Website: Email : Tel : 0918.775.368
Lời mở đầu
1. Lý do lựa chọn đề tài
Hệ thống tổ chức tín dụng luôn đóng vai trò to lớn đối với nền kinh tế, đặc
biệt là trong hoàn cảnh hiện nay khi Việt Nam đang xây dựng công nghiệp hóa -
hiện đại hóa và tham gia ngày càng sâu vào quá trình hội nhập kinh tế quốc tế. Xu
thế khu vực hóa, toàn cầu hóa với nhiều cạnh tranh gay gắt đang đặt ra cho các tổ
chức tín dụng những cơ hội và không ít thách thức đòi hỏi phải đổi mới đa dạng
hóa và hoàn thiện các loại hình nghiệp vụ kinh doanh ngân hàng. Là một trong
những hoạt động tín dụng truyền thống, nghiệp vụ bảo lãnh bắt đầu đợc sử dụng
rộng rãi trên thế giới từ cuối những năm 70 của thế kỷ trớc đóng vai trò quan trọng
trong giao dịch kinh tế toàn cầu nhất là trong lĩnh vực kinh doanh xuất nhập khẩu
và thơng mại quốc tế. ở nớc ta, bảo lãnh ngân hàng xuất hiện từ thập kỷ 80 và đợc
đề cập đến trong các văn bản pháp luật nhng còn mang tính chất nh là một công cụ
hỗ trợ do Ngân hàng Nhà nớc thực hiện nhằm giúp các doanh nghiệp quốc doanh
vay vốn nớc ngoài để phát triển sản xuất kinh doanh. Trong vài năm gần đây, bảo
lãnh ngân hàng thật sự là biện pháp bảo đảm nghĩa vụ thông dụng trong lĩnh vực
dịch vụ ngân hàng do hiệu quả bảo đảm cao cho quyền lợi của ngời thụ hởng.
Thời gian qua, hoạt động bảo lãnh của hệ thống tổ chức tín dụng Việt Nam
đã đạt đợc nhiều kết quả đáng kể góp phần tích cực vào sự thành công của các
giao dịch kinh tế khẳng định chỗ đứng của nó trong nền kinh tế thị trờng. Tuy
nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt đợc, hoạt động này cũng đang gặp phải
không ít những khó khăn bất cập do nhiều nguyên nhân khác nhau trong đó phải
kể đến là sự điều chỉnh của pháp luật. Chính vì vậy, việc không ngừng nâng cao
pháp luật về nghiệp vụ bảo lãnh ngân hàng tại Việt Nam là một trong những yêu
cầu cấp thiết hiện nay. Làm thế nào để hoàn thiện pháp luật về bảo lãnh ngân hàng
thật sự là đề tài rất đáng đợc quan tâm.
Với những lý do trên nên em đã mạnh dạn chọn đề tài Pháp luật về bảo
lãnh ngân hàng ở Việt Nam làm đề tài nghiên cứu luận văn tốt nghiệp của mình.
2. Mục đích của đề tài
1
Bảo lãnh ngân hàng về nguyên tắc là một trong những hoạt động thể hiện rõ
nét bản chất của bảo lãnh trong dân sự nói chung. Vì vậy để hiểu về bảo lãnh ngân
hàng, trớc hết ta phải hiểu thế nào là bảo lãnh:
1.1. Khái niệm bảo lãnh
Bảo lãnh là một biện pháp bảo đảm truyền thống, sớm đợc sử dụng rộng rãi,
do đó nó đợc quy định trong nhiều văn bản luật khác nhau, điển hình nh:
Trong luật La Mã: bảo lãnh đợc hiểu là hợp đồng, theo đó bên thứ ba với
mục đích bảo đảm quyền lợi của bên có quyền đã cam kết thực hiện thay nghĩa vụ
của bên có nghĩa vụ khi bên này không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ
nghĩa vụ của mình. Trách nhiệm của bên thứ ba là trách nhiệm bổ sung với trách
nhiệm của bên có nghĩa vụ và nó chỉ tồn tại khi nghĩa vụ nó đảm bảo tồn tại trên
thực tế.
