MỤC LỤC
!"!#
$%&'()*+,-./0-"1$2-
3!4()55,/064()78,)"1$2-
3!94()7:,3!;-.<!=!#964-
()58,$$>6!4-3!22?!6@A=*BC*77+CD
3!2*7C*77ECD3!2*5C*77ECD-3!25E5C*778CDF(G6H
-$%&-3!22?!6@"I"J!$1$>
6!K"L!3M3!ND3!FO!P!
Q$PM>K>"-@!G<!#0"R2
S"R/2T!K/.U"3!V$A= "$W
P!P2X!/"1$2U$2$"IY!$9ZS[6&\!P9
-./0Y!$9Z>-PM--./0P!
P2X!/3!N=Y]2T!/0>"-6^Y2?!6@
2T!>_`FFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFF577
ab2c!3!P!P2X!/=P9!->"-FF558
]2T!/0L0FFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFF5*E
ad6RLLP!>"-6^FFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFF5B*
ab2c!P&;"6\!;$3!FFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFF5B8
b2c!!;$G3!P!FFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFF5B8
aUJPU"3!V$A=FFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFF5B:
a3!969FFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFF5Be
3!9693!$L>"-6"#6\!;A!<>
"--3!91"2/P92$$V;FUJ
>f3!969-gU0-"2/PM-P!
12$$V;fK"L!"1$2P!2$$V;F6\!;
2'G"`f3!9"2/PM--$h!;
H/?Q$"R-FFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFF5Be
a6\!;LLFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFFF5Be
CHƯƠNG 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CHUNG VÀ KINH NGHIỆM CỦA MỘT
với nhau chủ yếu bằng lợi ích kinh tế thông qua quan hệ tài chính.
- Hình thức tổ chức phổ biến của Tập đoàn kinh tế là công ty cổ phần và
hoạt động theo mô hình công ty mẹ - con.
1.1.1.2. Các loại hình tập đoàn kinh tế
Theo tính chất chuyên môn hoá, các tập đoàn kinh tế chia thành 2 nhóm:
các tập đoàn chuyên ngành hẹp và các tập đoàn kinh doanh tổng hợp, đa ngành.
Các tập đoàn chuyên ngành hẹp bao gồm tập đoàn hoạt động chuyên
môn sâu, có các công ty con hoạt động trong cùng một ngành và phối hợp
chặt chẽ với nhau để khai thác thế mạnh chuyên môn. Điển hình là các tập
đoàn Ngân hàng - Tài chính.
Các tập đoàn kinh doanh tổng hợp, đa ngành thường kinh doanh rất đa
dạng với nhiều ngành khác nhau song đều có một ngành hay lĩnh vực kinh
doanh mũi nhọn, hạt nhân. Các ngành nghề và lĩnh vực kinh doanh tạo thành
một kiểu cấu trúc gổm 3 lớp: lớp trong cùng là ngành mũi nhọn của Tập đoàn;
lớp thứ hai gồm những ngành có liên quan mật thiết về công nghệ hoặc thị
trường với ngành mũi nhọn; lớp ngoài cùng là các ngành được mở rộng, ít
liên quan đến ngành hạt nhân.
Theo phạm vi hoạt động, các TĐKT chia thành hai loại: tập đoàn
quốc gia và tập đoàn xuyên quốc gia hay đa quốc gia. Phạm vi hoạt động của
TĐKT không những phản ánh quy mô của Tập đoàn, mà còn quy định cấu
trúc tổ chức của chúng. Các TĐKT quốc gia chỉ có phạm vi hoạt động trong
lãnh thổ quốc gia, còn các tập đoàn đa quốc gia lại có phạm vi hoạt động
rộng khắp trên nhiều lãnh thổ. Hiện nay, hầu hết các TĐKT lớn trên thế giới
đã phát triển trở thành các tập đoàn đa quốc gia.
