MỤC LỤC
DANH MỤC CHỮ CÁI VIẾT TẮT
STT Ký hiệu Nghĩa đầy đủ
1 BĐ Bưu điện
2 CP Cổ phần
3 DL Du lịch
4 TM Thương mại
5 TNHH Trách nhiệm hữu hạn
6 VLĐ Vốn lưu động
DANH MỤC SƠ ĐỒ, BIỂU ĐỒ
Số hiệu biểu Tên biểu Trang
Biểu đồ 2.1 Biểu đồ tình hình tăng trưởng doanh thu của Công ty 44
Sơ đồ 2.2 Sơ đồ bộ máy tổ chức của Công ty 47
DANH MỤC BẢNG BIỂU
Số hiệu
biểu
Tên biểu Trang
Bảng 2.1 Hồ sơ kinh nghiệm thi công xây lắp của Hacisco 49
Bảng 2.2 Cơ cấu vốn sản xuất kinh doanh của Công ty 55
Bảng 2.3 Cơ cấu vốn lưu động của Công ty 58
Bảng 2.4 Cơ cấu vốn bằng tiền của Công ty 62
Bảng 2.5 Xác định thời gian một vòng quay tiền mặt của Công ty 64
Bảng 2.6 Cơ cấu các khoản phải thu của Công ty 68
Bảng 2.7
Xác định thời gian một vòng quay các khoản phải thu
của Công ty
71
Bảng 2.8 Cơ cấu hàng tồn kho của Công ty 75
Bảng 2.9
Xác định thời gian một vòng quay hàng tồn kho của
Công ty
Bảng
2.17
So sánh tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động
98
Bảng
2.18
Khả năng thanh toán hiện hành
100
Bảng 2.19 So sánh khả năng thanh toán hiện hành 101
Bảng Khả năng thanh toán nhanh 102
Số hiệu
biểu
Tên biểu Trang
2.20
Bảng
2.21
So sánh khả năng thanh toán nhanh
103
Bảng
2.22
Khả năng thanh toán tức thời
104
Bảng
2.23
So sánh khả năng thanh toán tức thời
105
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Ngày 07 tháng 11 năm 2006, Việt Nam chính thức gia nhập Tổ chức
Thương mại Thế giới (WTO). Có thể thấy rõ, sau khi Việt Nam gia nhập
Về lý luận, quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là vấn đề
không mới và đã có rất nhiều công trình nghiên cứu khác nhau về vấn đề này,
có thể đưa ra một số đề tài nghiên cứu:
- “Nâng cao hiệu quả quản trị vốn lưu động tại Nhà máy gạch ngói Long
Xuyên” của Phạm Thị Đức Hạnh – Trường Đại học An Giang - năm 2004
- “Những giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn kinh doanh
của doanh nghiệp thương mại TNHH trên địa bàn Hà Nội” của Nguyễn Thị
Mai Anh – Đại học Kinh tế quốc dân – năm 2005
- “Vốn lưu động và hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty Cổ phần
Thiết bị thương mại Thương Mại” của Trần Thị Mỹ An - Đại học Thương
Mại - Năm 2004
- Và một số đề tài khác.
Tuy nhiên, chưa có một công trình nghiên cứu nào đề cập một cách toàn
diện và cụ thể về quản trị và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại
Công ty Hacisco.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
* Mục đích nghiên cứu:
- Hoàn thiện các vấn đề lý luận về quản trị và hiệu quả sử dụng vốn lưu
động trong các doanh nghiệp.
2
- Phân tích thực trạng công tác quản trị và sử dụng vốn lưu động tại Công
ty Hacisco, từ đó đề xuất một số biện pháp quản trị vốn lưu động nhằm nâng
cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty trong thời gian tới
* Nhiệm vụ nghiên cứu:
- Hệ thống hoá các vấn đề lý luận cơ bản về quản trị và nâng cao hiệu
quả sử dụng vốn lưu động.
- Phân tích và đánh giá thực trạng quản trị và sử dụng vốn lưu động tại
Công ty Hacisco.
- Đề xuất các biện pháp quản trị vốn lưu động nhằm nâng cao hiệu quả
sử dụng vốn lưu động cho Công ty.
Phát hiện, phân tích và đánh giá ưu nhược điểm trong công tác quản trị
và sử dụng vốn lưu động tại Công ty trong 4 năm từ 2005-2008, từ đó đưa ra
các biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động tại Công ty trong thời
gian tới.