Trong pháp luật Hoa Kỳ: bảo lãnh chính là sự thỏa thuận, theo đó ngời bảo
lãnh chấp thuận sẽ thực hiện nghĩa vụ nợ của bên nợ chỉ khi bên nợ không trả nợ,
là việc bên bảo lãnh bảo đảm hoặc hứa thực hiện nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ
trong trờng hợp bên có nghĩa vụ không thực hiện.
Khái niệm về bảo lãnh cũng đợc quy định rõ trong bộ luật dân sự 2005 của nớc ta:
Bảo lãnh là việc ngời thứ ba (sau đây gọi là bên bảo lãnh) cam kết với bên
có quyền (sau đây gọi là bên nhận bảo lãnh) sẽ thực hiện thay cho bên có nghĩa vụ
(sau đây đợc gọi là bên đợc bảo lãnh) khi đến thời hạn mà bên bảo lãnh không
thực hiện hoặc không thực đúng nghĩa vụ. Các bên cũng có thể thỏa thuận về việc
bên bảo lãnh chỉ phải thực hiện nghĩa vụ khi bên đợc bảo lãnh không có khả năng
thực hiện nghĩa vụ của mình. (Điều 361)
Qua một số khái niệm trên ta có thể hiểu bảo lãnh là một hợp đồng hình
thành dựa trên sự thỏa thuận về ý chí giữa bên bảo lãnh và bên nhận bảo lãnh chứ
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
không phải là hành vi cam kết đơn phơng của bên bảo lãnh . Về nguyên tắc, trong
quan hệ bảo lãnh luôn có sự tham gia của ba loại chủ thể là bên đợc bảo lãnh, bên
bảo lãnh, bên nhận bảo lãnh nhng việc tham gia ký kết của bên đợc bảo lãnh
thực hiện.
Hiện nay pháp luật của nhiều nớc trên thế giới và pháp luật Việt Nam đều thừa
nhận quan điểm thứ hai, điều này đợc thể hiện rõ qua một số quy định cụ thể nh:
Theo công ớc Liên hợp quốc về Bảo lãnh độc lập và Tín dụng dự phòng
(Công ớc UNCITRAL) Bảo lãnh hay cam kết là lời hứa độc lập, đợc biết trong
thực tiễn quốc tế nh là một bảo lãnh độc lập hoặc tín dụng th dự phòng do ngân
hàng hoặc tổ chức hay cá nhân (ngời bảo lãnh /ngời phát hành) thanh toán cho.
Trong các quy tắc thống nhất về bảo lãnh theo yêu cầu (URDG-ICC458)
của Phòng thơng mại quốc tế ICC quy định Bảo lãnh độc lập là bất cứ bảo lãnh,
cam kết hay cam kết thanh toán, dù đợc gọi hay miêu tả nh thế nào, của ngân
hàng, công ty bảo hiểm hay pháp nhân hoặc thể nhân bằng văn bản thanh toán một
số tiền khi đợc xuất trình theo đúng quy định của cam kết, bản đòi tiền và các
chứng từ khác
Luật thơng mại Hoa Kỳ quy định một cách gián tiếp về bảo lãnh ngân hàng
thông qua vai trò của ngời bảo lãnh: nghĩa vụ của ngời phát hành tín dụng th hoặc
bảo lãnh độc lập là sẽ thanh toán chứng từ xuất trình theo đúng tiêu chuẩn tiến
hành.
Theo bộ luật dân sự của Liên bang Nga: bảo lãnh ngân hàng đợc hiểu là
biên pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ theo đó ngân hàng, hoặc tổ chức tín dụng,
công ty bảo hiểm theo yêu cầu của bên có nghĩa vụ trả một khoản tiền nhất định
cho bên có quyền khi bên này yêu cầu.
