TƯ TƯỞNG MÁC – LÊNIN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ Ý NGHĨA CỦA TƯ TƯỞNG ĐÓ TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY - Pdf 26

HỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
KHOA CHÍNH TRỊ HỌC
  
TIỂU LUẬN
MÔN: CHÍNH TRỊ HỌC NÂNG CAO
Đề tài:
TƯ TƯỞNG MÁC – LÊNIN VỀ NHÀ NƯỚC VÀ Ý NGHĨA
CỦA TƯ TƯỞNG Để TRONG THỜI ĐẠI NGÀY NAY
Đề tài:
KHẢO SÁT VĐỀ BÁO CHÍ VỚI TRẺ EM
Học viên thực hiện: Nguyễn Thị Huyền Trang
Lớp: Cao học QLXH K17

Hà Nội – 2/2012
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chúng ta đang xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của
nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân dưới sự lãnh đạo của Ðảng Cộng sản Việt
Nam. Trong thời kỳ đẩy mạnh CNH, HÐH đất nước, đổi mới, hội nhập kinh
tế quốc tế ngày càng sâu rộng trong điều kiện toàn cầu hóa, việc xây dựng
Nhà nước pháp quyền đặt ra nhiều vấn đề cần có sự vận dụng sáng tạo quan
điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về nhà nước.
Tư tưởng về nhà nước có một vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống
lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, bởi nó không thuần túy là những lý thuyết
khoa học mà gắn bó chặt chẽ với quan điểm chính trị; nó không đơn giản là
những suy tư tinh thần mà gắn liền với những hoạt động thực tiễn sinh động
của các ông. Những tư tưởng ấy chứa đựng nhiều giá trị có ý nghĩa lý luận và
thực tiễn sâu sắc. Chính vì vậy, tìm hiểu những tư tưởng của Mác - Lênin về
nhà nước và vận dụng một cách đúng đắn, sáng tạo, phù hợp với điều kiện
hoàn cảnh Việt Nam hiện nay có ý nghĩa đặc biệt quan trọng, nhất là khi

những điều kiện để cho nhà nước tiêu vong.
3. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu của đề tài là: những tư tưởng cơ bản của chủ nghĩa
Mác - Lênin về vấn đề nhà nước và ý nghĩa của tư tưởng đó trong thời đại
ngày nay.
Để có thể hoàn thành mục tiêu trên, tác giả xác định cần thực hiện
những nhiệm vụ nghiên cứu dưới đây:
Một là, tìm hiểu những nội dung cơ bản trong tư tưởng của chủ nghĩa
Mác - Lênin về nhà nước.
Hai là, làm sáng tỏ những giá trị, ý nghĩa của tư tưởng đó trong thời đại
ngày nay và vận dụng vào xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam.
3
4. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung nghiên cứu những nội dung cơ bản trong tư tưởng của
Mác - Lênin về vấn đề nhà nước (một tư tưởng có vị trí đặc biệt quan trọng
trong hệ thống lí luận của Mác - Lênin).
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Đề tài dựa trên cơ sở lý luận là hệ thống những quan điểm cơ bản của
chủ nghĩa Mác - Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về vấn đề nhà nước.
Phương pháp nghiên cứu: Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật lịch sử và chủ nghĩa duy vật biện chứng, đề tài sử dụng nhiều phương
pháp nghiên cứu khác nhau như: phân tích - tổng hợp, logic - lịch sử… trong
quá trình giải quyết các vấn đề nêu ra.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, tiểu luận
có kết cấu gồm 2 chương và 5 tiết.
4
NỘI DUNG
Chương 1: Tư tưởng Mác - Lênin về nhà nước
1.1. Các học thuyết phi Mác xít về nhà nước