7. Bố cục của luận văn
Bố cục của luận văn ngoài phẩn mở đầu và kết luận gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về quản trị và sử dụng vốn lưu động tại doanh nghiệp.
Chương 2: Thực trạng công tác quản trị và sử dụng vốn lưu động tại
Công ty Cổ phần Xây lắp Bưu điện Hà Nội (Hacisco).
Chương 3: Biện pháp quản trị nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu
động tại Công ty Cổ phần Xây lắp Bưu điện Hà Nội (Hacisco)
trong thời gian tới.
4
Chương 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ QUẢN TRỊ VÀ SỬ DỤNG
VỐN LƯU ĐỘNG TẠI DOANH NGHIỆP
1.1. KHÁI NIỆM, PHÂN LOẠI VÀ VAI TRÒ CỦA VỐN LƯU ĐỘNG
1.1.1. Khái niệm vốn lưu động
Cũng như các ngành sản xuất khác, ngành xây dựng cơ bản muốn tiến
hành hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra sản phẩm thì cần phải có đủ ba yếu
tố cơ bản của quá trình sản xuất đó là: sức lao động, tư liệu lao động và đối
tượng lao động.
Trong đó sức lao động là tổng hợp thể lực, trí lực của con người, là điều
kiện tiên quyết của mọi quá trình sản xuất xã hội. Mọi quá trình vận động
phát triển sản xuất kinh doanh đều đòi hỏi sức lao động ngày càng có chất
lượng cao hơn.
Tư liệu lao động là một vật hay một hệ thống những vật làm nhiệm vụ
truyền dẫn sự tác động của con người đến đối tượng lao động, làm thay đổi
hình thái tự nhiên của nó, biến đối tượng lao động thành sản phẩm thoả mãn
nhu cầu của con người.
vốn bằng tiền, các khoản vốn đầu tư ngắn hạn, các khoản vốn trong thanh toán.
Các quá trình trên diễn ra thường xuyên liên tục lặp đi lặp lại theo chu kỳ
và được gọi là quá trình tuần hoàn, chu chuyển của vốn lưu động.
Do các nhà doanh nghiệp sản xuất hoạt động theo phương thức T - H -
SX - H’ - T’ nên hình thái ban đầu của vốn lưu động là tiền tệ rồi chuyển sang
hình thái nguyên vật liệu dự trữ. Qua giai đoạn sản xuất, nguyên vật liệu được
đưa vào chế tạo thành sản phẩm hoặc bán thành phẩm. Kết thúc quá trình vận
6
động, sau khi sản phẩm đã được tiêu thụ vốn tất cả các giai đoạn của quá trình
sản xuất và thường xuyên chuyển từ dạng này sang dạng khác.
Trong các doanh nghiệp khác nhau thì sự vận động của vốn lưu động là
khác nhau. Chẳng hạn, trong các doanh nghiệp thương mại thì phương thức
vận động của vốn là T – H – T’. Do vậy bắt đầu quá trình vận động vốn lưu
động từ hình thái tiền tệ chuyển sang hình thái hàng hoá và kết thúc lại trở về
hình thái tiền tệ chứ không qua giai đoạn sản xuất, chế biến.
Như vậy, chúng ta có thể khái quát những nét đặc thù về sự vận động
của vốn lưu động trong quá trình sản xuất kinh doanh như sau:
* Vốn lưu động chỉ tham gia vào một chu kỳ sản xuất kinh doanh, vốn lưu
động được phân bổ khắp cả trong và ngoài doanh nghiệp. Nó có liên quan đến
tất cả mọi người trong doanh nghiệp và những đối tượng ngoài doanh nghiệp.
* Vốn lưu động được chuyển dịch toàn bộ và một lần vào giá trị sản phẩm.
* Vốn lưu động vận động thường xuyên và nhanh hơn vốn cố định. Vốn
lưu động biến đổi từ hình thái này qua hình thái khác và sau đó sẽ chuyển về
hình thái ban đầu. Qua quá trình vận động, vốn lưu động không chỉ biến đổi
về hình thái, mà quan trọng hơn nó còn tạo nên sự biến đổi về giá trị.
