MỞ ĐẦU
1.Lí do chọn đề tài
Lịch sử phát triển của văn học Trung Hoa vận động cùng với sự
phát triển của xã hội.Việt Nam chúng ta là nước chịu ảnh hưởng rất lớn của
nền văn hóa Trung Hoa điều này chúng ta không thể phủ nhận, đặc biệt là về
văn học chúng ta đã tiếp thu trên tình thần chọn lọc. Văn học Trung Hoa đã
sớm được bạn đọc Việt Nam yêu thích từ Đường thi, tiểu thuyết chương
hồi…
Vườn văn Trung Quốc đương đại đang rực rỡ khoe sắc với các tên tuổi
tiêu biểu như : Vương Mông, Mạc Ngôn, Trương Hiền Lượng, Giả Bình Ao,
Phùng Ký Tài, Trương Khiết, Thẩm Dung… Có một người tự nhận mình
không hợp với cái ồn ã của văn đàn Trung Quốc hiện nay, nhưng dường như
khi lạnh lùng với ánh hào quang của vòng nguyệt quế, ông lại được các văn
sỹ kính phục hơn cả. Đó là nhà văn Lý Nhuệ - một trong những cột trụ lớn
nhất của văn học Trung Quốc đương đại.
Sinh năm 1950 tại Bắc Kinh, Lý Nhuệ bắt đầu sự nghiệp viết văn từ năm
1970. Văn Lý Nhuệ sâu lắng, gần gũi với đời với người. Dù đề tài có khác
nhau nhưng các tác phẩm của ông đều xoay quanh một chủ đề duy nhất: khám
phá bản chất đời sống con người.
Năm 1998 Lý Nhuệ được bầu làm Phó chủ tịch hội nhà văn tỉnh Sơn
Tây. Năm 2003 ông từ chức và cũng xin rút khỏi hội nhà văn Trung Quốc,
làm một người viết văn tự do
Viết về đề tài lịch sử, Lý Nhuệ đã thổi vào đó cảm hứng hiện đại. Triết lí
mới về lịch sử, về con người được Lý Nhuệ thể hiện qua nghệ thuật tự sự vừa
truyền thống vừa hiện đại.
Hiện nay, việc tìm hiểu và nghiên cứu tác phẩm của Lý Nhuệ chưa được
giới nghiên cứu Việt Nam chú ý nhiều. Chúng tôi chọn tiểu thuyết “Chốn
xưa” làm đề tài nghiên cứu cho niên luận của mình.
2.Lịch sử vấn đề
Chỉ trong 347 trang, Chốn xưa đã phản ánh chiều dài lịch sử Trung
Hoa cận đại đầy khốc liệt. Bằng cách biểu tượng hóa các giá trị và lực lượng
các phương pháp khác.
Ngoài phần mở đầu và kết luận công trình này gồm có 3 chương:
Chương 1:Nhân vật trong tác phẩm nghệ thuật
Chương 2:Nhân vật trong tiểu thuyết “Chốn xưa”
Chương 3:Bút pháp nghệ thuật và quan niệm sáng tác của tác giả
Nội dung
Chương 1:Nhân vật trong tác phẩm nghệ thuật
1.1.Khái niệm nhân vật văn học
Nói đến văn học nhân vật là nói đến con người được miêu tả,thể hiện
trong tác phẩm bằng phương tiện văn học.Nhân vật đó chính là phương tiện
cơ bản để nhà văn khái quát hiện thực một cách hình tượng.Miêu tả con
người, đó chính là việc xây dưng nhân vật của nhà văn.Ở đây cần chú ý rằng,
nhân vật trong văn học là một hiện tượng nghệ thuật mang tính ước lệ,đó
không phải là sự sao chụp đầy đủ mọi chi tiết biểu hiện của con người mà chỉ
là sự thể hiện con người qua những đặc điểm điển hình về tiểu sử, nghề
nghiệp, tính cách…
Giáo trình Lý luận văn học(Hà Minh Đức chủ biên) định nghĩa về nhân
vật “Nhân vật chính là người dẫn dắt người đọc vào một thế giới riêng của đời
sống trong một thời kì lịch sử nhất định”
Trong 150 thuật ngữ văn học Lại Nguyên Ân,cho rằng: “Nhân vật văn
học là sự thể hiện quan niệm nghệ thuật của nhà văn về con người, nó có thể
được xây dựng chỉ dựa trên cơ sở quan niệm ấy”.