2
Theo hình thức sở hữu, các Tập đoàn kinh tế chia thành: tập đoàn kinh
tế sở hữu tư nhân, tập đoàn kinh tế sở hữu nhà nước, tập đoàn kinh tế chủ sở
hữu hỗn hợp. Ngày nay trên thế giới hầu hết các tập đoàn kinh tế được tổ
chức theo loại hình sở hữu hỗn hợp và chủ yếu dưới dạng công ty cổ phần,
Theo kiểu liên kết giữa các công ty thành viên, TĐKT chia thành: tập
cột. Quan hệ giữa đơn vị đứng đầu tập đoàn và các đơn vị thành viên khác
không mang tính chất hành chính hay cấp trên - cấp dưới mà là mối quan hệ
gắn kết về lợi ích kinh tế và đầu tư tài chính. Không có tổ chức bộ máy quản
lý cho cả tập đoàn. Mỗi thành viên của tập đoàn đều có cơ quan quyền lực
riêng. Việc điều hành hoạt động trong cả tập đoàn được thực hiện thông qua
vai trò trụ cột của đơn vị đứng đầu. Do vậy các công ty trụ cột thường nắm
giữ số vốn đủ lớn ở các công ty thành viên khác để có thể thực hiện quyền chi
phối và kiểm soát, tạo thành mô hình công ty mẹ - con, là hình thức tổ chức
phổ biến của các tập đoàn kinh tế trên thế giới.
1.1.2. Mô hình công ty mẹ - công ty con
1.1.2.1. Đặc điểm tổ chức quản lý kinh doanh
Mô hình công ty mẹ - công ty con là một hình thức tổ chức tập đoàn kinh
tế trong đó một công ty thực hiện quyền chi phối, kiểm soát các công ty thành
viên còn lại về tài chính và chiến lược phát triển… thông qua nắm giữ đa số
vốn điều lệ của các công ty thành viên đó.
Đặc trưng về mối liên kết giữa các thành viên: Trong tập đoàn kinh tế tổ
chức theo mô hình này, mối liên kết chủ yếu là giữa công ty mẹ và công ty
con dựa trên nền tảng đầu tư tài chính của công ty mẹ vào công ty con. Bằng
việc nắm giữ đa số vốn điều lệ của công ty con, công ty mẹ sẽ chi phối, kiểm
soát, định hướng hoạt động của công ty con theo mục tiêu, chiến lược kinh
4
doanh của cả tập đoàn, phù hợp với điều lệ của công ty mẹ - công ty con và
pháp luật hiện hành, trong khi các công ty con vẫn giữ tính độc lập về mặt
pháp lý, thực hiện hạch toán độc lập với công ty mẹ.
Đặc điểm về cấu trúc: tập đoàn có thể cấu trúc dạng đơn giản hoặc cấu
trúc dạng hỗn hợp.
Theo hình thức cấu trúc đơn giản, công ty mẹ nắm giữ cổ phần của các
công ty con (tức là các công ty cấp 1); đến lượt các công ty con lại đầu tư vốn
nắm giữ cổ phiếu của các công ty cấp 2. Cơ cấu đầu tư vốn theo kiểu tương đối
đơn giản, tức là công ty mẹ trực tiếp chi phối về tài chính thông qua việc nắm
con 2.1
Công ty con 1.3
iii
Công ty
con 2.2
Công ty
con 2.3
Công ty
con 2.3
6
3!
*F*
3!
*F5
3!
*F*
3!
*FB
3!
*FB
Công ty con 1.3Công ty con 1.1 Công ty con 1.2
Công ty mẹ
Trên thực tế, hiện nay ở nhiều tập đoàn đa quốc gia có cấu trúc thuộc
loại này. Đây là hệ quả của sự phát triển cao độ của thị trường tài chính với
các ảnh hưởng của hoạt động đầu tư tài chính giữa các tổ chức và cá nhân.