cả mọi người và xã hội văn minh mãi mãi cần có nhà nước.
1.2. Tư tưởng của chủ nghĩa Mác về nhà nước
1.2.1. Nguồn gốc nhà nước
Các nhà kinh điển của Chủ nghĩa Mác đã kế thừa có chọn lọc những
hạt nhân hợp lý của các nhà tư tưởng trước đó, lần đầu tiên đã giải thích đúng
đắn nguồn gốc xuất hiện nhà nước. Dựa trên quan điểm duy vật biện chứng và
duy vật lịch sử đã chứng minh nhà nước không phải là hiện tượng vĩnh cửu,
bất biến. Nhà nước là phạm trù lịch sử, có quá trình phát sinh, phát triển, tiêu
vong. Nhà nước chỉ xuất hiện khi xã hội loài người phát triển đến một giai
đoạn nhất định và sẽ tiêu vong khi những điều kiện khách quan cho sự tồn tại
của nó mất đi. Trong xã hội nguyên thủy, do kinh tế còn thấp kém, chưa có
điều kiện khách quan để dẫn đến sự phân hóa giai cấp nên nhà nước chưa xuất
hiện. Đứng đầu các thị tộc và bộ lạc là những tộc trưởng do nhân dân bầu ra;
việc điều chỉnh các quan hệ xã hội được thực hiện bằng các quy tắc chung
không cần đến các công cụ cưỡng bức đặc biệt.
Sự phát triển của lực lượng sản xuất dẫn đến sự ra đời của chế độ tư
hữu. Đó là cơ sở kinh tế khách quan dẫn đến sự phân chia xã hội thành các
giai cấp đối kháng và cuộc đấu tranh giai cấp không thể điều hòa được xuất
hiện. Để các giai cấp không tiêu diệt lẫn nhau và tiêu diệt luôn cả xã hội thì
một cơ quan quyền lực đặc biệt đã ra đời. Đó là nhà nước do giai cấp năm
quyền thống trị về kinh tế lập ra. Nhà nước đầu tiên trong lịch sử là nhà nước
chiếm hữu nô lệ, sau đó là nhà nước phong kiến, nhà nước tư sản.
6
Theo quan điểm của Lênin, nguyên nhân trực tiếp của sự xuất hiện nhà
nước là mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được; và ngược lại, sự tồn tại của
nhà nước chứng tỏ những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hòa được.
1.2.2. Bản chất nhà nước
Bản chất nhà nước là vấn đề quan trọng của các khoa học xã hội và nó
luôn là nội dung của cuộc đấu tranh tư tưởng gay gắt nhất. Các tư tưởng cổ
đại và tư sản cố tình làm rắc rối thêm vấn đề nhà nước nhằm che giấu bản

bạo lực và cưỡng chế mà còn cần đến sự tác động tư tưởng nữa. Giai cấp thống trị
đã thông qua nhà nước để xây dựng hệ tư tưởng của giai cấp mình thành hệ tư
tưởng thống trị trong xã hội, bắt các giai cấp khác phải lệ thuộc mình về mặt tư
tưởng. Song nhà nước không chỉ có tính giai cấp mà còn có tính xã hội bởi lẽ nhà
nước được sinh ra không chỉ do nhu cầu thống trị giai cấp mà còn do nhu cầu tổ
chức và quản lý xã hội. Một nhà nước sẽ không tồn tại nếu chỉ phục vụ lợi ích của
giai cấp thống trị mà không tính đến lợi ích, nguyện vọng và ý chí của các giai
tầng khác trong xã hội. Bên cạnh đó, nhà nước phải đảm bảo các giá trị xã hội đã
đạt được, bảo đảm xã hội trật tự, ổn định và phát triển, thực hiện chức năng này
hay chức năng khác phù hợp với yêu cầu của xã hội. Điều đó nói lên rằng nhà
nước là một hiện tượng phức tạp và đa dạng, nó vừa mang bản chất giai cấp lại
vừa mang bản chất xã hội.
1.2.3. Dấu hiệu đặc điểm của nhà nước
So với các tổ chức của xã hội thị tộc – bộ lạc và với các tổ chức chính
trị - xã hội khác mà giai cấp thống trị thiết lập và sử dụng để quản lý xã hội,
thì nhà nước cú một số đặc điểm riêng sau đây:
Thứ nhất, nhà nước thiết lập một quyền lực công cộng đặc biệt không
còn hòa nhập với dân cư nữa. Để thực hiện quyền lực và để quản lý xã hội,
nhà nước có một lớp người chỉ chuyên hoặc hầu như chỉ chuyên làm nhiệm
vụ quản lý và cưỡng chế. Họ tham gia vào bộ máy nhà nước để hình thành
nên một hệ thống các cơ quan nhà nước từ trung ương đến cơ sở.
8
Thứ hai, nhà nước phân chia dân cư theo lãnh thổ các đơn vị hành
chính và thực hiện sự quản lý đối với dân cư theo các đơn vị ấy chứ không tập
hợp dân cư theo mụch đích chính kiến huyết thống, nghề nghiệp hoặc giới
tính. Nhà nước thực thi quyền lực chính trị trên phạm vi toàn bộ lãnh thổ. Mỗi
nhà nước có lãnh thổ riêng, trên lãnh thổ ấy lại phân thành các đơn vị hành
chính nhỏ như tỉnh, huyện…
Thứ ba, nhà nước có chủ quyền quốc gia. Chủ quyền quốc gia mang
nội dung chính trị, pháp lý, nó thể hiện quyền độc lập, tự quyết định những