Trong pháp luật Việt Nam, khái niệm về bảo lãnh ngân hàng đợc quy định
rõ tại khoản 1 điều 2 Quy chế bảo lãnh ngân hàng ban hành kèm theo Quyết định
số 26/2006/QĐ-NHNN ngày 26 tháng 6 năm 2006 của Thống đốc Ngân hàng Nhà
nớc nh sau:
Bảo lãnh ngân hàng là cam kết bằng văn bản của tổ chức tín dụng (bên bảo
lãnh) về việc thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng (bên đợc bảo lãnh )
khi khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết
với bên nhận bảo lãnh. Khách hàng phải nhận nợ và hoàn trả cho tổ chức tín dụng
số tiền đã đợc trả thay.
bản th bảo lãnh, yêu cầu trả tiền va tuyên bố vi phạm. Đây chính là một trong
những đc điểm góp phần làm cho bảo lãnh ngân hàng thật sự là một biện pháp
6
Website: Email : Tel : 0918.775.368
bảo đảm chắc chắn cho quyền lợi của các bên tham gia đặc biệt là quyền lợi của
ngời thụ hởng.
1.3. Chức năng của bảo lãnh ngân hàng
Với những đặc tính nổi trội và sự u việt vốn có, công dụng của bảo lãnh
ngân hàng đợc thể hiện qua ba chức năng chính sau:
Chức năng đảm bảo, hạn chế rủi ro: có thể khẳng định đây là chức năng
quan trọng nhất của bảo lãnh ngân hàng trong việc đảm bảo chắc chắn cho quyền
lợi của ngời thụ hởng sẽ luôn nhận đợc khoản bồi thờng do hành vi vi phạm của
ngời có nghĩa vụ gây ra. Tuy là mục đích chính của việc xác lập bảo lãnh, nhng
trên thực tế khả năng xảy ra nghĩa vụ bồi hoàn của bên bảo lãnh là rất nhỏ, đơn cử
nh theo thống kê của những nhà ngân hàng Mỹ thì chỉ có 1% trên tổng số các bảo
lãnh đợc phát hành ở Mỹ bị ngời thụ hởng yêu cầu thanh toán. Do đó bảo lãnh đợc
sử dụng nh một công cụ bảo đảm chứ không phải là một công cụ thanh toán.
Chức năng tài trợ: Trong một số trờng hợp đặc biệt đòi hỏi bên tiến hành
phải thực hiện công vic trong thời gian dài, với số vốn đầu t lớn điều này đồng
nghĩa với nguy cơ xảy ra rủi ro là rất lớn và khả năng thu hồi vốn chậm. Để đảm
bảo nhu cầu tài chính họ sẽ tìm đến các ngân hàng yêu cầu đứng ra bảo lãnh vay
vốn cho mình. Hay để tránh rủi ro do phía đối tác mang lại, họ tìm cách thơng l-
ợng với phía đối tác tạm ứng trớc một khoản tiền từ hợp đồng với điều kiện có bảo
lãnh từ phía ngân hàng của mình. Nh vậy dù không trực tiếp cho vay vốn nhng
việc chấp nhận bảo lãnh cho khách hàng chính là một phơng thức tài trợ gián tiếp
của ngân hàng cho khách hàng.
Chức năng đốc thúc hoàn thành hợp đồng: Trong thời hạn bảo lãnh, một
mặt khách hàng luôn phải chịu sự kiểm tra giám sát của bên bảo lãnh, mặt khác
luôn phải chịu áp lực của việc bồi hoàn bảo lãnh trong trờng hợp họ vi phạm và đã
đợc bên bảo lãnh đứng ra thực hiện thay nghĩa vụ. Do đó, bằng khả năng đòi tiền
tài trợ, bảo lãnh đã phần nào đáp ứng nhu cầu vốn cao để mở rộng sản xuất kinh
doanh, ứng dụng khoa học kĩ thuật tiến bộ vào quá trình sản xuất. Bên cạnh đó,
việc sử dụng một phần phí bảo lãnh thu đợc đã góp phần không nhỏ vào việc thực
hiện các chơng trình quốc gia và vực dậy một số ngành kinh tế hiệu quả thấp. Nh
vậy, bảo lãnh ngân hàng đơc sử dụng nh một công cụ điều hòa nền kinh tế.
