng được nhiều hơn 4D là 2 cây. Hỏi lớp 4A, 4B trồng được
bao nhiêu cây?
Để ý ta thấy đầu bài hỏi gì về lớp 4C, 4D không?(không). Vậy ta có cần tìm
2 lớp đó không?(không). Vậy đó là dữ kiện thừa.
4. Giải bài toán trong đó phải xét đến khả năng xảy ra của bài toán để
chọn 1 khả năng thỏa mãn bài toán.
Ví dụ:
Bài toán: Cho ab + ba = 132
a - b = 4
Tìm ab ?
Giải
Điều kiện: a, b ≠ 0, a ≥ 5
Nếu a = 5 ; b = 1 = > 51 + 15 = 66 (loại)
b = 6 ; b = 2 = > 62 + 26 = 88 (lọai)
a = 7 ; b = 3 = > 73 + 37 = 110 (loại)
a = 8 ; b = 4 = > 84 + 48 = 132 (được)
a = 9 ; b = 5 = > 95 + 59 = 154 (loại)
Lưu ý: Học sinh chưa tìm ra điều kiện của bài toán.
Khắc sâu cho học sinh
Biện pháp khắc phục
Để tìm ra điều kiện ta thử chọn 1 số trường hợp
a = 0 thì 0b + b0; a - b = 4 (sai)
9
a = 4 thì b ≠ 0 ta có a - b = 4 (sai)
5. Lập và biến đổi bài toán
a) Đăt câu hỏi cho bài toán mới chỉ biết số liệu hoặc điều kiện của bài toán.
Ví dụ:
Bài toán: Hai đội làm đường cùng đắp chung 1 quãng đường dài 800m. Đội

d) Lập bài toán tương tự với bài toán đã giải.
e) Lập đề toán ngược với đề toán đã giải.
g) Lập bài toán theo cách giải sẵn.
PHẦN THỨ BA:KẾT LUẬN
I. KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC:
Lớp Tổng số
học sinh
Khá giỏi Trung bình Yếu kém
Số HS % Số HS % Số HS %
4A1 25/13 18 72,0 7 28,0
Trên đây là bảng kết quả được tính dựa trên kết quả của bài kiểm tra viết của
học sinh. Sau khi dạy xong các dạng toán cơ bản giáo viên cho học sinh làm bài
kiểm tra với một thời gian phù hợp và được tính toán trước. Tôi thấy:
Với việc dạy theo đề tài nghiên cứu thấy rằng kết quả đạt cao hơn cách dạy
thông thường. Do việc chú ý khắc sâu trọng tâm của bài dạy rồi mỗi loại bài rồi
đưa ra các tình huống khác nhau để học sinh làm quen sử dụng và thành thạo rèn
cho mình có được kỹ năng giải toán cho từng loại.
Trong hoạt động dạy học, người giáo viên đóng vai trò chủ đạo tác động sư
phạm lên hoạt động nhận thức của học sinh. Để thực hiện tốt hoạt động dạy của
mình người giáo viên cần sử dụng tốt các phương pháp dạy học nhằm truyền thụ trí
thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh. Đối với hoạt động của học sinh,
chúng ta thấy học sinh không chỉ là đối tượng tác động sư phạm của người giáo
viên mà còn là chủ thể của hoạt động nhận thức. Người học sinh chủ động tiếp thu
tri thức, rèn kỹ năng kỹ xảo mà giáo viên truyền thụ cho. Chính vì vậy, trong học
tập không ai có thể thay thế người khác chỉ khi chủ thể chủ động nhận thức thì hoạt
động của giáo viên mới có hiệu quả và hoạt động học tập mới có ý nghĩa.
II. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ.
1. Đối với giáo viên.
Điều cần thiết và không thể coi nhẹ là giáo viên phải dạy tốt lý thuyết, từ đó
mới phát triển được các tư duy suy luận cho học sinh. Để rèn luyện kỹ năng giải


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status