Có thể thấy nhân vật là một phương diên quan trọng nhất để thể hiện tư
tưởng của tác phẩm. Nó được đặt ở phương diện hàng đầu trong hình thức của
tác phẩm, quyết định phần lớn cốt truyện, ngôn ngữ. Các nhân vât liên kết
với nhau tạo thành một hệ thống hoàn chỉnh. Hệ thống nhân vật bộc lộ nội
dung tác phẩm nhưng có khi tự nó lại là một trong các phương diện kết cấu
tác phẩm
1.2.Nhân vật từ tiểu thuyết truyền thống đến tiểu thuyết
hiện đại
Lý Nãi Chi có hai người chị là Lý Tử Hận và Lý Tử Vân. Cha mẹ chết sớm,
chị em Nãi Chi ở cùng với Lý Nãi Kính tộc trưởng họ Lý của Cửu Tư Đường.
Năm 17 tuổi, Lý Nãi Chi chứng kiến cái chết của người thầy Triệu Bá Nho bị
hành hình sau cuộc bạo động Thu Thu của nông dân, anh bị chấn động. Vậy
là, cuộc thảm sát tháng 12 năm 1927 ở Ngân Thành đã tạo nên một thanh niên
bi phẫn. Trong nhật ký anh viết: “….Tôi làm thế nào để thoát khỏi cái thế
giới này?…Có cần thiết phải thay đổi cái thế giới bị tê liệt này không?…Sống
như thế này không chút hứng thú, buồn thảm vô cùng! Đọc lại “Gào thét”
của Lỗ Tấn, lẽ nào mọi người đều như kẻ ăn thịt người trong “Nhật ký người
điên” cả hay sao?… Nghe chị Vân nói, tin tức trên tỉnh và ở các tỉnh khác,
càng cảm thấy Trung Quốc thật sự vô vọng.” Rời Ngân Thành lên tỉnh học,
Nãi Chi tham gia phong trào sinh viên biểu tình, diễn thuyết trên đường phố,
rải truyền đơn chống Nhật. Cuối cùng, chỉ còn một tháng nữa tốt nghiệp, anh
bị đuổi học. Nãi Chi bình thản từ chối tấm bằng đại học. Được Cách mạng
móc nối anh tham gia hoạt động bí mật, lợi dụng là người nhà với dòng họ
Cửu Tư Đường làm vỏ bọc, anh trở về Ngân Thành trà trộn với những người
công nhân đào muối. Vì lý tưởng anh hiến dâng cả sự sống và tình yêu của
mình. Nãi Chi từ chối mối tình của Bạch Thu Vân, đi hoạt động cách mạng
cho đến khi bị Quốc dân đảng bắt giam kết án tử hình năm 1939. Nhờ người
chị thứ hai: Lý Tử Vân – vợ của tướng Dương Sở Hùng (một vị tướng của
Quốc dân đảng) can thiệp, trên pháp trường xử bắn, “ theo mật lệnh của
Dương Sở Hùng, viên đạn lẽ ra phải xuyên tim anh thỉ chỉ bắn gãy xương
sườn”, Nãi Chi được hai người chị cứu sống. Trốn thoát, anh được Bạch Thu
Vân chăm sóc, nàng cùng anh tham gia cách mạng đến ngày thắng lợi. Nãi
Chi sống ở Bắc Kinh và sau đó từ Cục trưởng anh lên Thứ trưởng, đúng lúc
thời “Đại cách mạng văn hóa” loại bỏ những phần tử có lý lịch “tư sản tự
do”. Vậy là, Lý Nãi Chi chỉ trong một đêm biến thành kẻ phản bội, gián điệp
nằm vùng cùng mấy thứ trưởng được đưa lên Trường cán bộ 7/5, cải tạo lao
động. Nãi Chi được phân công chăn bò trên nông trường giá lạnh. Vào một
đêm giá rét, trong chuồng bò ở tỉnh Giang Tây, Lý Nãi Chi bị thổ huyết và
lương nữa, tiền tiết kiệm cũng bị tổ chuyên án giữ, bây giờ thì chúng ta bình
đẳng như nhau. Tôi làm lụng cả đời mà cũng không có nổi đôi găng tay này,
vậy bà nghĩ bà là thứ của quý gì? Bà còn tỏ ra là lá ngọc cành vàng ở đây
hay sao, bà cũng như những người kia, mẹ kiếp bà, bà cũng chỉ là đồ cứt
chó!”. Bạch Thu Vân trải qua hai năm cải tạo lao động, trở thành một công
nhân nông nghiệp đúng tiêu chuẩn, làm cỏ, cắt lúa, gánh nước, quạt thóc, hái
bông, phun thuốc trừ sâu… việc gì cũng thạo. Đến một ngày mệt mỏi tận
xương tủy, không chịu đựng được nữa nàng uống thuốc ngủ tự tử, mong lấy
cái chết để chấm dứt cuộc sống tù túng, mòn mỏi và khốn khổ.
