PHÂN TÍCH CÁC YẾU TỐ MÔI TRƯỜNG BÊN NGOÀI
ĐẾN QUÁ TRÍNH XÂY DƯNG CƠ SỞ LƯU TRÚ
Nhóm 1first
HYATT RECENCY DA NANG RESORT AND SPA
I. Môi trường tầm xa:
1. Về kinh tế-xã hội
a, Kinh tế thế giới:
Sau cuộc khủng hoảng tài chính dẫn đến sự suy thoái nền kinh tế toàn cầu
trong năm 2008 - 2009, nền kinh tế thế giới đang trên đà hồi phục và phát triển,
kinh tế nhiều nước trên thế giới tiếp tục đi vào ổn định. Tuy vậy, cho đến giữa
năm 2010, tình hình kinh tế thế giới vẫn diễn ra hết sức phức tạp với những dấu
hiệu tốt xấu đan xen liên tục. Kinh tế Mỹ và Châu Âu dù đang khởi sắc nhưng với
tốc độ chậm hơn dự báo trước đó, trong khi đó Châu Á vẫn tiếp tục là động lực và
đang phục hồi nhanh chóng vượt trội. Có thể nói, quá trình hồi phục của kinh tế
thế giới đã được khẳng định, dù cần nhiều thời gian để khắc phục và vượt qua
những khó khăn, thách thức và tiềm ẩn nhiều rủi ro mới, cản trở quá trình phục hồi
kinh tế, với bốn thách thức lớn :
(1) Nguy cơ suy thoái kép tiếp tục tăng lên do việc xuất hiện dấu hiệu giảm phát
của các nền kinh tế lớn như Mỹ, Nhật và khu vực đồng Euro.
(2) Tình hình tài khoá của nhiều quốc gia, đặc biệt là các quốc gia phát triển đang
ở trong tình trạng thâm hụt nghiêm trọng và hầu như không được cải thiện mặc dù
kinh tế thế giới có xu hướng phục hồi. Nợ công và thâm hụt ngân sách do tác động
của các gói giải cứu nền kinh tế gây bất ổn cho kinh tế vĩ mô của nhiều quốc gia.
(3) Tỉ lệ thất nghiệp cao vẫn đang đe doạ nhiều nền kinh tế trên thế giới, đặc biệt
là các nước phát triển; sức ép lạm phát ở các nước đang phát triển ngày càng gia
tăng… và tác động xã hội của cuộc khủng hoảng vẫn còn tồn tại nhiều nơi.
(4) Phát triển "nóng" ở Trung Quốc đe doạ tiếp tục trầm trọng thêm các bất cân
đối toàn cầu và ảnh hưởng triển vọng phục hồi bền vững.
b, Kinh tế -xã hội Việt Nam:
Việt Nam là nền kinh tế lớn thứ 6 ở Đông Nam Á và lớn thứ 52 trên thế
giới trong các nền kinh tế thành viên của Quỹ Tiền tệ Quốc tế xét theo quy mô
“WTO”.
(4) Các vấn đề tồn tại và thực trạng về kinh tế -xã hội của Việt Nam
Nền kinh tế Việt Nam hoạt động kém hiệu quả. Việt Nam trong thời gian
vừa qua phát triển kinh tế theo chiều rộng. Phát triển kinh tế theo chiều rộng thông
thường đòi hỏi vốn đầu tư cao và dàn trải. Do vậy, hiệu quả vốn đầu tư khó có thể
cao, biểu hiện chỉ số ICOR của Việt Nam mặc dù có được cải thiện nhưng vẫn ở
mức cao so với các nước trong khu vực và thế giới.
Nhu cầu đầu tư lớn dẫn đến tình trạng đầu tư vượt xa khả năng tích lũy của
nền kinh tế, thâm hụt ngân sách luôn ở mức cao. Để bù đắp phần thiếu hụt phải
trông cậy vào đầu tư nước ngoài và vay nợ nước ngoài. Thực tế này đã làm cho nợ
quốc gia và nợ công nước ngoài tăng nhanh trong những năm vừa qua.
Thâm hụt cán cân thương mại, nhập siêu ở mức cao và trở thành căn bệnh kinh
niên của nền kinh tế. Lạm phát cao, nhập siêu lớn là nguyên nhân cơ bản làm mất
giá đồng Việt Nam, suy giảm dự trữ ngoại tệ quốc gia và làm giảm lòng tin của
người dân vào VND, tạo cơ hội cho đầu cơ, găm giữ, buôn lậu, buôn bán trái phép
ngoại tệ và vàng.