Những thông tin về sự biến đổi này rất cần thiết cho sự tìm ra phương
hướng, biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động, mặt khác
việc thu hồi vốn lưu động sau mỗi chu kỳ sản xuất kinh doanh có tác dụng
trực tiếp đến hoạt động của doanh nghiệp vì có thể thu hồi vốn lưu động thì
doanh nghiệp mới có thể tiến hành mua sắm vật tư, thiết bị, trang trải nợ nần
* Vốn ban đầu của chủ sở hữu: Là số tiền đóng góp của các nhà đầu tư
người chủ sở hữu doanh nghiệp nó phụ thuộc vào loại hình của doanh nghiệp.
- Đối với doanh nghiệp nhà nước: Nguồn vốn chủ sở hữu do nhà nước
(hay ngân sách nhà nước) cấp phát nên được gọi là vốn ngân sách nhà nước.
8
- Đối với công ty cổ phần: Nguồn vốn này được biểu hiện dưới hình thức
vốn cổ phần, vốn này do những người sáng lập công ty phát hành cổ phiếu để
huy động thông qua việc bán các cổ phiếu đó.
- Đối với doanh nghiệp tư nhân: Nguồn vốn này do chủ doanh nghiệp
đầu tư hay các hội viên liên kết cùng nhau bỏ ra để đầu tư hình thành doanh
nghiệp, nên được gọi là vốn tự có.
- Đối với doanh nghiệp liên doanh: Nguồn vốn này được biểu hiện dưới
hình thức vốn liên doanh, vốn này được hình thành do sự đóng góp giữa các
chủ đầu tư hoặc các doanh nghiệp để hình thành các doanh nghiệp mới.
* Vốn doanh nghiệp tự bổ sung: Là số vốn được bổ sung hàng năm từ lợi
nhuận hoặc từ các quỹ của doanh nghiệp. Ngoài ra cần phải kể đến số vốn do
các chủ sở hữu bổ sung mở rộng quy mô, nâng cao hiệu quả kinh doanh.
Bên cạnh đó, vốn chủ sở hữu còn bao gồm chênh lệch đánh giá lại tài
sản, quỹ phát triển sản xuất, quỹ dự trữ, chênh lệch tỷ giá, quỹ khen thưởng,
quỹ phúc lợi, vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí sự nghiệp.
b) Nguồn vốn tín dụng (vốn vay).
Trong nền kinh tế thị trường, ngoài nguồn vốn chủ sở hữu nguồn vốn tín
dụng vẫn luôn được coi là nguồn vốn quan trọng thường xuyên và hiệu quả
đối với hầu hết các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế cả trên lý
thuyết cũng như thực tế.
Vốn vay có ý nghĩa quan trọng không những chỉ ở khả năng tài trợ các
nhu cầu bổ sung cho việc mở rộng và phát triển sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp mà còn tạo điều kiện linh hoạt trong việc thu hẹp quy mô kinh
doanh bằng việc hoàn trả các khoản nợ đến hạn và giảm số lượng vốn vay.
Nguồn vốn tín dụng được thực hiện dưới các phương thức chủ yếu sau:
các tổ chức tín dụng. Tuy nhiên, không phải bất cứ doanh nghiệp nào cũng có
thể phát hành trái phiếu.
10
Như vậy, trong nền kinh tế thị trường, vốn lưu động được hình thành từ
nhiều nguồn khác nhau, bằng các hình thức huy động rất đa dạng và phong
phú. Mỗi hình thức có ưu điểm, nhược điểm nhất định. Vì vậy các nhà quản
trị tài chính cần phải lựa chọn các phương pháp và hình thức thích hợp đảm
bảo cho doanh nghiệp hoạt động liên tục với chi phí sử dụng vốn thấp nhất.
1.1.3. Vai trò của vốn lưu động
Vốn trong các doanh nghiệp có vai trò quyết định đến việc thành lập,
hoạt động và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Nó là điều kiện tiên quyết,
quan trọng nhất của sự ra đời, tồn tại và phát triển của các doanh nghiệp. Là
một bộ phận không thể thiếu được trong vốn kinh doanh của các doanh
nghiệp, vốn lưu động có những vai trò chủ yếu sau.
Một là: Vốn lưu động giúp cho các doanh nghiệp tiến hành hoạt động
sản xuất kinh doanh một cách liên tục có hiệu quả. Nếu vốn lưu động bị thiếu
hay luân chuyển chậm sẽ hạn chế việc thực hiện mua bán hàng hoá, làm cho
các doanh nghiệp không thể mở rộng được thị trường hay có thể bị gián đoạn
sản xuất dẫn đến giảm sút lợi nhuận gây ảnh hưởng xấu đến hiệu quả kinh
doanh của doanh nghiệp.
