1
PHÒNG GIÁO DỤC ho»ng hãa
TRƯỜNG TIỂU HỌC Ho»ng phô
- - - - - - - o0o - - - - - - -
SÁNG KIẾN
Năm học 2009-2010
MỘT SỐ KINH NGHIỆM
RÈN KỸ NĂNG GIẢI TOÁN ĐIỂN HÌNH
Ở LỚP 4
HỌ VÀ TÊN: phïng thÞ th¬m
CHỨC VỤ: Giáo viên PT lớp 4
ĐƠN VỊ : Trường tiểu học Ho»ng phô
Ho»ng phô, THÁNG 05 NĂM 2010
PHẦN THỨ NHẤT
ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong chương trình toán ở tiểu học, việc giải các bài toán chiếm một vị trí
rất quan trọng. Được thể hiện qua các khái niệm toán học, các quy tắc toán học đều
được giảng dạy thông qua giải toán. Việc giải toán giúp học sinh củng cố vận dụng
các kiến thức, rèn luyện kĩ năng tính toán . Đồng thời qua việc giải toán cho học
sinh mà giáo viên có thể dễ dàng phát hiện những mặt mạnh, mặt yếu của từng em
về kiến thức, kĩ năng và tư duy để từ đó giúp học sinh phát huy được tính chủ động
sáng tạo trong học tập.
Hướng dẫn học sinh tìm ra lời giải đúng và hay là rất khó. Đại đa số giáo
viên chỉ hướng dẫn học sinh giải các bài toán trong sách giáo khoa, ít khi đề cập
đến các bài toán khác trong các tài liệu tham khảo. Chính vì thế việc rèn kĩ năng
giải toán điển hình còn có phần hạn chế. Để dạy tốt các dạng toán này điều trước
tiên mỗi giáo viên phải thực sự yêu nghề mến trẻ, thực sự quan tâm đến học sinh từ
đó phải đầu tư nghiên cứu đề ra những biện pháp cụ thể cho từng tiết dạy. Từ
những điều này tôi thấy việc cần phải rèn kĩ năng giải toán điển hình cho học sinh
là quan trọng. Song bản thân tôi không có tham vọng lớn mà chỉ cố gắng nghiên
cứu tìm tòi nhằm đáp ứng được phần nào trong việc đổi mới và nâng cao chất
khuyến khích tinh thần học tập của các em cao hơn.
II.THỰC TRẠNG :
1. Đối với giáo viên:
3
Trong quá trình dạy học có thể nói người giáo viên còn chưa có sự chú ý
đúng mức tới việc làm thế nào để đối tượng học sinh nắm vững được lượng kiến
thức, đặc biệt là các bài toán điển hình. Nguyên nhân là do giáo viên phải dạy
nhiều môn, thời gian dành để nghiên cứu, tìm tòi những phương pháp dạy học phù
hợp với đối tượng học sinh trong lớp còn hạn chế. Do vậy, chưa lôi cuốn được sự
tập trung chú ý nghe giảng của học sinh. Bên cạnh đó nhận thức về vị trí, tầm quan
trọng của các bài toán điển hình trong môn Toán cũng chưa đầy đủ. Từ đó dẫn đến
tình trạng dạy học chưa trọng tâm, kiến thức còn dàn trải.
2. Đối với học sinh:
Còn nhiều gia đình học sinh chưa thực sự quan tâm tới việc học tập của con
cái. Do điều kiện kinh tế còn khó khăn và trình độ học vấn chưa cao nên chưa chú
ý đến việc học hành của con cái.Đặc biệt chưa nhận thức đúng vai trò của môn
Toán. Học sinh chưa ý thức được nhiệm vụ của mình, chưa chịu khó, tích cực tư
duy suy nghĩ tìm tòi cho mình những phương pháp học đúng để biến tri thức của
thấy thành của mình. Cho lên sau khi học xong bài, các em chưa nắm bắt được
lượng kiến thức thầy giảng rất nhanh quên và kĩ năng tính toán chưa nhanh. Nhất
là đối với kỹ năng giải toán điển hình
Số liệu điều tra học lực đầu năm:
Lớp Tổng số
Khá giỏi Trung bình yếu
SL % SL % SL %
4A 29 8 27,6 16 55,2 5 17,2
4B 29 9 31,0 16 55,2 4 13,8
III. KINH NGHIỆM RÈN KỸ NĂNG GIẢI TOÁN ĐIỂN HÌNH.
1. Xác định các bước giải toán điển hình:
a) Bước 1:
Học sinh bỏ vòng, mỗi vòng 4 nắp bia.
