nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp nhà nước - Pdf 26

Website: Email : Tel : 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Luật pháp được ví như là hành lang cho các hoạt động kinh doanh của các
doanh nhân (hành lang pháp lý). Tuỳ từng thời kỳ và giai đoạn phát triển kinh tế
mà Nhà nước quyết định mở rộng ra hoặc thu hẹp lại hành lang pháp lý đi đúng
định hướng phát triển của đất nước. Ngày 29 tháng 11 năm 2005, Quốc hội đã
ban hành một đạo luật quan trọng, có tác động rất lớn đến hoạt động kinh doanh
của giới doanh nghiệp là Luật doanh nghiệp (Luật DN). Đạo luật này đã có hiệu
lực từ ngày 1/7/2006.
Việc ban hành Luật Doanh nghiệp xuất phát từ yêu cầu nội tại của nền
kinh tế, của hội nhập kinh tế quốc tế và khắc phục những hạn chế của hệ thống
pháp luật hiện hành về doanh nghiệp, đặc biệt là sự chia cắt, tách biệt áp dụng
theo thành phần kinh tế.
Bài viết này trình bày những điểm mới về đăng ký kinh doanh của Luật
Doanh nghiệp 2005 so với Luật Doanh nghiệp 1999.
Mặc dù vẫn còn một vài khiếm khuyết nhưng có thể nói Luật Doanh
nghiệp 2005 đã mở rộng và phát triển hơn nữa môi trường kinh doanh tại Việt
Nam, giúp các doanh nghiệp tự chủ hơn trong hoạt đọng kinh doanh, xoá bỏ
được những quy định rườm rà, bất hợp lý, gây phiền hà cho doanh nghiệp, qua
đó, cải thiện và nâng cao hiệu quả và năng lực cạnh tranh của từng doanh nghiệp
nhà nước nói riêng và của khu vực kinh tế nhà nước nói chung.
1
Website: Email : Tel : 0918.775.368
NỘI DUNG
I. Mục tiêu ban hành luật Doanh Nghiệp
Chính phủ đã chỉ đạo việc xây dựng luật Doanh Nghiệp nhằm đảm bảo
các mục tiêu sau:
Một là, thể chế hóa sâu sắc đường lối đổi mới và các chủ trương chính
sách đã được khẳng định tại Đại hội lần thứ IX của Đảng và các Nghị quyết Hội
nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng; nhất là chính sách phát triển nền kinh tế
nhiều thành phần, coi các thành phần kinh tế đều là bộ phận cấu thành quan

kinh doanh có trách nhiệm giải quyết việc đăng ký kinh doanh trong thời hạn 15
ngày kể từ ngày nhận được hồ sơ. Còn trong khoản 2, điều 15 của Luật DN 2005
thì thời hạn đó là 10 ngày.
Khoản 4 trong điều 15 Luật Doanh nghiệp 2005 có bổ sung thêm: thời
hạn cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh gắn với dự án đầu tư cụ thể thực
hiện theo quy định của pháp luật về đầu tư.
3. Về hồ sơ đăng ký kinh doanh
Luật DN 1999 quy định hồ sơ đăng ký kinh doanh chung cho các loại
doanh nghiệp. Điều 16, 17, 18, 19 của Luật DN 2005 quy định cụ thể hơn về hồ
sơ đăng ký kinh doanh đối với từng loại doanh nghiệp: doanh nghiệp tư
nhân,công ty hợp danh,công ty trách nhiệm hữu hạn,công ty cổ phần. Hồ sơ
đăng ký của doanh nghiệp tư nhân không cần có điều lệ đối với công ty. Hồ sơ
đăng ký của doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh ngoài giấy đề nghị đăng
ký kinh doanh, văn bản xác nhận vốn pháp định của cơ quan, tổ chức có thẩm
quyền đối với doanh nghiệp kinh doanh ngành nghề mà pháp luật quy định phải
có vốn pháp định, còn có bản sao giấy chứng minh nhân dân, hộ chiếu hoặc
chứng thực cá nhân hợp pháp khác và chứng chỉ hành nghề của Giám đốc và các
cá nhân khác đối với các doanh nghiệp kinh doanh mà theo quy định của pháp
luật phải có chứng chỉ hành nghề.
Hồ sơ đăng ký của công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần có
thêm danh sách thành viên và các giấy tờ kèm theo,quy định rõ:
- Đối với thành viên (cổ đông) là cá nhân: bản Sao Giấy chứng minh nhân
dân, Hộ chiếu hoặc chứng thực cá nhân hợp pháp khác.
3
Website: Email : Tel : 0918.775.368
- Đối với thành viên (cổ đông) là tổ chức: bản sao quyết định thành
lập,Gíây chứng nhận đăng ký kinh doanh (ĐKKD) hoặc tài liệu tương đương
khác của tổ chức, văn bản uỷ quyền, Gíây chứng minh nhân dân, Hộ chiếu hoặc
chứng thực cá nhân hợp pháp khác của người đại diện theouỷ quyền.
- Đối với thành viên (cổ đông) là tổ chức nước ngoài thì bản sao Gíây

viên hoặc người đại diện theo uỷ quyền của thành viên
- Của cổ đông sáng lập hoặc người đại diện theo uỷ quyền của cổ đông
sáng lập đối với công ty cổ phần
- Của thành viên hợp danh đối với công ty hợp danh.
6. Về nội dung Điều lệ công ty
So với Luật Doanh nghiệp 1999,Luật Doanh nghiệp 2005,tại điều 22 quy
định về nội dung Điều lệ công ty đã đưa thêm khoản 10: Trong nội dung Điều lệ
công ty có thêm căn cứ và phương pháp xác định thù lao,tiền lương và thưởng
cho người quản lý và thành viên Ban Kiểm soát và Kiểm soát viên.
7. Về điều kiện cấp Gíây chứng nhận đăng ký kinh doanh
So với luật DN 1999, Điều 24 của Luật DN 2005 có bổ sung thêm hai
điều kiện để Doanh nghiệp được cấp giấy ĐKKD, đó là: Có trụ sở chính theo
quy định tại khoản 1 Điều 35 về trụ sở chính của doanh nghiệp và phải nộp đủ lệ
phí đăng ký kinh doanh theo quy định của Pháp luật. Lệ phí đăng ký kinh doanh
được xác định căn cứ vào số lượng ngành, nghề đăng ký kinh doanh,mức lệ phí
cụ thể do Chính phủ quy định.
Một nét mới của luật Doanh nghiệp 2005 là quy định rõ các hành vi bị
cấm trong đăng ký kinh doanh (ĐKKD): Đối với cơ quan ĐKKD cấm việc gây
chậm trễ, phiền hà, cản trở và sách nhiễu người ĐKKD. Đối với người ĐKKD
hay nguời đầu tư, cấm hành vi kinh doanh không đăng ký, khai không trung
thực, chính xác nội dung hồ sơ ĐKKD, khai khống vốn, định giá tài sản góp vốn
không đúng, kinh doanh khi chưa đủ điều kiện.
8. Về thay đổi nội dung đăng ký kinh doanh
- Theo khoản 1 điều 19 Luật Doanh nghiệp 1999,thời hạn để đăng ký các
thay đổi với cơ quan dăng ký kinh doanh chậm nhất là 15 ngày, còn Luật DN
2005 (khoản 1 điều 26)là 10 ngày.
5


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status