Bé Lý Chi Sinh cháu trai của tộc trưởng Lý Nãi Kính khi vừa chào đời
mẹ chết, lại đúng vào lúc cả gia tộc 32 người đàn ông nhà Cửu Tư Đường bị
đem xử bắn “vì là bọn địa chủ phản cách mạng”. Mồ côi cha mẹ, Chi Sinh
được Lý Tử Hận đem về nuôi. Cuộc “Đại cách mạng văn hóa” 1966 Chi Sinh
mới là cậu bé vừa lên trung học, em bị lũ bạn cùng lớp đánh hội đồng vì là
“chó con của nhà Cửu Tư Đường”. Hai hôm sau, lũ bạn học của Chi Sinh,
tràn vào bắt “chó con” Chi Sinh lên cầu “Hồng Vệ” để “tẩy não”. Tất cả
những ai bị gọi là “yêu ma quỷ quái”(từ của Mao chủ tịch viết trong cuốn cẩm
nang) đều bị dẫn lên cầu, ném xuống sông Ngân Khê. Những ngày ấy, quần
chúng cách mạng trống giong cờ mở đứng chật hai bờ sông. Bé Chi Sinh khóc
lóc, kêu la thảm thiết cũng chẳng ích gì, em cũng bị lôi lên cầu và ném xuống
sông.
Ông Đông đầu bạc trắng – người gánh nước thuê cho gia đình Cửu Tư
Đường – là tên nô lệ trung thành - vì nhảy xuống sông cứu Chi Sinh, nên bị
đòn hội chợ máu me đầm đìa, ngất xỉu. Cả hai một trẻ một già đều bị ném trở
lại dòng sông cuộn xiết, trong tiếng hò reo rầm trời.
Lý Tử Hận chị cả của Lý Nãi Chi và Lý Tử Vân là một người đàn bà
mang đầy đủ vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ phương Đông. Người con
gái xinh đẹp, mảnh mai nhưng lại có một nghị lực phi thường. Nhẫn nhục hy
sinh suốt cuộc đời vì người thân. Từ năm lên bảy, đã nhận trách nhiệm của
người cha căn dặn trước khi ông mất: “ Tử Hận, con đã bảy tuổi, con là chị,
vì con người”.
Thầy giáo Triệu Bá Nho – tượng trưng cho những nhà nho yêu nước làm
cách mạng thời kỳ đầu say mê và tin tưởng vào lý tưởng của chủ nghĩa Mác
mặc dù biết cuộc khởi nghĩa sẽ thất bại, bản thân không cho phép cậu học trò
Lý Nãi Chi tham gia, nhưng vẫn lãnh đạo cuộc khởi nghĩa nông dân, bình
thản lên pháp trường xử trảm.
Trần Cẩu Nhi – tượng trưng cho tầng lớp nông dân tham gia bạo lực cách
mạng rất nhiệt tình và hiệu quả do lòng đố kỵ và hận thù giai cấp mà không
có chút khái niệm về lý tưởng chính trị nào, loại người có công với cách mạng
nhưng kém hiểu biết cũng nhanh chóng trở thành tai họa của nhân dân.