quan điểm ấy đã được hiện thực hóa, trở thành một thực thể sống động trong
thực tiễn đời sống.
Nhất quán với tư tưởng của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, V.I.Lê-nin tiếp tục
khẳng định rằng, nhà nước là một hiện tượng lịch sử, sự tồn tại và tiêu vong của
nó là tùy thuộc vào những điều kiện cụ thể; “nhà nước chỉ là một tổ chức thống
trị của một giai cấp” và “bất cứ nhà nước nào cũng là một bộ máy để một giai
cấp này trấn áp giai cấp khác”.
Đối với V.I.Lê-nin, khái niệm “nhà nước” là để chỉ bộ máy nhà nước
trong xã hội có giai cấp. Ông viết: “đặc trưng của nhà nước là sự tồn tại của một
giai cấp đặc biệt, tập trung quyền lực trong tay. Dĩ nhiên, không ai có thể dựng
hai tiếng nhà nước để gọi một cộng đồng, trong đó tất cả mọi thành viên đều
thay phiên nhau quản lý “tổ chức của trật tự’”. Chính sự tập trung quyền lực
chính trị trong tay một giai cấp đặc biệt là đặc trưng để phân biệt nhà nước với
mọi hình thức tổ chức xã hội khác. V.I.Lê-nin vạch rõ: “Nếu quyền lực chính trị
trong nước nằm trong tay một giai cấp có quyền lợi phù hợp với quyền lợi của
đa số, thì mới có thể thực hiện việc điều khiển công việc quốc gia thực sự theo
đúng nguyện vọng của đa số. Nhưng nếu quyền lực chính trị nằm trong tay một
giai cấp có quyền lợi khác với quyền lợi của đa số, thì việc điều khiển công việc
10
quốc gia theo nguyện vọng của đa số không khỏi trở thành một sự lừa gạt, hoặc
đưa đến chỗ đàn áp đa số ấy”. Ông giải thích:“Quyền chính trị là gì, nếu không
phải là cách diễn đạt, là việc ghi nhận so sánh lực lượng?”. Đây chính là sự phát
triển quan điểm: quyền lực chính trị, theo đúng nghĩa của nó, là bạo lực có tổ
chức của một giai cấp để trấn áp một giai cấp khác của C.Mác và Ph.Ăng-ghen.
Về bản chất giai cấp của nhà nước, V.I.Lê-nin khẳng định: “Nhà nước là
sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được.
Bất cứ đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà, về mặt khách quan, những mâu thuẫn
giai cấp không thể điều hòa được, thì nhà nước xuất hiện. Và ngược lại: sự tồn
tại của nhà nước chứng tỏ rằng những mâu thuẫn giai cấp là không thể điều hòa
được”.