- Vậy anh được mấy cái kẹo? (4 cái).
- Còn em được mấy cái kẹo? (2 + 4 = 6 cái)
*Giáo viên hướng dẫn nhận dạng trên sơ đồ tóm tắt.
5
- Bài toán yêu cầu tìm 2 số: trong này có 1 số lớn (số kẹo của em) và 1 số bé
(số kẹo của anh). Ta biểu thị số lớn bằng một đoạn thẳng dài, số bé bằng một đoạn
ngắn hơn.
Số lớn:
Số bé:
- Bài toán cho biết gì? ( có tất cả 10 cái kẹo, em được nhiều hơn anh 2 cái).
- Đúng vậy: Có tất 10 cái kẹo, nghĩa là tổng của 2 số là 10. Em được nhiều
hơn 2 cái nghĩa là hiệu của 2 số đó là 2 (giáo viên vẽ tiếp vào tóm tắt để có)
2
Giáo viên nêu: ta có bài toán tìm 2 số biết tổng của chúng là 10, hiệu của
chúng là 2.
*Hướng dẫn học sinh giải trên sơ đồ.
Giáo viên lấy thước che “đoạn 2” đi rồi hỏi: Nếu bớt 2 ở số lớn thì 2 số như
thế nào?( bằng nhau).
- Vậy 2 lần số bé là bao nhiêu? (10 - 2 = 8).
- Tìm số bé bằng cách nào? (8 : 2 = 4).
- Tìm số lớn bằng cách nào? (4 + 2 = 6).
Giáo viên lần lượt ghi từng phần bài giải lên bảng làm mẫu cho học sinh.
*Hướng dẫn rút ra quy tắc giải.
Cách giải này gồm mấy bước: (3 bước).
- Bước 1: Tìm 2 lần số bé bằng cách lấy tổng trừ hiệu.
- Bước 2: Tìm số bé bằng cách chia đôi kết quả trên.
- Bước 3: Tìm số lớn bằng cách lấy số bé + số hiệu
Song song với việc hướng dẫn giáo viên có thể ghi thêm vào lời giải như
sau.
cho và số phải tìm:
7
Số bé = (tổng - hiệ
u) :
2
Số lớn = Số bé + hiệu
Bài toán 1: Tuổi của chị và tuổi của em cộng lại được 32 tuổi. Em kém chị 8
tuổi. Hỏi em bao nhiêu tuổi, chị bao nhiêu tuổi?
Tóm tắt:
Tuổi em:
?
Tuổi chị:
8 tuổi
Bài giải: Hai lần tuổi em là
32 - 8 = 24 (tuổi).
Tuổi em là:
24 : 2 = 12 (tuổi)
Tuổi chị là:
12 + 8 = 20 (tuổi)
ĐS: Chị 20 tuổi, em 12 tuổi.
Bài toán 2: Một vườn trường HCN có chu vi 480m. Tính diện tích của vườn.
Biết rằng nếu viết thêm chữ số 2 vào trước số đo chiều rộng thì được số đo chiều
dài.
Tóm tắt:
Chiều rộng:
Chiều dài:
Bài giải: Số đo chiều rộng phải là số có 2 chữ số và nếu có 1 chữ số thì chu
vi của vườn sẽ nhỏ hơn 480m. Nếu có 3 chữ số thì chu vi lớn hơn 480m.
2. Giải bài toán có nhiều cách giải.
* Ví dụ:
Bài toán: Tìm 2 số chẵn liên tiếp có tổng bằng số chẵn lớn nhất có 2 chữ số.
Giải
Cách 1: Hai lần số bé là
98 - 2 = 96
Số bé là
96 : 2 = 48
Số lớn là
48 + 2 = 50
Cách 2: Hai lần số lớn là
98 + 2 = 100
Số lớn là
9
100 : 2 = 50
Số bé là
50 - 2 = 48
Cách 3: Trung bình cộng của 2 số là
98 : 2 = 49
Số chẵn lớn là
49 + 1 = 50
Số chẵn bé là
49 - 1 = 48
ĐS: 48 và 50
3.Tiếp xúc với các bài toán thừa dữ kiện, thiếu dữ kiện hoặc điều kiện
của bài toán.
VD1: Tuổi của 2 bố con là 50 tuổi. Hỏi tuổi bố và tuổi con.