Lý Nãi Kính tộc trưởng nhà Cửu Tư Đường – tượng trưng cho thành
phần Trung Hoa phong kiến cổ truyền – sống nhân nghĩa, trách nhiệm, khôn
ngoan lèo lái cả gia tộc vượt qua bao thăng trầm binh biến, loạn lạc nhưng
cuối cùng thời “Tập thể hóa ruộng đất” – dòng họ nhiều đời mở hầu bao cứu
trợ, giúp đỡ biết bao người nghèo khổ học hành- lại bị cách mạng đem xử bắn
vì được xem là thành phần địa chủ “phản cách mạng”.
Lý Nãi Chi – một trí thức mới mang khát vọng lớn lao muốn thay đổi xã
hội – dám từ bỏ mảnh bằng đại học, tham gia cách mạng những ngày đầu để
cuối cùng trong “Đại cách mạng văn hóa” vì không chứng minh được lý lịch
“trong sạch” của mình, phải đi cải tạo chăn bò và chết âm thầm trên nông
trường lạnh giá.
Lý Tử Hận – tượng trưng cho giá trị nhân văn cao cả của truyền thống
Trung Hoa – hy sinh suốt cuộc đời vì người thân, rốt cuộc cũng không bảo vệ
được đứa cháu đích tôn bị “quần chúng” vứt xuống sông “tẩy não”, sau đó
chết âm thầm trong ngôi nhà Cửu Tư Đường không ai hay biết.
Bạch Thu Vân, con gái một thương gia giàu có nức tiếng Ngân Thành –
tượng trưng cho lớp nhà giàu mới, ảnh hưởng Tây học, sẵn sàng vì tình yêu
theo chồng tham gia cách mạng, cuối cùng vẫn bị xem là “tiểu thư thối tha
con nhà tư sản” bị đày ải lao động trên nông trường, mệt mỏi đói khổ đến
cùng cực phải tự tử để thoát khỏi sự khổ ải của kiếp người.
hơn giai cấp tư sản, tiểu tư sản và cả trí thức nữa”. Khi nghe tin mẹ chết, cha
chết cô không về thăm, không chịu để tang. Diên An thản nhiên lý lẽ: “là
đảng viên không làm điều lạc hậu, không để chuyện này ảnh hưởng đến công
tác cách mạng xây dựng đồng ruộng Đại Trại của đội, hơn nữa đã phân rõ
ranh giới với gia đình rồi, không về.”
Một người ngu dốt như Lệch còn biết : “Người nhà quê rất xem trọng
hai người: người sinh ra mình, người mình sinh ra. Cha mẹ chết mà không để
tang chẳng hóa ra súc vật hay sao?”
Tại sao một trí thức có học vấn như Diên An lại không hiểu đạo đức tối
thiểu của một con người?
Tất cả sản phẩm đó chính là hậu quả giáo dục con người mới xã hội chủ
nghĩa của Mao Trạch Đông. Dưới thời Mao chủ tịch mọi giá trị truyền thống
tốt đẹp của Trung Hoa đều bị đào tận gốc, trốc tận rễ, thay vào đó là tham
vọng cá nhân và chủ nghĩa cơ hội. Những con người như Lưu Quang Đệ, Lý
Diên An không phải là cá biệt, giai đoạn đó những người như họ là phổ quát
(11) – họ sẵn sàng phá bỏ những vật cản, ngăn trở bước đường tương lai của
họ, cho dù đó là cha mẹ, vợ chồng, anh em dòng họ. Tất cả những điều đó đã
tạo ra một “xã hội mất gốc” đạo đức cổ truyền bị chà đạp, nhân phẩm con
người suy đồi và tha hóa đến mức “Không có một công thức đạo đức giản dị
nào mà nhà trường có thể chuyển tải”. Chính tác giả Lý Nhuệ cũng từng nhìn
nhận: “Nửa thế kỷ trở lại đây, truyền thống văn hóa Trung Quốc bị tan rã
khủng khiếp và thất bại thảm hại…(…)…Tôi cảm nhận được nỗi khổ về tinh
thần của người Trung Quốc, và tôi dùng tiểu thuyết để biểu thị nỗi khổ ấy”
Chốn xưa mổ xẻ mọi ung nhọt của chủ nghĩa Mao một cách thẳng
thừng.Tác giả vạch rõ bản chất thật của những ngụy tín, hư ảo, sự ngu dốt của
một thể chế đã phá nát nền tảng đạo đức của một đất nước, giết chết tâm hồn
bao thế hệ, hậu quả di hại đến tương lai đời sau.