1.5. Rủi ro trong hoạt động bảo lãnh ngân hàng
8
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Tuy là một trong những công cụ đợc sử dụng rộng rãi trong hoạt động kinh
doanh ngân hàng thu hút đợc sự la chọn của khách hàng, nhng cũng giống nh
các hoạt động sinh lời khác trong ngành ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói
chung, bảo lãnh ngân hàng luôn tiềm ẩn những rủi ro khó tránh khỏi xét theo các
góc độ khác nhau, nh:
Rủi ro đối với ngời đợc bảo lãnh: trong giao dịch bảo lãnh ngân hàng đây là
chủ thể có nghĩa vụ chính và trực tiếp đối với ngời thụ hởng nên mọi rủi ro từ phía
ngời đợc bảo lãnh luôn dẫn tới rủi ro của hoạt đông bảo lãnh ngân hàng. Trong
hoạt động sản xuất kinh doanh hàng ngày, doanh nghiệp luôn phải đứng trớc
những rủi ro chủ quan và khách quan bất khả kháng dẫn đến khả năng thực hiện
hợp đồng là rất khó đợc đảm bảo. Do đó để đảm bảo an toàn cho hoạt động bảo
lãnh, một yêu cầu cần đợc đặt ra là trớc khi tìm tới sự bảo lãnh khách hàng phải dự
liệu trớc rủi ro có thể xảy ra, tự đánh giá khả năng thực hiện công việc, tính toán
trớc kết quả thu đợc.
Rủi ro đối với ngời bảo lãnh: khi tiến hành nghiệp vụ bảo lãnh, bên bảo lãnh
có khả năng chịu rủi ro do hai chủ thể còn lại gây ra:
Từ phía ngời đợc bảo lãnh: trong trờng hợp ngời này vi phạm nghĩa vụ với bên có
quyền và đợc bên bảo lãnh thực hiện thay nghĩa vụ sau đó không có khả năng
hoàn trả lại cho bên bảo lãnh số tiền đã đợc trả thay. Nh vậy, họ đã phải gánh chịu
một rủi ro tín dụng rất lớn. Do đó trớc khi quyết định bảo lãnh, bên đợc yêu cầu
cần phải thẩm định kĩ năng lực của khách hàng, phạm vi giới hạn đợc yêu cầu
hoặc đề nghị khách hàng thực hiện một số biện pháp bảo đảm cần thiết.
tác nớc ngoài ngày càng trở nên phong phú, đa dạng về hình thức và quy mô. Do
tính đảm bảo cao cùng với khả năng vợt khỏi biên giới quốc gia, lại đợc điều chỉnh
bởi nhiều Công ớc, Quy tắc pháp luật chung thống nhất nên bảo lãnh ngân hàng đ-
ợc đặt ra nh là một lựa chọn, một yêu cầu tất yếu để phục vụ và thúc đẩy quá trình
phát triển của nền kinh tế.
Trong những năm gần đây,hoạt động bảo lãnh ngân hàng đang diễn ra sôi
động và ồn ào trên nhiều lĩnh vực khác nhau mang lại nhiều tác động tích cực cho
nền kinh tế. Tuy nhiên, bên cạnh đó tình trạng bảo lãnh tràn lan, kém hiệu quả đã
gây ra không ít hậu quả xấu cho hoạt động kinh doanh ngân hàng nói riêng và nền
kinh tế nói chung. Thực tiễn này đặt ra cho nhà nớc cần phải nhanh chóng, kịp
thời ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động bảo lãnh ngân hàng
nhằm phát huy tối đa tác động tích cực mà hoạt động này có thể mang lại.
10
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Thứ hai: xuất phát từ tính rủi ro trong hoạt động bảo lãnh ngân hàng,
nhằm đảm bảo sự an toàn của hệ thống tổ chức tín dụng.