Quyền lợi của các nhóm người trong xã hội trỗi dậy, đan xen và ràng buộc
lẫn nhau kìm hãm mọi quá trình cải cách trong nền kinh tế; tham ô, tham nhũng
bóp méo mọi quan hệ của đời sống kinh tế xã hội.
Cơ sở hạ tầng và môi trường đầu tư: Theo Chủ tịch Ngân hàng Phát triển
châu Á ADB, thách thức số 1 của Việt Nam là thiếu hụt hạ tầng cơ sở. Tổng đầu
tư cho cơ sở hạ tầng của Việt Nam trong những năm gần đây giữ ở mức 10%
GDP, cao hơn nhiều so với tiêu chuẩn quốc tế, trong đó các tài trợ từ nguồn vốn
quốc tế chiếm 40% tổng mức đầu tư. Nhưng cơ sở hạ tầng của Việt Nam đang
thiếu và đang trở nên quá tải. Nhất là trong việc phát triển cơ sở hạ tầng trọng yếu,
như các tuyến đường liên tỉnh, cầu… Tình trạng ách tắc giao thông, giá đất cao,
xây dựng cơ sở hạ tầng, đường giao thông đắt đỏ tại các đô thị lớn như Hà Nội và
Tp. HCM là một trong những bước cản lớn cho phát triển của 2 thành phố lớn nhất
nước này. Chừng nào Việt Nam còn chưa cải thiện hạ tầng và cơ sở hậu cần thì
Việt Nam còn tụt hậu.
5-9 8.1 7.3 7.7 106.5 8.4 7.6 8.0 108.7
10-14 10.2 9.2 9.7 106.2 9.0 8.1 8.5 108.5
15-19 10.7 9.7 10.2 105.1 10.6 9.8 10.2 105.3
20-24 8.1 7.8 8.0 98.4 9.3 9.2 9.2 99.0
25-29 7.7 7.7 7.7 94.4 8.9 8.8 8.9 98.4
30-34 7.6 7.6 7.6 95.1 8.0 7.8 7.9 100.8
35-39 8.0 7.9 7.9 96.6 7.7 7.5 7.6 101.3
40-44 7.6 7.4 7.5 97.4 7.0 7.0 7.0 98.9
45-49 6.7 6.9 6.8 93.6 6.3 6.5 6.4 94.9
50-54 5.4 5.9 5.7 86.4 5.0 5.5 5.3 89.3
55-59 3.5 4 3.8 84.6 3.3 3.8 3.6 86.3
60-64 2.2 2.6 2.4 81.4 2.1 2.5 2.3 82.4
65+ 6.0 8.9 7.5 64.9 5.3 7.9 6.6 66.1
Nguồn: TCTK. Điều tra biến động DS-KHHGĐ 2008
Tổng điều tra dân số và nhà ở Việt Nam năm 2009
=> Số lượng lao động trong độ tuổi lao động cao nên tạo nguồn lao động dồi dào.
Chất lượng của nguồn lao động: Nguồn lao động của Việt Nam dồi dào,
trẻ, có trình độ học vấn nhưng thiếu kỹ năng và tay nghề,. Nhiều dự án đầu tư của
Việt Nam không phát huy được những lợi thế này. Chất lượng nguồn nhân lực
thấp trở thành một rào cản phát triển kinh tế. Số người lao động qua đào tạo đang
chiếm một tỷ lệ thấp, chất lượng cũng chưa đáp ứng được những công việc đòi hỏi
kiến thức và kỹ năng. Đào tạo đại học và nghề chưa theo sát với nhu cầu tuyển
dụng của doanh nghiệp. Vì vậy, vấn đề nhân lực là một trở ngại lớn đối với nhiều
doanh nghiệp nước ngoài muốn đầu tư vào Việt Nam.
Phân biệt giàu nghèo tại Việt Nam ngày càng rõ nét, những người có ưu quyền đặc
lợi, cụ thể là các doanh nhân, tư sản, đảng viên…sống vương giả hơn các giai cấp
quí tộc ngày xưa bội phần, trong khi số người nghèo ngày càng tăng, họ không có
công ăn việc làm. Theo báo chí mô tả nay có tới hàng trăm nghìn (100,000) danh
nghiệp phá sản khiến công nhân và nhân viên phải chạy vạy tìm việc, kiếm việc đã
vô cùng khó khăn và cho dù có tìm được việc nhưng đồng lương chỉ đủ ăn
Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng dịch vụ - công nghiệp -
nông nghiệp. Tỷ trọng nhóm ngành dịch vụ trong GDP năm 2009 đạt 50,5%; công
nghiệp - xây dựng đạt 46,5% và nông nghiệp đạt 3%. Cơ cấu lao động chuyển
biến tích cực, đến năm 2010, tỷ lệ lao động nông nghiệp (thủy sản - nông - lâm)
ước còn 9,6%, lao động công nghiệp - xây dựng là 35,1% và dịch vụ 55,3%.