Đặc trưng về tính chất sở hữu: Tập đoàn công ty mẹ - con có tính chất
đa chế độ sở hữu, công ty mẹ và các công ty con có thể là doanh nghiệp nhà
nhân
Cơ quan quản lý
công ty con
Công ty con(Thực thể
pháp lý)
1.1.2.2. Quan hệ tài chính giữa công ty mẹ và công ty con
* Quan hệ đầu tư vốn: Là quan hệ đặc trưng nhất của tập đoàn kinh tế
kiểu công ty mẹ - con. Công ty mẹ là nhà đầu tư vào công ty con thông qua
góp vốn, với mức đầu tư thường phải đủ lớn để có thể thực hiện quyền kiểm
soát và chi phối (Trên 50% vốn điều lệ ở công ty con). Với công ty mẹ - con
nhiều cấp, công ty con 1 là người đầu tư và kiểm soát trực tiếp đối với công ty
con 2, như vậy công ty mẹ đã đầu tư và kiểm soát gián tiếp công ty con 2 qua
công ty con1. Các công ty con cũng có thể đầu tư và công ty mẹ và đầu tư lẫn
nhau với mức đầu tư không tạo quyền kiểm soát, chi phối. Do đặc thù tổ chức
quản lý kinh doanh của tập đoàn, công ty con không phải nộp phí quản lý cho
công ty mẹ. Vấn đề công ty mẹ có quyền tự do rút vốn đầu tư ở công ty con
hay không và việc đầu tư ngược lại từ công ty con vào công ty mẹ…được qui
định cụ thể ở từng quốc gia.
* Quan hệ tín dụng, mua bán, thuê và cho thuê : Công ty mẹ và các công
ty con là những pháp nhân kinh tế độc lập , có quan hệ bình đẳng với nhau
trong việc cấp tín dụng, mua bán trao đổi , thuê và cho thuê …Mọi mối quan
hệ mua – bán , vay – cho vay, thuê – cho thuê… giữa các thành viên trong tập
đoàn phải thực hiện thông qua hợp đồng và phải thanh toán như với các pháp
nhân kinh tế khác , ngoài tập doàn. Chẳng hạn, việc công ty mẹ cho công ty
con vay sẽ làm phát sinh nghĩa vụ có tính pháp lý về các khoản nợ của công
ty con đối với công ty mẹ. Các công ty con cũng có thể thông qua sự bảo lãnh
của công ty mẹ để được vay các khoản vốn với điều kiện ưu đãi của các ngân
hang trong và ngoài nước.
* Quan hệ phân phối kết quả : Công ty mẹ được nhận lợi nhuận từ khoản
đầu tư vào công ty con theo tỉ lệ vốn góp vào công ty con. Khoản lợi nhuận
9
(3) Báo cáo lưu chuyển tiền tệ hợp nhất
(4) Báo cáo thay đổi vốn chủ sở hữu
1.2.1.3. Ý nghĩa của Báo cáo tài chính hợp nhất
Báo cáo tài chính hợp nhất là BCTC lập cho tập đoàn bao gồm công ty
mẹ và các công ty con như là một thực thể kinh tế duy nhất. Một tập đoàn bao
gồm một công ty mẹ và các công ty con của nó. Công ty mẹ là đơn vị kế toán
có một hoặc nhiều hơn số công ty con. Công ty con là một đơn vị kế toán bị
công ty mẹ kiểm soát. Công ty con có thể là công ty tồn tại dưới dạng công ty
cổ phần, công ty hợp doanh…
Về mặt pháp lý, công ty mẹ và các công ty con hoàn toàn độc lập với
nhau. Mỗi công ty là một đơn vị kế toán và có báo cáo tài chính riêng của
mình. Tuy nhiên Báo cáo tài chính của công ty mẹ không cung cấp cho người
đọc đủ các thông tin cần thiết về hoạt động của cả tập đoàn (bao gồm các
công ty con và công ty mẹ) để có một sự đánh giá tổng quát tin cậy về hoạt
động của tập đoàn. Mục đích của Báo cáo tài chính hợp nhất là báo cáo tình
hình tài chính, kết quả kinh doanh và luồng tiền của tập đoàn như một đơn vị
kinh doanh duy nhất, trong đó phản ánh toàn bộ tài sản do tập đoàn kiểm soát
và các nghĩa vụ đi kèm cũng như doanh thu và lợi nhuận phát sinh từ những
nghiệp vụ kinh tế giữa tập đoàn với các tổ chức, cá nhân ngoài tập đoàn.