Trong hoạt động kinh doanh ngân hàng, tổ chức tín dụng thực hiện nghiệp
vụ bảo lãnh là các trung gian tài chính, kinh doanh tiền tệ và dịch vụ ngân hàng,
do đó hoạt động bảo lãnh cũng luôn chứa đựng nhiều rủi ro, tổn thất là rất đa
dạng: rủi ro tín dụng, rủi ro chứng từ, rủi ro lãi suất Trong nền kinh tế kế hoạch
hóa tập trung, khi xuất hiện rủi ro Nhà nớc luôn có sự can thiệp kịp thời thông qua
các biện pháp hành chính, do đó rủi ro ít gây ra hậu quả xấu. Từ khi chuyển sang
nền kinh tế thị trờng, thoát khỏi sự bao cấp của nhà nớc đồng thời dới tác động của
các quy luật cạnh tranh thì hàng loạt các hiện tợng nh phá sản, mất khả năng thanh
toán của doanh nghiệp nh là một trong những hệ quả tất yếu khó tránh khỏi đã làm
tăng nguy cơ xảy ra rủi ro cho hoạt động tín dụng nói chung và hoạt động bảo lãnh
ngân hàng nói riêng. Mặt khác do tính đặc thù của hoạt động ngân hàng và khả
năng phản ứng dây chuyền nếu để xảy ra rủi ro trong bảo lãnh thì hậu qủa xấu xảy
ra cho toàn hệ thống tổ chức tín dụng khó có thể lờng trớc. Do vậy, để ngăn ngừa
rủi ro thì sự diều chỉnh của pháp luật luôn là một trong những nhân tố quyết định
bảo lãnh ngân hàng là:
Thứ nhất: đối tợng điều chỉnh của pháp luật bảo lãnh ngân hàng là các
quan hệ xã hội phát sinh trong quá trình tổ chức tín dụng thực hiện hành vi bảo
lãnh.
Theo quy định của pháp luật hiện hành, bảo lãnh ngân hàng là một trong
những hành vi cấp tín dụng của tổ chức tín dụng cho khách hàng thông qua một
giao dịch hợp đồng theo đó tổ chức tín dụng thỏa thuận để khách hàng sử dụng
một số tiền trong một thời hạn nhất định với điều kiện có hoàn trả. Về bản chất,
hành vi bảo lãnh ngân hàng chính là một hành vi pháp lý dân sự đặc biệt do đó
chịu sự điều chỉnh trực tiếp của Bộ luật dân sự và Luật ngân hàng. Khi tổ chức tín
dụng đứng ra thực hiện hoạt động bảo lãnh sẽ làm phát sinh hai mối quan hệ, điều
này đợc thể hiện qua sơ đồ minh họa sau:
Trong đó: (1) là quan hệ dịch vụ ngân hàng giữa tổ chức tín dụng với khách hàng
(2) là quan hệ bảo lãnh giữa tổ chức tín dụng với bên có quyền.
12
Tổ chức tín
dụng
Khách hàng
Bên có quyền
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Vấn đề đặt ra là quan hệ bảo lãnh ngân hàng có phải là quan hệ hợp đồng
hay chỉ là cam kết đơn phơng của bên bảo lãnh? Do đó để xác định rõ tính độc lập
của hành vi bảo lãnh ngân hàng, ta cần phải xem nó đợc quy định nh nào trong
pháp luật hiện hành. Việc thực hiện hành vi bảo lãnh đợc tổ chức tín dụng thực
hiện thông qua cam kết bảo lãnh đợc quy định tại khoản 2 Điều 2 Quy chế bảo
lãnh ngân hàng bao gồm:
a. Th bảo lãnh: là cam kết đơn phơng bằng văn bản của tổ chức tín dụng
về việc tổ chức tín dụng sẽ thực hiện nghĩa vụ tài chính thay cho khách hàng khi
khách hàng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ đã cam kết với
quốc tế đợc thực hiện các loại bảo lãnh mà bên nhận bảo lãnh là các tổ chức và cá
nhân nớc ngoài.