• Công nghiệp: Với vị thế là trung tâm kinh tế của khu vực miền Trung-Tây
Nguyên, Đà Nẵng là nơi hội tụ các công ty lớn của các ngành dệt may, da
giày, nước uống giải khát, điện tử, sản xuất hàng tiêu dùng, công nghiệp
chế biến thủy sản, công nghiệp cơ khí, công nghiệp phần mềm, công nghiệp
sản xuất vật liệu xây dựng Ngành công nghiệp của thành phố Đà Nẵng đạt
tốc độ tăng trưởng bình quân 20%/nămĐến năm 2010, các doanh nghiệp
trong các khu công nghiệp đã có tổng doanh thu 2.609 tỷ đồng và 188 triệu
USD, nộp ngân sách khoảng 365 tỷ đồng, giá trị kim ngạch xuất khẩu tăng
từ 21 triệu USD năm 1998 lên trên 200 triệu USD vào năm 2010, chiếm
trên 30% giá trị kim ngạch xuất khẩu của thành phố. Trên toàn thành phố
Đà Nẵng hiện có hơn 240.000 công nhân đang làm việc trong hơn 10.000
công ty, doanh nghiệp.
• Hạ tầng thương mại: Hạ tầng thương mại của thành phố Đà Nẵng được
đầu tư đồng bộ, hiện đại với 24 Trung tâm thương mại và Siêu thị, 88 chợ
các loại theo hướng văn minh, lịch sự, an toàn. Tổng mức bán lẻ hàng hóa
tăng 21,1%/năm. Đà Nẵng hiện có 2 chợ lớn nhất nằm ở trung tâm thành
phố là chợ Hàn và chợ Cồn; cùng những siêu thị lớn mới mở trong vòng vài
năm trở lại đây như Bài Thơ Plaza, Metro, BigC, Co.opMart, Intimex,
Viettronimex, Đệ Nhất Phan Khang, Đại Dương, Nguyễn Kim Sài Gòn,
Chợ Lớn…Đó là những trung tâm thương mại chủ yếu của Đà Nẵng. Cùng
với hàng loạt chi nhánh, đại lý phân phối cấp 1 của các tập đoàn, công ty
lớn trong và ngoài nước mở ra ở đây, đưa Đà Nẵng trở thành trung tâm
thương mại hàng đầu của khu vực miền Trung - Tây Nguyên.
• Dịch vụ: Tài chính - Ngân hàng:Đà Nẵng hiện là trung tâm tài chính lớn
nhất của khu vực Miền Trung - Tây Nguyên, với 60 chi nhánh cấp 1 của
án du lịch được UBND TP có chủ trương cho phép đầu tư với tổng vốn đầu
tư khoảng 54 nghìn tỷ đồng. Trong đó có 38 dự án trong nước với tổng vốn
đầu tư trên 20.000 tỷ đồng và 17 dự án nước ngoài với tổng vốn gần 2 tỷ
USD, thu hút nhiều tập đoàn lớn như VinaCapital, Indochina Capital,
Vingroup… đầu tư vào các sân golf, khách sạn, resort cao cấp.
2. Về chính trị:
• Chính trị Việt Nam đi theo nguyên mẫu nhà nước xã hội chủ nghĩa đơn
đảng. Một hiến pháp mới được thông qua vào tháng 4 năm 1992, tái khẳng
định vai trò trung tâm của Đảng Cộng sản Việt Nam (trong thời gian 1951-
1976 có tên là Đảng Lao động Việt Nam) trong chính trị và xã hội, phác
thảo việc tái tổ chức chính phủ và tăng cường cải cách thị trường trong nền
kinh tế. Dù Việt Nam là một quốc gia đơn đảng, việc đi theo đường lối tư
tưởng chính thống của Đảng đã giảm bớt phần quan trọng và ưu tiên so với
mục tiêu phát triển kinh tế.
• Các tổ chức chính trị - xã hội và đoàn thể: Những tổ chức đại diện cho lợi
ích của các cộng đồng xã hội khác nhau tham gia vào hệ thống chính trị
theo tôn chỉ, mục đích, tính chất của từng tổ chức.