Vì vậy, BCTCHN rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin tài chính
và tình hình kinh doanh của tập đoàn trong năm tài chính đã qua và những dự
đoán trong tương lai. Thông tin của BCTCH là căn cứ quan trọng cho việc đề
ra các quyết định về quản lý điều hành hoạt động kinh doanh hoặc đầu tư vào
tập đoàn của chủ sở hữu, các nhà đầu tư và các chủ nợ hiện tại và tương lai.
1.2.2. Xác định phạm vi hợp nhất
BCTCHN được lập cho một tập đoàn kinh tế, bao gồm 01 công ty mẹ và
số lượng công ty con lớn hơn hoặc bằng 01. Trong quá trình hoạt động kinh
doanh, công ty mẹ có thể mở rộng hoạt động kinh doanh thông qua đầu tư vào
10
- Trong nhiều trường hợp, ngay cả khi công ty đầu tư nắm giữ trên 50%
quyền biểu quyết nhưng vẫn không có khả năng kiểm soát công ty được đầu tư.
Đối với trường hợp này, nếu gộp cả công ty được đầu tư vào trong phạm vi hợp
nhất sẽ dẫn đến tình trạng BCTCHN sẽ bị mất tính hữu ích vốn có của nó.
- Trong nhiều trường hợp, công ty đầu tư nắm giữ dưới 50% tỷ lệ quyền
biểu quyết nhưng vẫn có khả năng kiểm soát. Theo tiêu chuẩn này, công ty
được đầu tư bị loại trừ ra khỏi phạm vi hợp nhất nhưng rõ ràng là nếu quyền
kiểm soát thực sự hiện hữu, công ty đầu tư có thể có nhiều thế lợi trong các
giao dịch nội bộ với những công ty bị kiểm soát này. Nếu như không gộp
những công ty bị kiểm soát này vào BCTCHN sẽ làm cho tính hữu ích của
BCTC bị giảm bớt.
- Tạo điều kiện dễ dàng cho nhà quản trị có thể thao túng một cách dễ
dàng trong việc xác định phạm vi hợp nhất bằng cách tăng hoặc giảm tỷ trọng
quyền biểu quyết đang nắm giữ. Ví dụ, chỉ cần tăng hoặc giảm 1% tỷ lệ quyền
biểu quyết thì một công ty được đầu tư với mức hiện tại tỷ lệ quyền biểu
quyết đang nắm giữ là 50% hoặc 51% sẽ được gộp hoặc bị loại khỏi phạm vi
hợp nhất kinh doanh.
Theo tiêu chuẩn về quyền kiểm soát thì căn cứ để xác định một công ty
được đầu tư có phải là công ty con hay không là công ty đầu tư có khả năng
kiểm soát được công ty được đầu tư hay không. Nếu câu trả lời là có thì công
ty được đầu tư là công ty con của công ty đầu tư. Ngược lại, nếu như câu trả lời
là không thì công ty được đầu tư không phải là công ty con của công ty đầu tư.
Về căn bản, quyền kiểm soát hiện hữu khi các điều kiện sau phải thỏa mãn:
- Khả năng kiểm soát cả chính sách tài chính và chính sách kinh doanh
của công ty được đầu tư.
- Khả năng đạt được lợi ích kinh tế từ đơn vị được đầu tư.
Trên phương diện lý thuyết, tiêu chuẩn này được coi là căn cứ ưu việt
12
hơn so với tiêu chuẩn quyền biểu quyết. Tuy nhiên, tiêu chuẩn này không dễ
dàng áp dụng trong thực tế, cần phải có sự nhận xét, phán đoán hợp lý của các
pháp luận có thể được thực hiện đối với trường hợp khác biệt này xét theo
tính hiệu quả của công tác hạch toán bao gồm:
- Thống nhất các thủ tục, chính sách kế toán khi lập BCTC cá thể của của
công ty mẹ và công ty con. Đối với trường hợp này, các thủ tục kế toán được
thống nhất chung giữa các đơn vị trong cùng một tập đoàn và được thực hiện
ngay khi lập BCTC cá thể của các công ty. Điều này có nghĩa là các nghiệp
vụ kinh tế tài chính được xử lý theo thủ tục kế toán nhất quán ngay từ trên sổ
sách kế toán của từng đơn vị thành viên trong tập đoàn. Như vậy, khi lập
BCTCHN, việc điều chỉnh chênh lệch phát sinh do sự khác biệt về chính sách
kế toán của các đơn vị trong tập đoàn là không cần thiết. Hơn nữa, thủ tục
nhất quán về các chính sách kế toán áp dụng chỉ được thực hiện 01 lần.
