LỜI CAM ĐOAN
Bằng kiến thức được trang bò trong chương trình Cao học chuyên ngành
Quản trò kinh doanh tại Trường Đại Học Quốc Gia Hà nội, xuất phát từ tầm
quan trọng và nhu cầu thực tế của các doanh nghiệp việt nam nói chung và
của Công ty cổ phần vàng bạc đá q Phú nhuận nói chung đối với công tác
xây dựng và quản lý thương hiệu tôi đã lựa chọn Đề tài:
“Một số giải pháp cải tiến công tác xây dựng và quản lý thương hiệu
của Công ty cổ phần vàng bạc đá q Phú nhuận trên thò trường Việt nam”
làm luận văn tốt nghiệp của mình.
Với sự giúp đỡ của các thầy cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp cùng các tài
liệu tham khảo của công ty cũng như tài liệu của một số tác giả (có danh sách
đính kèm) tôi đã hoàn thành được luận văn của mình.
Bằng thực tế công tác và nghiên cứu của mình tại Công ty cổ phần vàng
bạc đá q Phú nhuận tôi xin cam đoan chòu hoàn toàn trách nhiệm về đề tài
nghiên cứu của mình và đảm bảo luận văn không sao chép hay trùng lặp với
bất kỳ công trình nghiên cứu nào của công ty, các doanh nghiệp cùng ngành
hay công trình nghiên cứu của bất cứ tác giả nào khác.
Với nỗ lực của mình hy vọng rằng nghiên cứu này đáp ứng được yêu cầu
đối với một công trình Luận văn thạc só Quản trò kinh doanh cũng như đóng
góp được cho thực tế công tác xây dựng và quản lý thương hiệu tại Công ty
cổ phần vàng bạc đá q Phú nhuận.
Rất mong được những ý kiến đóng góp của các thầy cô giáo cũng như bạn
bè, đồng nghiệp để tôi có thể bổ sung thêm kiến thức của mình cũng như
chuẩn bò tốt hơn cho các công trình tiếp theo.
Xin chân thành cám ơn !
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Tồn tại và phát triển là vấn đề cơ bản và lâu dài của doanh nghiệp nói
chung, tuy nhiên để đảm bảo điều này trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cụ
thể doanh nghiệp lại cần thực hiện những mục tiêu và công tác cụ thể khác
nhau. Trong giai đoạn hiện nay của việt nam một trong những vấn đề cơ bản
thương hiệu mạnh thì thông thường khả năng huy động vốn từ các ngân hàng
cũng như đối tác là hết sức đơn giản và thuận lợi, điều này mang lại những cơ
hội không nhỏ cho doanh nghiệp nhất là trong xu thế phát triển hiện nay.
Tuy nhiên thương hiệu mạnh cũng không phải luôn gặp thuận lợi, bức
xúc của nhiều doanh nghiệp hiện nay là ở bất cứ đâu bên cạnh những sản
phẩm có uy tín, chất lượng cao, có thương hiệu được khách hàng ưa chuộng
luôn xuất hiện những sản phẩm làm nhái, làm giả. Điều này gây không ít
phiền toái và thiệt hại cho khách hàng, đồng thời nó còn tác động xấu và lâu
dài tới uy tín và hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Hiện nay nhiều công ty tập đoàn lớn trên thế giới như Cocacola, Toyota,
Samsung, Heineken… mặc dù đã chiếm lónh thò phần đáng kể ở hầu hết các
quốc gia trên thế giới nhưng vẫn không ngừng quảng bá và phát triển thương
2
hiệu của mình mà cụ thể là ngay trên thò trường việt nam. Không dừng lại ở
đó, một số công ty đã bắt đầu khai thác các thương hiệu Việt Nam bằng cách
mua lại các thương hiệu đã có tiếng rồi phát triển và khai thác một cách bài
bản, điều này chỉ ra rằng nếu không có chiến lược cụ thể thì các thương hiệu
việt nam rất dễ lọt vào tay các nhà đầu tư nước ngoài.
Tóm lại, qua một số vấn đề nói trên nhìn một cách tổng thể thì có thể thấy
phần lớn các doanh nghiệp việt nam chưa nhận thức được một cách đầy đủ về
giá trò và tầm quan trọng của thương hiệu, chưa ý thức được rằng thương hiệu là
tài sản, là vũ khí cạnh tranh sắc bén để thành công và khẳng đònh vò thế của
mình không chỉ ở thò trường trong nước mà còn trên thò trường quốc tế do đó chưa
có ý thức và kế hoạch đầy đủ để xây dựng và quản lý thương hiệu của mình.