• Ở Việt Nam hiện có 6 tổ chức chính trị-xã hội gồm: Mặt trận Tổ quốc Việt
Nam, Công đoàn, Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, Đoàn Thanh niên cộng
sản Hồ Chí Minh, Hội Cựu chiến binh, Hội Nông dân. Đứng đầu các tổ
chức này đều là các Đảng viên Cộng sản và các tổ chức chịu sự chi phối
của Đảng Cộng sản.
• Các khu vực hành chính: Việt Nam được chia thành 58 tỉnh và 5 thành phố
trực thuộc trung ương: Hà Nội, Hải Phòng, Đà Nẵng, Hồ Chí Minh, Cần
Thơ.
• Các tổ chức quốc tế có tham gia: Việt Nam là thành viên của Liên hiệp
quốc, Hiệp hội các nước sử dụng tiếng Pháp, ASEAN và APEC. Năm 2005
Việt Nam tham gia khai trương Hội nghị thượng đỉnh Đông Á, với mục
đích để thay thế ASEAN trong tương lai. Việt Nam được phép gia nhập Tổ
chức Thương mại Thế giới (WTO) vào ngày 07 tháng 11 năm 2006. Ngoài
Bàng đến những ảnh hưởng từ bên ngoài trong trong hàng nghìn năm nay. Với
những ảnh hưởng từ xa xưa của Trung Quốcvà Đông Nam Á đến những ảnh
hưởng của Pháp từ thế kỷ 19, phương Tây trong thế kỷ 20 và toàn cầu hóa từ thế
kỷ 21. Việt Nam đã có những thay đổi về văn hóa theo các thời kỳ lịch sử, có
những khía cạnh mất đi nhưng cũng có những khía cạnh văn hóa khác bổ sung vào
nền văn hóa Việt Nam hiện đại.
II. Môi trường hoạt động của doanh nghiệp
Hiện tại, Đà Nẵng khoảng 145 khách sạn với tổng cộng khoảng 4.383
phòng, trong đó có 5 khách sạn 5 sao, 2 khách sạn 4 sao và 17 khách sạn 3 sao với
gần 2.066 phòng, sẵn sàng đáp ứng nhu cầu lưu trú của hơn 8.000 du khách đến
Đà Nẵng trong cùng thời điểm. Các khách sạn lớn tập trung chủ yếu ở năm quận:
Hải Châu, Ngũ Hành Sơn, Thanh Khê, Sơn Trà và Liên Chiểu. Theo ước tính, từ
năm 2010 - 2012, tại thị trường khách sạn Đà Nẵng sẽ có thêm khoảng 45 dự án
mới, cung cấp khoảng 7.000 phòng từ khách sạn 3 sao đến 5 sao, trong đó 2/3 số
dự án mới nằm ở quận Ngũ Hành Sơn với khoảng 4.300 phòng
o sánh Hyatt Regency Danang Resort and Spa với 3 đối thủ cạnh sau:
Hyatt
Regency
Danang
Resort and
Spa
Fusion Maia
Resort Đà
Nẵng
Crowne Plaza
Danang
The Ocean
Villas Đà
Nẵng
chi trả cao đến
khách sạn với
mục đích nghỉ
ngơi, giải trí,
ăn uống.
chi trả cao đến
khách sạn với
mục đích nghỉ
ngơi, giải trí,
ăn uống.
chi trả cao đến
khách sạn với
mục đích nghỉ
ngơi, giải trí,
ăn uống.
chi trả cao đến
khách sạn với
mục đích nghỉ
ngơi, giải trí,
ăn uống.
Sản phẩm,dịch
vụ tiêu biểu
Sản phẩm,
dịch vụ đa
dạng, phong
phú
-Hệ thống
phòng hiện đại
- Nhà hàng
- Khu
Sản phẩm,
dịch vụ đa
dạng, phong
phú
-Hệ thống
phòng hiện
Nhà hàng
Massaga &
Spa
Bãi biển riêng,
Bể bơi ngoài
trời
Dịch vụ làm
đẹp
Quán cafe/bar
-các trò chơi
giải trí thể
thao
Ngoài ra còn 1
Sản phẩm,
dịch vụ đa
dạng, phong
phú
-Hệ thống
phòng hiện
- Nhà hàng
Xông hơi và
trung tâm spa
xông hơi
Bãi biển riêng
Trang thiết bị
kỹ thuật
Tiện nghi, rất
hiện đại
Tiện nghi, rất
hiện đại
Tiện nghi, rất
hiện đại
Tiện nghi, rất
hiện đại
Thực tế về tài
chính
Nguồn tài
chính cao
Nguồn tài
chính cao
Nguồn tài
chính cao
Nguồn tài
chính cao