- Thống nhất các thủ tục, chính sách kế toán khi lập BCTCHN của công
ty mẹ và công ty con. Trong trường hợp các công ty không thể nhất quán
được các chính sách kế toán ngay cả khi các nghiệp vụ cùng loại trong cùng
hoàn cảnh do những đặc điểm cố hữu, khi lập BCTCHN phải tiến hành điều
chỉnh các khoản mục liên quan là cần thiết. Như vậy, mỗi khi BCTC được lập
thì việc điều chỉnh lại được thực hiện.
1.2.4. Quan điểm hợp nhất Báo cáo tài chính
Khi xem xét mục đích của BCTCHN, hai vấn đề cần phải được quan tâm
đến. Vấn đề thứ nhất là BCTCHN cung cấp các thông tin gì; vấn đề thứ hai là
BCTCHN cung cấp thông tin cho đối tượng nào. Đối với vấn đề thứ nhất,
phần trước của chủ đề đưa ra cho thấy mục đích của BCTCHN là trình bày
kết quả hoạt động kinh doanh, tình hình tài chính của toàn bộ tập đoàn như là
một thực thể kinh tế duy nhất. Đối với vấn đề thứ hai, trong trường hợp không
tồn tại lợi ích cổ đông thiểu số sẽ không có vấn đề xảy ra. Tuy nhiên, khi công
ty mẹ không sở hữu toàn bộ công ty con, tùy theo đối tượng khác biệt sử dụng
14
BCTCHN dẫn đến các thông tin trình bày trên BCTCHN không giống nhau.
Cho đến nay, 04 quan điểm BCTCHN được đề cập đến:
Quan điểm hợp nhất theo lý thuyết vốn chủ sở hữu.
được gọi bằng thuật ngữ “hợp nhất bộ phận”. Những điểm căn bản của quan
điểm hợp nhất theo vốn chủ sở hữu bao gồm:
+ BCTCHN chỉ bao gồm tài sản và nợ phải trên BCTC của công ty mẹ,
kết hợp với phần tài sản và nợ phải trả của công ty con tương ứng với lợi ích
kinh tế của công ty mẹ. Nói cách khác, BCTCHN không bao gồm toàn bộ tài
sản và nợ phải trả của công ty con, chỉ bao gồm phần tài sản thuần tương ứng
với công ty mẹ.
+ Cổ đông thiểu số được xác đinh là đối tượng bên ngoài tập đoàn, do
đó, phần vốn chủ sở hữu tương ứng với cổ đông thiểu số không được trình
bày trên BCTCHN.
+ Các nghiệp vụ giữa công ty mẹ và công ty con chỉ được điều chỉnh
theo mức độ tương ứng với lợi ích kinh tế của công ty mẹ.