Trớc hết, tổ chức tín dụng là doanh nghiệp đợc thành lập theo Luật các tổ
chức tín dụng và các quy định khác của pháp luật để hoạt động ngân hàng (Điều
20 Luật các tổ chức tín dụng). Nh vậy xét về bản chất, tổ chức tín dụng là một loại
hình doanh nghiệp, nhng nó có những đặc điểm riêng để dựa vào đó phân biệt đợc
với các doanh nghiệp khác, nh:
Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp có đối tợng kinh doanh trực tiếp là tiền tệ.
Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp có hoạt động kinh doanh chính, chủ yếu,
thờng xuyên là hoạt động ngân hàng với nội dung chính là nhận tiền gửi và sử
dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán cho khách
hàng.
Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp chịu sự quản lý nhà nớc trực tiếp của
Ngân hàng Nhà nớc và thuộc phạm vi điều chỉnh của pháp luật ngân hàng.
Về phân loại, căn cứ vào phạm vi thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh, theo
Điều 20 Luật các tổ chức tín dụng thì các tổ chức tín dụng bao gồm:
Tổ chức tín dụng là ngân hàng: đợc thực hiện toàn bộ các hoạt động ngân
hàng và các hoạt động kinh doanh khác có liên quan. Theo tính chất và mục tiêu
hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thơng mại, ngân hàng phát
triển, ngân hàng đầu t, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác và các loại hình
ngân hàng khác.
Tổ chức tín dụng phi ngân hàng: là loại hình tổ chức tín dụng đợc thực hiện
một số loại hình ngân hàng nh là nội dung kinh doanh thờng xuyên nhng không đ-
ợc nhận tiền gửi không kì hạn, không làm dịch vụ thanh toán. Tổ chức tín dụng
14
Website: Email : Tel : 0918.775.368
phi ngân hàng gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín
dụng phi ngân hàng khác.
Tổ chức tín dụng hợp tác: là tổ chức kinh doanh tiền tệ và làm dịch vụ ngân
hàng, do các tổ chức, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập để hoạt động
Ngân hàng Nhà nớc Việt Nam đã ra quyết định số 192/NH-QĐ ban hành Quy chế
bảo lãnh và tái bảo lãnh vay vốn nớc ngoài. Đây có thể đợc coi là văn bản pháp lý
đầu tiên tại Việt Nam điều chỉnh nghiệp vụ bảo lãnh và tái bảo lãnh của các ngân
hàng thơng mại.
Sau một thời gian thực hiện, ngày 30 tháng 08 năm 1993, Chính phủ ban
hành Nghị định số 58/CP ban hành quy chế vay và trả nợ nớc ngoài. Để hớng dẫn
thi hành, Thống đốc Ngân hàng Nhà nớc đã ban hành Quy chế bảo lãnh và tái bảo
lãnh vay vốn nớc ngoài, ban hành kèm theo Quyết định số 23/QĐ-NH14 ngày 21
tháng 02 năm 1994 để thay thế Quyết định 192/NH-QĐ và các văn bản hớng dẫn
thi hành. Quyết định này trên cơ sở kế thừa quy chế cũ và bổ sung một số điểm
nổi bật nh: phân biệt rõ hình thức bảo lãnh Chính phủ với hoạt động bảo lãnh
thông thờng của các ngân hàng thơng mại; quy định về việc lập quỹ bảo lãnh khi
ngân hàng thực hiện bảo lãnh cho khách hàng; phân biệt rõ hơn giữa hoạt động
bảo lãnh và tái bảo lãnh của Ngân hàng Nhà nớc đối với các ngân hàng thơng mại.
Quyết định số 262/QĐ-NH14 ngày 19 tháng 09 năm 1995 của Thống đốc Ngân
hàng Nhà nớc về sửa đổi một số điều của Quyết định trên đã lần đầu quy định mức
bảo lãnh tối đa cho một khách hàng là 10% vốn tự có của tổ chức tín dụng.