bản lên chủ nghĩa cộng sản, sự trấn áp vẫn còn tất yếu, nhưng nó đã là sự trấn áp
của đa số bị bóc lột đối với thiểu số bóc lột. Cơ quan đặc biệt, bộ máy trấn áp
đặc biệt là “nhà nước” vẫn còn cần thiết, nhưng nó đã là nhà nước quá độ, mà
không còn là nhà nước theo đúng nghĩa của nó nữa” và nhà nước vô sản phải là
một công cụ, một phương tiện; đồng thời, là một biểu hiện tập trung trình độ dân
chủ của nhân dân lao động. Dân chủ trong xã hội xã hội chủ nghĩa chính là nhân
dân tham gia vào mọi công việc của nhà nước. Người viết: “Điều cần thiết
không phải chỉ là cơ quan đại biểu theo kiểu chế độ dân chủ, mà là toàn bộ việc
quản lý nhà nước từ dưới lên phải do bản thân quần chúng tổ chức, quần chúng
thực sự tham gia vào từng bước của cuộc sống và đóng vai trị tích cực trong việc
quản lý”.
V.I.Lê-nin cho rằng, nếu tính giai cấp là bản chất của mọi nhà nước, thì
dân chủ hay chuyên chính cũng chỉ là hai mặt của bản chất đó mà thôi. “Bất cứ
một nhà nước nào cũng đều có nghĩa là dựng bạo lực; nhưng toàn bộ sự khác
nhau là ở chỗ dựng bạo lực đối với những người bị bóc lột hay đối với kẻ đi bóc
lột, ở chỗ có dựng bạo lực đối với giai cấp những người lao động và những
người bị bóc lột không”. Đối với V.I.Lê-nin: “Chuyên chính cách mạng của giai
12
cấp vô sản là một chính quyền do giai cấp vô sản giành được và duy trì bằng bạo
lực đối với giai cấp tư sản ”.
Chuyên chính vô sản không hề đối lập với dân chủ, mà là phần bổ sung, là
hình thức thể hiện của dân chủ. “Chuyên chính vô sản, nghĩa là việc tổ chức đội
tiền phong của những người bị áp bức thành giai cấp thống trị để trấn áp bọn áp
bức, thì không thể giản đơn đóng khung trong việc mở rộng chế độ dân chủ
được. Đồng thời với việc mở rộng rất nhiều chế độ dân chủ - lần đầu tiên biến
thành chế độ dân chủ cho người nghèo, chế độ dân chủ cho nhân dân chứ không
phải cho bọn nhà giàu - chuyên chính vô sản còn thực hành một loạt biện pháp
hạn chế quyền tự do đối với bọn áp bức, bọn bóc lột, bọn tư bản”.
Điều cần quan tâm là, trong xã hội xã hội chủ nghĩa - lực lượng đóng vai
trị thống trị trong xã hội, và vì thế nắm quyền chuyên chính, dân chủ và pháp

Nhà nước không phải là một hiện tượng vĩnh cửu, bất biến càng không
phải là lực lượng siêu nhiên, nhà nước là một phạm trù lịch sử có quá trình
phát sinh, phát triển và tiêu vong. Nó là một lực lượng nảy sinh từ chính đời
sống xã hội, khi mà xã hội đã phát triển tới một giai đoạn nhất định và sẽ mất
đi khi những điều kiên khách quan tồn tại của nó mất đi. Mác – Lênin đã trả
lời một cách khoa học nhà nước là gì, nó xuất hiện như thế nào và trên cơ sở
nào và tại sao trong các thời kì lịch sử khác nhau, nhà nước lại có những hình
thức và vai trò khác nhau. Từ việc chỉ ra nguồn gốc xuất hiện nhà nước, bản
chất giai cấp của nhà nước và tính chất bóc lột, áp bức giia cấp của các nhà
nước chủ nô, phong kiến và tư sản. Chủ nghĩa Mác – Lênin nêu lên quan
điểm về nhà nước kiểu mới – nhà nước của giai cấp vô sản khác về chất so
với các kiểu nhà nước áp bức bóc lột và bác bỏ những quan điểm phản khoa
14
học về vấn đề nhà nước. Họ xem nhà nước là một cái gì thần bí siêu tự nhiên,
bởi các luận điểm ấy gắn liền mật thiết với lợi ích của giai cấp, nó bào chữa cho
sự bóc lột của giai cấp thống trị, bào chữa cho sự tồn tại của chủ nghĩa tư bản.
Đa số họ, khi xem xét sự ra đời của nhà nước đều tách khỏi những điều kiện vật
chất của xã hội, tách rời những nguyên nhân kinh tế và chứng minh rằng nhà
nước là một thiết chế tồn tại tròn xã hội, một lực lượng đứng trên xã hội, đứng
ngoài xã hội để giải quyết tranh chấp, điều hòa mâu thuẫn xã hội, nhằm đảm bảo
sự ổn định và phồn vinh xã hội.
Thứ hai, nhà nước pháp quyền dù là một mô hình nhà nước, một cách thức
tổ chức quyền lực nhà nước, hay một nhà nước mang những tính chất xác định,
thì đã là nhà nước đều mang tính giai cấp - kể cả nhà nước pháp quyền
Đó là một quy định lịch sử. Việc không nhận thấy bản chất giai cấp của
nhà nước pháp quyền là một biểu hiện của nhận thức ấu trĩ, mơ hồ, hay cơ hội
về chính trị. Không thể có một nhà nước siêu giai cấp. Lênin đã chỉ ra rằng:
“Nhà nước là sản phẩm và biểu hiện của những mâu thuẫn giai cấp không thể
điều hòa được. Bất cứ đâu, hễ lúc nào và chừng nào mà, về mặt khách quan,
những mâu thuẫn giai cấp không thể điều hòa được, thì nhà nước xuất hiện.