Hai là: Do đặc điểm của vốn lưu động là phân bố khắp trong và ngoài
doanh nghiệp, đồng thời chúng lại chu chuyển nhanh nên thông qua quản lý
và sử dụng vốn lưu động, các nhà tài chính doanh nghiệp có thể quản lý toàn
diện tới việc cung cấp, sản xuất và phân phối của doanh nghiệp. Chính vì vậy,
có thể nói rằng vốn lưu động là một công cụ quản lý quan trọng. Nó kiểm tra,
kiểm soát, phản ánh tính chất khách quan của hoạt động tài chính thông qua
đó giúp cho các nhà quản trị doanh nghiệp đánh giá những mặt mạnh, mặt yếu
trong kinh doanh như khả năng thanh toán, tình hình luân chuyển vật tư, hàng
hoá, tiền vốn, từ đó có thể đưa ra những quyết định đúng đắn đạt được hiệu
quả kinh doanh cao nhất.
mặt, do đó việc dự trữ tiền mặt tại doanh nghiệp là cần thiết và rất quan trọng.
Động cơ chủ yếu của việc nắm giữ tiền mặt trong doanh nghiệp là để
làm thông suốt các giao dịch trong kinh doanh cũng như duy trì khả năng
thanh toán của doanh nghiệp ở mọi thời điểm. Ngoài ra,còn xuất phát từ nhu
cầu dự phòng để ứng phó với những nhu cầu bất thường chưa dự đoán được
và động lực đầu cơ trong việc dự trữ tiền mặt để sẵn sàng sử dụng khi xuất
hiện các cơ hội kinh doanh có tỷ suất lợi nhuận cao. Việc duy trì mức dự trữ
tiền mặt đủ lớn còn tạo điều kiện cho doanh nghiệp có cơ hội thu chiết khấu
từ các nhà cung cấp.
Nội dung chủ yếu của việc quản trị vốn bằng tiền bao gồm:
* Xác định số dư tiền mặt mục tiêu:
Số dư tiền mặt mục tiêu bao gồm sự đánh đổi giữa chi phí cơ hội của
việc nắm giữ quá nhiều tiền mặt và chi phí giao dịch của việc nắm giữ quá ít
tiền mặt.
William Baumol là người đầu tiên đưa ra mô hình quản lý tiền mặt chính
thức liên kết giữa chi phí cơ hội và chi phí giao dịch (C*). Mô hình của ông
có thể được dùng để tính toán mức số dư tiền mặt mục tiêu và được xác định
bằng công thức:
Trong đó:
C*: Số dư tiền mặt mục tiêu.
T: Tổng nhu cầu về tiền mặt trong một chu kỳ.
F: Chi phí một lần giao dịch.
K: Lãi suất trên thị trường.
13
2*T*F
C
*
O
=
thừa tiền mặt tạm thời, công ty có thể đầu tư vào các chứng khoán ngắn hạn.
Các loại chứng khoán có khả năng chuyển đổi thành tiền mặt cao là những
công cụ tài chính được mua bán trên thị trường tiền tệ hay thị trường vốn có
tính linh hoạt rất cao. Việc đầu tư vào các loại chứng khoán này có vai trò
như một bước đệm cho quản lý tiền mặt, khi lượng tiền mặt của doanh nghiệp
giảm thấp hơn mức ấn định, các loại chứng khoán này được dùng để chuyển
đổi nhanh thành tiền mặt. Ngược lại, tiền nhàn rỗi có thể được đầu tư tạm thời
vào các loại chứng khoán này. Tuy nhiên, khi đầu tư vào các loại chứng
khoán cần xem xét kỹ các đặc tính như tính thanh khoản, tính rủi ro, thời gian
đáo hạn, lợi nhuận kỳ vọng.
Để thực hiện các nội dung quản lý tiền mặt nói trên doanh nghiệp có thể
sử dụng các biện pháp như:
- Tăng tốc độ thu hồi tiền mặt
- Giảm tốc độ chi tiêu tiền mặt
Trong đó tăng tốc độ thu hồi tiền mặt có thể được thực hiện thông qua
việc khuyến khích khách hàng thanh toán sớm với việc áp dụng chính sách
chiết khẩu đối với các khoản nợ được thanh toán trước hay đúng hạn, quy
định phương thức thanh toán phù hợp với từng đối tượng khách hàng tổ chức
theo dõi và đôn đốc thu hồi công nợ.