Đồng thời, yêu cầu thực tế của các giao dịch kinh tế, thơng mại trong nớc
cũng đặt ra đòi hỏi phải có quy chế bảo lãnh trong nớc để các ngân hàng thơng
mại có cơ sở thực hiện. Đáp ứng điều này, ngày 16 tháng 04 năm 1994, Thống đốc
Ngân hàng Nhà nớc đã ban hành Quy chế về nghiệp vụ bảo lãnh của các ngân
hàng ban hành kèm theo Quyết định số 196/QĐ-NH14. Cùng với quy chế về bảo
lãnh vay vốn nớc ngoài, nó đã tạo ra khung pháp lý tơng đối đầy đủ cho hoạt động
bảo lãnh ngân hàng ở Việt Nam lúc đó. Quy chế này đã quy định khá chi tiết về
bên đợc bảo lãnh, bên bảo lãnh, điều kiện để đợc bảo lãnh, phí bảo lãnh, thẩm
quyền kí bảo lãnh, các loại bảo lãnh, bảo đảm cho bảo lãnh Quyết định số
262/QĐ-NH14 ngày 19 tháng 09 năm 1995 về việc sửa đổi một số điều của Quy
chế này cũng bổ sung quy định mức phí bảo lãnh tối đa đối với một khách hàng
không vợt quá 10% vốn tự có của tổ chức tín dụng.
16
đổi một số quy định liên quan đến thu phí bảo lãnh của tổ chức tín dụng.
17
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Quyết định số 112/2003/QĐ-NHNN ngày 11 tháng 02 năm 2003 về việc
sửa đổi,bổ sung một số điều của Quy chế bảo lãnh ngân hàng ban hành kèm theo
Quyết định số 283/2000/QĐ-NHNN ngày 25 tháng 08 năm 2000.
- Thông t số 02/TT-NHNN14 ngày 16 tháng 04 năm 1999 của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nớc hớng dẫn việc bảo lãnh nộp thuế nhập khẩu đối với hàng tiêu
dùng của tổ chức tín dụng.
Sau một thời gian dài áp dụng trên thực tế, Quy chế bảo lãnh cũ đã bộc lộ
một số hạn chế nhất định không còn phù hợp với yêu cầu đòi hỏi hiện nay. Để
khắc phục khó khăn trên, gần đây nhất ngày 26 tháng 06 năm 2ống đốc Ngân
hàng Nhà nớc Việt Nam đã ra Quyết định số 26/2006/QĐ-NHNN về việc ban
hành Quy chế bảo lãnh ngân hàng thay thế Quyết định số 283/2000/QĐ-NHNN14
và các văn bản hớng dẫn thi hành.
Nh vậy, thông qua các văn bản trên ta cỏ thể thấy việc ban hành pháp luật
điều chỉnh hoạt động bảo lãnh ngân hàng là khá chậm và ít so với tính chất phức
tạp cũng nh đòi hỏi trong thực tiễn áp dụng của hoạt động này. Song bên cạnh đó
việc quy định chi tiết các khía cạnh pháp lý liên quan tới quá trình thực hiện
nghiệp vụ bảo lãnh của tổ chức tín dụng đối với khách hàng ta thấy bảo lãnh đã đ-
ợc luật hoá trong các văn bản cao nhất của ngành ngân hàng.
2.4. Vai trò của pháp luật bảo lãnh ngân hàng
Trong thời gian qua thông qua việc điều chỉnh các quan hệ phát sinh trong
hoạt động bảo lãnh ngân hàng pháp luật về bảo lãnh ngân hàng đã đóng vai trò
khá quan trọng, điều này đợc thể hiện rõ qua một số phơng diện sau:
Thứ nhất: là công cụ pháp lý để Nhà nớc xây dựng, tổ chức, quản lý và duy
trì trật tự cho hoạt động bảo lãnh ngân hàng trong nền kinh tế .
Thông qua việc xây dựng các quy phạm pháp luật quy định về các vấn đề nh : điều
kiện, trình tự, thủ tục cấp, thu hồi giấy phép thành lập và hoạt động bảo lãnh của
tổ chức tín dụng Nhà nớc đã sử dụng pháp luật để quản lý, làm cơ sở nền tảng tạo
thành một trong những nhân tố đòn bẩy tạo đà cho sự phát triển nhanh chóng hệ
thống tổ chức tín dụng trong nền kinh tế.
19