Chương 3:Bút pháp nghệ thuật và quan niệm sáng tác của
tác giả
Với bút pháp lạnh lùng, bạo liệt, Lý Nhuệ vạch trần tường tận xã hội tàn
thầy vuốt mái tóc rũ xuống trước mặt, lộ rõ khuôn mặt tiều tụy và nhợt nhạt
của kẻ thất bại. Thầy chỉ vào biển người xem ông bị hành hình, nói: Không
thể giết hết quần chúng lao khổ! Không thể giết hết những người cộng sản!;
… Hãy nhìn thế giới ngày mai, phải là thế giới cờ đỏ! Tiếp theo, ba tên đao
phủ nắm chặt hai cánh tay thầy giáo đẩy thầy nằm trên một thớt gỗ vừa to vừa
bẩn, một tên giơ cao lưỡi búa to bản, chỉ nghe thấy một tiếp phập, chém
phăng cái đầu chứa đầy kiến thức và lý tưởng, chứa đầy chủ nghĩa và chân
lý, chứa đầy những câu thơ và ý nghĩ cháy bỏng. (tr 20-21)
Lối viết tương phản, mang tính tượng trưng cao, còn thể hiện ở cái chết
về mặt thể xác của Lý Tử Hận và cái chết về mặt tinh thần của Lý Diên An.
Cái chết của Tử Hận là sự kết thúc của một giai đoạn lịch sử đã qua ,
nhưng giá trị tinh thần nhân văn của nó vẫn mãi trường tồn. Tử Hận chết
nhưng “đức hy sinh” của cô vẫn là tấm gương đẹp cho người đời sau: “Hàng
xóm nói, khi họ phá cửa vào thì thấy bộ xương nằm trên cái giường gỗ đàn
hương có chạm khắc hoa văn, ruồi nhặng ào ào bay ra cửa, ruồi nhặng đen
đặc, tưởng chừng xô ngã cả người.(…)…Tất cả vô cùng ngạc nhiên phát
hiện, thi thể bà Sáu trong trang phục đẹp như cô dâu về nhà chồng. Xung
quanh bà toàn lụa là gấm vóc, những tấm gấm hoa do bàn tay bà tự thêu.
Mọi người cùng nín thở, lặng lẽ nhìn bộ xương được bọc trong gấm vóc, cùng
nghĩ đến người đàn bà có một không hai ở Ngân Thành này. Không ai biết bà
chết từ lúc nào, cũng không ai biết bà chết trong đau khổ hay sướng vui, càng
không ai biết tại sao bà lại tô điểm cho cái chết đẹp như thế, khiến họ phải
kinh ngạc và sợ hãi”.
Đến đây, người đọc tinh tế sẽ liên tưởng ngay đến hình ảnh Lý Tử Hận
hàng ngày ngồi bên khung cửa thêu những tấm gấm hoa rực rỡ, tấm áo cô dâu
mà bất cứ người con gái nào cũng ao ước được một lần mặc trong đời. Thì ra,
tuy đã tự mình dùng một bó nhang đang cháy đỏ đâm vào mặt, hủy hoại nhan
sắc để cả đời không nghĩ đến chuyện lấy chồng, cho hai em toàn tâm toàn ý
ăn học, nhưng trong sâu thẳm tâm hồn Lý Tử Hận vẫn luôn ước mơ về hạnh
phúc riêng tư, điều này càng làm tăng thêm ý nghĩa đẹp đẽ của sự hy sinh đó.
huyệt mộ bịt kín. Trong bóng tối dày dặc, Diên An cởi bỏ từng chiếc áo quần
rồi nói: Em quyết làm việc này đến cùng”. Nhưng khi cái cơ thể to khỏe và
rắn chắc bao bọc bởi hơi đàn ông và mùi gây của cừu dê đè xuống, Diên An
đau như bị dao đâm, cô đẩy, đánh, kêu la, giãy giụa.(…) Thế nhưng, sáng
hôm sau cô nhìn Lệch và nói: Em nghĩ kỹ rồi, em sẽ làm việc này đến cùng.”