Giảm tốc độ chi tiêu tiền mặt là việc thay vì dùng tiền thanh toán sớm
các hoá đơn mua hàng, người quản lý tài chính có thể trì hoãn việc thanh toán
trong phạm vi thời gian và các chi phí tài chính, tiền phạt hay sự suygiảm vị
thế tín dụng của doanh nghiệp thấp hơn những lợi ích cho việc thanh toán
chậm mang lại.
15
1.2.2 Quản trị các khoản phải thu, phải trả
Việc chiếm dụng vốn lẫn nhau trong hoạt động sản xuất kinh doanh là
một nét đặc trưng trong quan hệ kinh tế giữa các chủ thể, thậm chí còn được
coi là một “sách lược” trong kinh doanh trên thị trường. Các khoản phải thu
chính là số vốn doanh nghiệp bị chiếm dụng, các khoản phải trả là số vốn
tính hữu hiệu của chính sách thu tiền của doanh nghiệp, kịp thời phát hiện các
khoản tín dụng có vấn đề để có biện pháp giải quyết thích ứng. Để theo dõi
các khoản phải thu, phải trả có thể sử dụng các công cụ sau đây.
- Kỳ thu, trả tiền bình quân:
Kỳ thu tiền bình quân phản ánh số ngày cần thiết để thu được các khoản
phải thu, kỳ trả tiền bình quân phản ánh số ngày cần thiết để doanh nghiệp trả
các khoản phải trả, được xác định theo công thức:
Mục tiêu trong quản lý các khoản phải thu, phải trả của doanh nghiệp là
“thu sớm và trả muộn”. Tuy nhiên, trong trường hợp doanh nghiệp thành công
trong việc thực hiện như trên, khách hàng và nhà cung cấp bị thiệt, và sự đánh
đổi ở đây chính là sự tác động đối với mối quan hệ giữa doanh nghiệp với các
đối tác trên. Cho nên, kỳ thu tiền bình quân cao hay thấp trong nhiều trường
17
=
360
Vßng quay c¸c kho¶n ph¶i thu
=
360*Sè d b×nh qu©n c¸c kho¶n ph¶i thu
Doanh thu thuÇn (Trong kú)
Kỳ thu tiền bình quân
=
360
Vßng quay c¸c kho¶n ph¶i tr¶
=
18
doanh nghiệp. Quản lý hàng tồn kho dự trữ trong các doanh nghiệp là rất quan
trọng bởi vì nếu dự trữ không hợp lý sẽ làm cho quá trình sản xuất kinh doanh
bị giám đoạn, hiệu quả kém. Việc quản lý hàng tồn kho có hiệu qủa phải đạt
được 2 mục tiêu sau:
- Mục tiêu an toàn: Đòi hỏi doanh nghiệp cần phải có một khối lượng
hàng hóa dự trữ đủ để đảm bảo sản xuất và bán ra thường xuyên, liên tục.
- Mục tiêu kinh tế: Đảm bảo chi phí cho dự trữ là thấp nhất.
Để kết hợp hài hoà giữa hai mục tiêu này, nhà kinh tế Ford. W. Harris đã
đề xuất mô hình EOQ (Economic Order Quantity Model) áp dụng trong quản
lý hàng tồn kho để tối thiểu hoá chi phí hàng tồn kho và tối đa hoá an toàn
trong cung ứng, đã được hầu hết các doanh nghiệp sử dụng. Mô hình này giả
thiết rằng:
- Một lượng hàng hoá như nhau được đặt tại mỗi thời điểm đặt hàng lại.
- Các nhà quản lý chỉ quan tâm tới chi phí bảo quản và chi phí đặt hàng
là những chi phí chịu ảnh hưởng bởi số lượng hàng tồn kho.
Theo lý thuyết về mô hình này thì số lượng hàng đặt hiệu quả là:
Trong đó :
EOQ: Số lượng hàng đặt hiệu quả.
S: Tổng nhu cầu về hàng lưu kho trong một năm
O: Chi phí một lần đặt hàng
C: Chi phí bảo quản một đơn vị hàng hoá trong năm
Vậy mức dữ trữ trung bình tối ưu là: Q*/2
Theo giả thuyết của mô hình thì nhu cầu và thời gian đặt hàng là xác
19
EOQ
= Q*
=
20
Q*
+ Dù tr÷ an toµn thùc tÕ
2