Bài toán này có giải được không?(không)
Vì sao?(vì chỉ biết tổng số tuổi)
Muốn giải được bài toán này thì ta cần thêm yếu tố gì?(hiệu giữa tuổi bố và
Ví dụ:
Bài toán: Hai đội làm đường cùng đắp chung 1 quãng đường dài 800m. Đội
thứ nhất đắp được ít hơn đội thứ 2 là 136m. Hỏi cả 2 đội đắp được bao nhiêu m
đường? Hỏi mỗi đội đào được bao nhiêu m?
b) Đặt điều kiện cho bài toán.
Bài toán: Tổng của 1 số có 2 chữ số và viết số theo thứ tự ngược lại
bằng . * 7* . Tìm số đó biết hiệu giữa hàng chục và hàng đơn vị là 2.
Hướng dẫn học sinh tìm ra điều kiện.
Gọi 2 số phải tìm là ab viết ngược lại ba theo bài ra ta có:
ab + ba = *7*
a - b = 2 nếu a = 0 = > b = 0 ta có
00 + 00 = *7*
a - b = 2 (sai)
Do đó điều kiện của bài là: a
≠ 0; b
≠ 0; a ≥ 1.
Giải
11
Hằng trăm của tổng phải bằng 1, hàng đơn vị và hàng chục đều có a + b mà
tổng có chữ số nên a + b = 17 - 1 = 16 . Mà theo đầu bài: a - b = 2, do đó ta có.
a = (16 + 2) : 2 = 9
b = 16 - 9 = 7
ĐS: 97
c) Chọn số hoặc số đo đại lượng còn thiếu của bài toán.
Bài toán: Một cửa hàng bán được 215m vải hoa và trắng. Sau đó cửa hàng
bán thêm 37m vải hoa và trắng. Như vậy cửa hàng đã bán vải hoa nhiều hơn vải
trắng. Hỏi cửa hàng bán đã bán được bao nhiêu m vải hoa, bao nhiêu m vải trắng.
Tổng số m vải hoa và vải trắng của cửa hàng đã bán được bao nhiêu?
nào thì quá trình đó vẫn mang quy luật thống nhất giữa hoạt động dạy và học. Luân
phản ánh mối quan hệ tất yếu, chủ yếu và bền vững giữa 2 nhân tố đặc trưng của
quá trình dạy học.
Trong công tác giảng dạy, vai trò của người thầy rất quan trọng. Người giáo
viên chủ yếu cung cấp cho học sinh một cách đầy đủ chính xác, có hệ thống kiến
thức. Ngoài ra, còn thường xuyên rèn luyện cho các em những kỹ năng cần thiết
giúp các em có phương pháp vận dụng kiến thức đã học vào việc giải các bài tập
liên hệ với thực tiễn.
II. KẾT LUẬN CHUNG.
Trong hoạt động dạy học, người giáo viên đóng vai trò chủ đạo tác động sư
phạm lên hoạt động nhận thức của học sinh. Để thực hiện tốt hoạt động dạy của
mình người giáo viên cần sử dụng tốt các phương pháp dạy học nhằm truyền thụ trí
thức, hình thành kỹ năng, kỹ xảo cho học sinh. Đối với hoạt động của học sinh,
chúng ta thấy học sinh không chỉ là đối tượng tác động sư phạm của người giáo
viên mà còn là chủ thể của hoạt động nhận thức. Người học sinh chủ động tiếp thu
tri thức, rèn kỹ năng kỹ xảo mà giáo viên truyền thụ cho. Chính vì vậy, trong học
tập không ai có thể thay thế người khác chỉ khi chủ thể chủ động nhận thức thì hoạt
động của giáo viên mới có hiệu quả và hoạt động học tập mới có ý nghĩa.
III. ĐỀ XUẤT, KIẾN NGHỊ.
1. Đối với giáo viên.
Điều cần thiết và không thể coi nhẹ là giáo viên phải dạy tốt lý thuyểt, từ đó
mới phât triển được các tư duy suyb luận cho học sinh. Để rèn luyện kỹ năng giải
toán cho học sinh thì trong quá trình giảng dạy học giải toán lên kết hợp và lựa
chọn các phương pháp dạy tốt. khi dạy học sinh lớp 4 giải toán, điển hình với mỗi
loại toán giáo viên không chỉ giúp học sinh giải đúng bài tập trong sách giáo khoa
13
mà cần rèn khả năng giải loại toán đó, đặt ra các tình huống để các em suy nghĩ,
tìm tòi cách giải khác nhau.
2. Đối với học sinh.
Học sinh phải tự giác tích cực tiếp thu kiến thức nhằm trang bị cho mình