Tôi nghĩ, Lý Nhuệ đã cố tình miêu tả “điều ấy” diễn ra trong một hang
sâu trong lòng đất, tối đen như huyệt mộ, làm người đọc liên tưởng đến hành
động của những động vật cấp thấp.
Đối với người con gái, điều thiêng liêng nhất là sự trong trắng. Bất cứ cô
gái nào cũng mong muốn dâng hiến sự trong trắng của mình cho người đàn
ông mà mình yêu thương, quý trọng. Thế nhưng, Diên An đã làm gì cuộc đời
cô? Tôi nghĩ rằng giây phút hợp hôn chính là giây phút linh hồn cô đã chấm
dứt, chính cô là người chủ động giết chết linh hồn mình.
Thế nhưng, đọc kỹ lại trường đoạn đám cưới, có điều gì đó bi thảm hơn
ẩn sâu từ ngữ lạnh lùng của tác giả, tôi phân vân: có thật Diên An không yêu
quý tấm thân trong trắng của mình, có thật cô không hối tiếc khi tự dâng hiến
đời mình cho một người đàn ông dơ bẩn, ngu dốt mà cô không hề yêu
thương? Tôi không tin, bởi hình ảnh: “…dòng nước mắt trào ra nóng hổi, rơi
lã chã trong đêm đông vắng lặng năm 1969” khi cô đứng ngoài hang chờ
Lệch tắm? Tại sao cô phải cắn răng âm thầm khóc? Có điều gì đó còn kinh
khủng hơn nếu không bằng mọi cách được là người “bần cố nông”.
Đó chính là lời tố cáo khủng khiếp nhất về một thể chế đã biến con người
sống không ra sống, chết không ra chết, hành động như một cỗ máy.
Người xưa nói lịch sử tạo tính cách, quả không sai. Con người làm sao
thoát nỗi dòng chảy của lịch sử.
Chính lối miêu tả lạnh lùng, tương phản này đã gây hiệu ứng cảm xúc
mạnh cho độc giả, tăng tính bạo liệt của sự việc.
Bên cạnh đó, Chốn xưa có nhiều trường đoạn miêu tả lắng đọng như
cảnh Thư ốc Trời Xanh tại Cửu Tư Đường của dòng họ Lý, hay vẻ thơ mộng
và hùng tráng của dòng Ngân Khê xanh thẫm. Đặc biệt, trường đoạn mô tả
Staline 55 chạy băng băng trên cánh đồng phì nhiêu và Lý Kinh Sinh oa oa
chào đời, nhà họ Lý chỉ còn một người mặc tang phục kêu khóc thảm thiết, đó
là Lý Tử Vân, chị ba của Lý Nãi Chi. Nhưng Tử Vân không khóc vì gia đình
họ Lý mà khóc chồng là tướng Dương Sở Hùng, khóc vì chồng chết ở nơi đất
khách quê người mà lễ truy điệu có long trọng đến mấy cũng không thay đổi
số trời định.” (tr 12)
Lý Nhuệ là nhà văn có lối viết cổ điển, ông viết theo sự dẫn dắt của nội
tâm. Mặc dù sau này tác giả vẫn chưa ưng ý về mặt hình thức nhưng với tôi,
chính vì không áp dụng nhiều kỹ thuật Chốn xưa mang vẻ đẹp giản dị, tự
nhiên của người viết lần đầu mà mọi dồn nén bấy lâu được thỏa sức tuôn trào.
Trong một lần phỏng vấn, người ta hỏi ông: “ Ông có bị ảnh hưởng thủ
pháp kể chuyện (tự thuật) của Borges, nhất là cách vận dụng thời gian và
không gian?
Lý Nhuệ trả lời: “Không biết tôi có bị ảnh hưởng của Borges hay không.