+ Mô hình về quan điểm BCTCHN theo lý luận vốn chủ sở hữu được thể
hiện trong sơ đồ 1.4:
Sơ đồ 1.4: Quan điểm BCTCHN theo lý luận vốn chủ sở hữu
1.2.4.2 Quan điểm hợp nhất theo lý thuyết công ty mẹ
Theo quan điểm hợp nhất này, nếu như chỉ gộp tài sản và nợ phải trả
tương ứng với phần lợi ích của công ty mẹ thì BCTCHN chưa thực sự phản
ánh tình hình tài chính của tập đoàn vì thực tế là công ty mẹ có quyền kiểm
soát toàn bộ tài sản của công ty con chứ không phải chỉ có khả năng kiểm soát
16
-Aản, nợ phải
trả và vốn chủ sở
hữu công ty mẹ
-Aản, nợ phải trả
tương ứng với công
ty mẹ
-Aản, nợ phải trả
tương ứng với cổ
đông thiểu số
sở hữu công ty
mẹ
Tập đoàn
Tài sản, nợ phải
trả và vốn chủ sở
hữu công ty con-
cổ đông thiểu số
được coi là nợ
phải trả
Sơ đồ 1.5: Quan điểm BCTCHN theo lý luận công ty mẹ
1.2.4.3 Quan điểm hợp nhất theo lý thuyết công ty mẹ mở rộng
Quan điểm hợp nhất này lần đầu tiên được đề cập đến trong bản dự thảo
do Viện kiểm toán Ca-na-đa đề cập đến. Về cơ bản, quan điểm hợp nhất này
giống quan điểm hợp nhất theo lý luận công ty mẹ; tuy nhiên, việc tính toán
xác định tài sản, nợ phải trả cũng như lợi ích của cổ đông thiểu số được mở
rộng. Cơ sở khoa học của quan điểm này là các nhà đầu tư có thể nắm bắt tình
hình tài chính và kết quả hoạt động kinh doanh tốt hơn nếu họ được cung cấp
những BCTCHN trình bày toàn bộ tài sản, nợ phải trả của công ty con theo
giá hợp lý. So sánh với nội dung của quan điểm hợp nhất theo lý thuyết công
ty mẹ, quan điểm hợp nhất theo lý thuyết công ty mẹ mở rộng có 03 điểm
khác biệt là đánh giá tài sản ròng của công ty con, xác định và trình bày lợi
ích cổ đông thiểu số và loại trừ ảnh hưởng của các nghiệp vụ kinh tế nội bộ.
Tại thời điểm bắt đầu thiết lập quan hệ công ty mẹ-công ty con, toàn bộ
nợ phải trả của công ty con được đánh giá theo giá hợp lý. Lợi thế thương mại
chỉ xác định ở mức phân bổ cho công ty mẹ chứ không tính mức phân bổ cho
cổ đông thiểu số.
Sau khi quan hệ công ty mẹ-công ty con được thiết lập, lợi ích cổ đông
thiểu số tăng lên hoặc giảm xuống được xác định căn cứ vào lợi nhuận thuần
được trình bày trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh của công ty con,
mức điều chỉnh mức phân bổ (khấu hao) chênh lệch giữa giá ghi sổ và giá hợp
bày giữa nợ phải trả
và vốn chủ sở hữu
Tập đoàn
cổ đông thiểu sô phải nhất quán với những phương pháp kế toán áp dụng cho
công ty mẹ.
Tài sản và nợ phải trả của công ty con trình bày trên BCTCHN giống
như cách thức của quan điểm hợp nhất theo lý luận công ty mẹ mở rộng
nhưng lợi thế thương mại cũng được phân bổ cho cả cổ đông thiểu số.
Đối với các số liệu phát sinh từ nghiệp vụ nội bộ cần phải loại trừ 100% và
phân bổ cho cả công ty mẹ và công ty con theo lợi ích của các bên.
Lợi ích cổ đông thiểu số được vào phần vốn chủ sở hữu của Bảng cân
đối kế toán hợp nhất. Sơ đồ 1.7 mô tả quan điểm BCTCHN theo lý luận thực
thể kế toán.
Sơ đồ 1.7: Quan điểm BCTCHN theo lý luận thực thể kế toán
Về mặt lý luận kế toán, lý thuyết vốn chủ sở hữu và lý thuyết đơn vị kế
toán được xem là những cơ sở lý luận căn bản để không những lập Báo cáo tài
chính cá thể mà còn lập BCTCHN. Lý luận công ty mẹ và lý luận công ty mẹ
mở rộng được sử dụng đặc biệt trong quá trình giải thích và pháp luật hóa những
thực tế phát từ quá trình lập BCTCHN. Quá trình phát triển của bốn quan điểm
kế toán này được diễn ra theo trình tự: Lý thuyết vốn chủ sở hữu; Lý thuyết công
ty mẹ; Lý thuyết công ty mẹ mở rộng và Lý thuyết thực thể kế toán.