thủy, khi lực lượng sản xuất còn thấp kém, mọi người trong thị tộc đều làm
chung hưởng chung, họ sống nhờ săn bắt, hỏi lượm. Vì thế năng suất lao động
thấp, trong xã hội chưa xuất hiện chế độ tư hữu tài sản.
Tuy nhiên sự phát triển không ngừng của lực lượng sản xuất, công cụ lao
động, con người cũng phát triển về thể lực và trí tuệ, họ tích lũy được nhiều kinh
nghiệm. Năng suất lao động đã tạo tiền đề làm thay đổi phương thức sản xuất
cộng sản nguyên thủy và đòi hỏi sự phân công lao động xã hội. Sản phẩm lao
động dồi dào, của dư thừa xuất hiện làm phát sinh khả năng chiếm đoạt của cải
dư thừa và chế độ tư hữu hình thành. Chế độ tư hữu được hình thành từ sự tiến
hóa của sự phát triển của chế độ sở hữu tập thể và trong quá trình biến đổi hợp
quy luật của chế độ sở hữu tập thể thành chế độ sở hữu trên cơ sở kinh tế của các
16
giai cấp đối kháng trong thời đại văn minh. Nó hình thành trong quan hệ sản
xuất “con người – thiên nhiên và công cụ lao động”.
Với sự tan rã của chế độ cộng sản nguyên thủy, sở hữu tư nhân xuất
hiện làm nảy sinh hiện tượng bóc lột người. Sở hữu tư nhân là sở hữu kinh tế
của quan hệ xã hội đối với chiếm hữu nô lệ và xã hội phong kiến.
Sang chế độ tư bản chủ nghĩa, chế độ tư hữu cùng với nền kinh tế thị
trường đã đạt tới tỉnh cao. Nền sản xuất của xã hội tư bản đã biến toàn bộ con
người thành hàng hóa, thành một thực thể mất hết tính người cả về tinh thần
lẫn thể xác. Đây chính là tai họa lớn nhất, khủng khiếp nhất mà chế độ tư
hữuu trong xã hội tư bản đưa đến cho con người.
Như vậy, tư tưởng về nhà nước của Mác – Lênin có một giá trị thực
tiễn giúp làm cơ sở lý luận để xóa bỏ chế độ tư hữu. Muốn xóa bỏ tận cùng
những bất bình đẳng trong xã hội thì phải xóa bỏ chế độ tư hữu, xác lập chế
độ công hữu về tư liệu sản xuất.
Ở Việt Nam, sự “xóa bỏ chế độ tư hữu” phải xét tới tính chất của chế
độ tư hữu, tức là phải xem tư nhân trong chế độ tư hữu là người lao động hay
không lao động. Bởi vì, quyền tư hữu của người lao động đối với tư liệu sản
xuất của mình là cơ sở của nền sản xuất nhỏ, mà nền sản xuất nhỏ lại là điều

Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Để thực hiện thành công sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước, một trong những yêu cầu cấp bách đặt ra hiện nay là tiếp tục đổi mới và
hoàn thiện khung pháp lý, tháo gỡ mọi trở ngại về cơ chế, chính sách và thủ
tục hành chính để phát huy tối đa mọi nguồn lực, tạo sức bật mới cho sản
xuất, kinh doanh của mọi thành phần kinh tế với các hình thức sở hữu khác
nhau. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật với chất lượng tốt sẽ tạo ra
môi trường pháp lý bình đẳng, thuận lợi cho mọi thành phần kinh tế tồn tại và
phát triển, đồng thời thực hiện được các chủ trương của Đảng về phát huy nội
lực, tăng nhanh vồn đầu tư trong nước và nước ngoài; nâng mức tăng trưởng
18
kinh tế cao và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân. Mặt khác, hệ thống luật
pháp hoàn chỉnh còn có vai trò bảo đảm phát triển bền vững nền kinh tế thị
trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Pháp luật sẽ hạn chế và tiến tới loại
bỏ các yếu tố tự phát, tuỳ tiện, góp phần ngăn ngừa mặt tiêu cực của kinh tế
thị trường. Bên cạnh đó, trong điều kiện phát triển nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa, mở rộng giao lưu và hợp tác quốc tế, chủ trương xây
dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phù hợp với yêu cầu Nhà nước
quản lý xã hội bằng pháp luật.
2.2.2. Xây dựng bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức Nhà nước
trong sạch, vững mạnh
Bộ máy Nhà nước phải tinh gọn, hoạt động có hiệu quả. Sử dụng mọi
cơ chế chính sách để đào tạo, tuyển chọn đội ngũ cán bộ, công chức, nhất là
cấp chủ chốt, thật sự có đức - tài gánh vác các công việc của Nhà nước. Ðó là
những người biết coi trọng lợi ích quốc gia, lợi ích của nhân dân, không tham
nhũng, lãng phí, quan liêu và tích cực chống tham nhũng, lãng phí, quan liêu.
Xây dựng cơ chế và thực hiện cơ chế miễn nhiệm, từ chức đối với những đại
biểu của nhân dân không làm tròn nhiệm vụ. Văn hóa chính trị trong hoạt
động của bộ máy Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam giai đoạn hiện nay
càng cần được đề cao và thực thi một cách nghiêm túc. Trách nhiệm công

dân tộc và trong công cuộc xây dựng và bảo vệ đất nước, nhân dân Việt Nam
đã thừa nhận vị trí, vai trò lãnh đạo duy nhất của Đảng Cộng sản Việt Nam
đối với Nhà nước và xã hội. Sự lãnh đạo của Đảng được chính thức ghi nhận
trong Hiến pháp.
Sự lãnh đạo đúng đắn của Ðảng Cộng sản Việt Nam là điều kiện tiên
quyết cho thành công của việc xây dựng một Nhà nước pháp quyền Việt Nam
giai đoạn hiện nay. Chính vì vậy, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu
của Ðảng là nhiệm vụ then chốt không chỉ có ý nghĩa đối với bản thân Ðảng
mà còn là quan trọng đối với sự tồn tại hoạt động của Nhà nước pháp quyền.
Vấn đề là phải luôn luôn đổi mới phương thức lãnh đạo của Ðảng đối với Nhà
20
nước để sao cho vừa bảo đảm sự lãnh đạo của Ðảng, vừa phát huy vai trò
quản lý, điều hành của Nhà nước để tập trung mọi quyền lực vào tay nhân
dân. Ðảng vừa không được bao biện nhưng Ðảng không được buông lỏng sự
lãnh đạo đối với hệ thống chính trị, trong đó đặc biệt là đối với Nhà nước.
Trong điều kiện một đảng lãnh đạo Nhà nước và xã hội nhưng chúng ta
có Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận hoạt
động tích cực để đoàn kết rộng rãi và đại diện cho tiếng nói của tất cả các giai
cấp, các tầng lớp trong xã hội.
21
KẾT LUẬN
Với mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước
công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị - xã hội ổn định, dân chủ, kỷ
cương và đồng thuận, Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI đã tiếp tục khẳng
định quyết tâm đẩy mạnh xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN, hoàn thiện
các thể chế nhằm bảo đảm và phát huy các quyền con người, quyền công dân,
chăm lo hạnh phúc, sự phát triển tự do của mỗi người, trong đó, nhân dân

Báo Bắc Ninh, ngày 22/04/2010.
7. Đặng Xuân Kỳ (chủ biên) [2003], Tư tưởng Hồ Chí Minh, Nxb
Chính trị quốc gia, Hà Nội.
8. Đảng Cộng sản Việt Nam [2011]: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn
quốc lần thứ XI, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội.
9. Một số website:
Diendankienthuc.net
Tailieu.vn
23
MỤC LỤC
24


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status