Cứ theo lòng mình để suy ra, tôi vẫn chưa bằng lòng về sự cố gắng của mình
đối với hình thức của Chốn xưa. Tôi vẫn nghĩ, về hình thức nên chăng đi xa
hơn nữa?…Xa “tả thực” hơn, gần ngụ ngôn và “tả ý” hơn….( ) Nhưng tôi
cho rằng, hình thức tuyệt nhiên không phải là một thứ thao tác mang tính kĩ
thuật bề ngoài, hình thức phải tuôn trào rất tự nhiên và chân thành từ trong
thế giới nội tâm nhà văn, ở đấy, bất cứ một chút làm dáng hoặc lên gân nào
cũng sẽ chôn vùi bản thân tác phẩm và tác giả. Thời đại chúng ta rất dễ bị
“thời thượng” nhận chìm, thà rằng tôi tin ở nội tâm và tình cảm mình.”
Đánh giá ngòi bút Lý Nhuệ, nhà phê bình Vương Trí Nhàn viết: “… Lý
Nhuệ gợi lại ấn tượng về một dòng văn xuôi có cái chất sang trọng, quý
phái… Điều mà người ta cần nhớ từ trường hợp Lý Nhuệ, đó là mỗi ngòi bút
phải giữ riêng lấy sự đơn độc tinh thần, không theo đuôi, không bầy đàn, việc
đi tìm cái mới không phải là một trò chơi trội mà cũng thiêng liêng và đầy
thách thức như mọi việc khác của đời sống”
Thật vậy, với văn phong mãnh liệt pha trộn cổ điển và hiện đại, văn ông
mang nặng chiều sâu, với lối viết tương phản, tưởng chừng bình dị nhưng
độc giả có cái nhìn sâu sắc hơn về dân tộc mình, một dân tộc của những đấng
trượng phu, những bậc liệt nữ và cả bọn sát nhân tàn bạo, một dân tộc luẩn
quẩn trong vòng dựng xây để rồi tự hủy, một dân tộc khổ đau nhiều hơn hạnh
phúc, một dân tộc mà trang nào trong lịch sử cũng hằn in những cuộc thanh
trừng, thảm sát, tắm máu. Khách quan khi nhìn nhận lịch sử nhưng lại đầy
xúc cảm khi tái hiện trước mắt người đọc thân phận của mỗi con người, Lý
Nhuệ đã thành công khi viết về nỗi đau của những cuộc đời bị vùi dập và hủy
hoại trong dòng chảy lịch sử. Những cái chết đau đớn, nhiều khi man rợ, kinh
hoàng của các nhân vật xuất hiện đều đặn ở mỗi chương đoạn tác phẩm là
minh chứng sâu sắc cho thân phận bất hạnh của con người, cho sự vô lý, thậm
chí vô nghĩa của những cuộc binh biến. Chốn xưa sẽ là một tác phẩm hay và
hoàn thiện nếu như Lý Nhuệ tiết chế bớt xúc cảm của mình dành cho các
nhân vật, đặc biệt là các nhân vật nữ, điều này khiến mạch chuyện đôi chỗ bị
kéo dài hơn mức cần thiết. Thế nhưng, dòng chảy cảm xúc mãnh liệt ấy là
điều có thể lý giải, khi nhiều chi tiết trong tác phẩm bắt nguồn từ câu chuyện
có thật về gia đình nhà văn.
Xin mượn lời của Lý Nhuệ để kết thúc bài viết này: “Xưa nay, sự tồn tại
của văn học chưa bao giờ giảm bớt nỗi khổ dù chỉ một chút xíu, nhưng sự tồn
tại của văn học luôn chứng minh sự tàn nhẫn của áp bức bóc lột, luôn chứng
minh cái giá của những sinh mạng bị đọa đày đau khổ, luôn chứng minh nỗi
buồn của con người tự trói mình, luôn chứng minh con người nên được hạnh
phúc tự do”.
Tài liệu tham khảo:
1.Vân Anh, Chốn xưa một cuốn sách đáng kinh ngạc nhất về Trung
Quốc
2.Lại Nguyên Ân chủ biên(1983), Số phận của tiểu thuyết, NXB tác
phẩm mới, Hà Nội
3.Đặng Anh Đào(2007) ,Đổi mới nghệ thuật tiểu thuyết phương Tây hiện
đại, NXB Đại học Quốc gia, Hà Nội
4.Hà Minh Đức chủ biên(2001), Lý luận văn học,NXB Giáo dục, Hà Nội