1.2.5. Ảnh hưởng đến Báo cáo tài chính hợp nhất đối với các phương
20
Tài sản, nợ phải
trả và vốn chủ
sở hữu công ty
mẹ
Tài sản, nợ phải trả
và vốn chủ sở hữu
công ty con-cổ đông
21
loại bỏ các bút toán điều chỉnh theo yêu cầu của phương pháp vốn chủ sở
hữu.
Tuy nhiên, phương pháp giá vốn tồn tại hai nhược điểm cơ bản. Thứ
nhất, phương pháp này không phản ánh thực chất kinh tế của công ty con vì
số lợi nhuận thuần hoặc lỗ trong kỳ của công ty con không được phản ánh
trực tiếp trên BCTC của công ty mẹ trong kỳ đó. Do công ty mẹ có khả năng
kiểm soát hoạt động kinh doanh và chính sách tài chính của công ty con nên
công ty mẹ có thể phóng đại số doanh thu tài chính từ hoạt động đầu tư vào
công ty con bằng nhiều cách khác nhau; chẳng hạn, công ty mẹ có thể tạo sức
ép công ty con phải phân phối số cổ tức lớn cho dù lợi nhuận thuần trong kỳ
của công ty này nhỏ hoặc công ty mẹ không phản ánh số lỗ mà công ty con
phải gánh chịu trong kỳ. Nhược điểm này của phương pháp giá vốn bị chỉ
trích ở chỗ nó không cung cấp cho các nhà đầu tư những thông tin kinh tế để
đánh giá khả năng sinh lời và bức tranh tài chính có liên quan đến khoản đầu
tư vào công ty con. Thứ hai, khi BCTCHN được lập, rất nhiều thủ tục kế toán
liên quan phải được thực hiện để xác định số lợi nhuận chưa phân phối đầu kỳ
giống như chỉ tiêu này được lập theo phương pháp vốn chủ sở hữu.
Theo phương pháp vốn chủ sở hữu, giá vốn hợp nhất kinh doanh được
phản ánh trên tài khoản “đầu tư vào công ty con”. Sau đó, tài khoản này được
điều chỉnh tăng lên hoặc giảm xuống tùy thuộc vào số lợi nhuận thuần hoặc
số lỗ của công ty con trong kỳ, số phân bổ chênh lệch giữa giá hợp lý và giá
ghi sổ tài sản- nợ phải trả của công ty con tại thời điểm hợp nhất, số phân bổ
lợi thế thương mại phát sinh, số lợi nhuận hoặc lỗ chưa thực hiện phát sinh từ
những nghiệp vụ nội bộ trong tập đoàn phân bổ cho công ty mẹ và số cổ tức
công ty mẹ được chia trong kỳ. Theo đó, phương pháp này ghi nhận doanh
thu hoạt động tài chính do đầu tư vào công ty con theo số lợi nhuận được
công ty con thực hiện theo quan điểm hợp nhất chứ không phải số cổ tức
22
được công ty này phân phối hay công bố phân phối trong kỳ; do đó, phương
23
]ương pháp giá vốn
thực tế
]ương pháp vốn chủ
sở hữu
]ương pháp vốn chủ
sở hữu không hoàn
hảo
!ống
nhau (nếu áp
dụng cùng
quan điểm hợp
nhất)
Oự khác
biệt về
phương
thức loại
trừ và điều
chỉnh khi
lập
BCTCHN
Sơ đồ 1.8: Mối quan hệ giữa phương pháp kế toán khoản đầu tư vào công ty
con trên BCTC của công ty mẹ và kết quả trình bày trên BCTCHN
1.2.6. Lợi thế thương mại, bất lợi thương mại
1.2.6.1. Lợi thế thương mại
Lợi thế thương mại là một khoản mục gây ra nhiều tranh luận trong
những năm gần đây. Khoản mục này đem lại cho đơn vị lợi thế trong khi cạnh
tranh với đơn vị khác vì danh tiếng, sự ổn định, kỹ thuật hiện đại và cả những
tài sản vô hình khác. Theo đó, lợi thế thương mại có thể đem lại siêu lợi
nhuận cho đơn vị sở hữu nó so với những đơn vị khác thông qua quá trình sản