Bên cạnh đó yếu tố môi trường cũng không thể không nhắc tới. Trong
thời gian gần đây hàng loạt các chương trình hội nghò, toạ đàm, đánh giá tôn
vinh thương hiệu đã được tổ chức với sự quan tâm của đông đảo quần chúng,
các chuyên gia, các cơ quan chức năng cũng như nhiều thành phần kinh tế
khác nhau. Với sự hỗ trợ của báo chí và các phương tiện thông tin đại chúng
các chương trình này đã ngày càng gần gũi hơn và có tác động, ảnh hưởng
Hà Nội tôi quyết đònh lựa chọn đề tài: “ Một số giải pháp cải tiến công tác
xây dựng và quản lý thương hiệu của Công ty cổ phần vàng bạc đá q
Phú Nhuận trên thò trường Việt Nam” làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
4
2- Tình hình nghiên cứu :
Trên thế giới sự phát triển thành công một cách nhanh chóng và rộng
khắp của hàng loạt các thương hiệu có xuất xứ từ các khu vực khác nhau với
các chủng loại hàng hoá sản phẩm dòch vụ khác nhau (General Motor,
Toyota, Deawoo… trong ngành công nghiệp ô tô; Electrolux, Samsung, Sony…
trong ngành hàng điện tử; Unilever, Macdonal… trong ngành thực phẩm;
Hilton, Sofitel…trong ngành du lòch khách sạn; Shell, Caltex, BP… trong ngành
hoá chất và xăng dầu,…) đã thể hiện rõ sự nhận thức của các doanh nghiệp
trên thế giới đối với giá trò của thương hiệu cũng như sự quan tâm đầu tư cho
xây dựng và quản lý thương hiệu. Sự phát triển một cách bài bản này cũng
chỉ ra rằng đã có sự quan tâm nghiên cứu và tư vấn sâu sát của các chuyên
gia quốc tế về thương hiệu.
Tại Việt Nam nhiều doanh nghiệp đã quan tâm đến việc xây dựng phát
triển và bảo vệ thương hiệu (như Sữa Vinamilk, đệm cao su Kim Đan, cà phê
Trung Nguyên… ) tuy nhiên phần lớn các doanh nghiệp khác chưa có nhận
thức đúng mức về vấn đề thương hiệu. Nhiều doanh nghiệp mặc dù đã có sự
quan tâm nhưng thường chỉ mới dừng lại ở việc đăng ký sở hữu đối với
thương hiệu của mình mà thôi.
Nhiều chuyên gia, tổ chức cũng đã có sự quan tâm nghiên cứu về vấn đề
thương hiệu tuy nhiên các công trình cũng chỉ mới dừng lại ở mức độ cơ sở lý
thuyết về một số khâu hay một bộ phận của công tác xây dựng và quản lý thương
hiệu chứ chưa hệ thống được một cách toàn diện và cụ thể, một số tài liệu :
5
- Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Trung tâm thông tin kinh tế - xã hội quốc gia
(2004), Doanh nghiệp Việt Nam với vấn đề thương hiệu trong quá trình hội
nhập kinh tế quốc tế, Nxb Thống kê.
phần hoàn thiện công tác xây dựng và quản lý thương hiệu của công ty trong
giai đoạn tới.
4- Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu là thương hiệu của công ty PNJ trên thò trường
Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu là nhận thức và các vấn đề liên quan đến quá trình
thực hiện công tác xây dựng và quản lý thương hiệu của công ty PNJ trên thò
trường Việt Nam.
5- Phương pháp nghiên cứu:
Luận văn sử dụng một số phương pháp khác nhau làm cơ sở cho việc nghiên
cứu như: Tổng hợp và phân tích, duy vật biện chứng, phương pháp thống kê, so
sánh , suy luận thực tiễn, thu thập dữ liệu sơ cấp qua điều tra thò trường …
6- Dự kiến những đóng góp mới của luận văn :
Lý luận:
7
- Góp phần hệ thống hoá lý luận cơ bản về thương hiệu doanh nghiệp
trong ngành kinh doanh vàng bạc trang sức.
Thực tiễn :
- Làm rõ vai trò và giá trò của thương hiệu đối với doanh nghiệp kinh
doanh vàng bạc trang sức, qua đó phân tích được các nhân tố tác động tới
việc xây dựng và quản lý thương hiệu của sản phẩm vàng bạc trang sức trên
thò trường Việt Nam.
- Đánh giá được thực trạng thương hiệu của công ty PNJ trên thò trường
Việt Nam và đưa ra giải pháp xây dựng và quản lý thương hiệu sản phẩm của
công ty PNJ trên thò trường Việt Nam.
7- Bố cục của luận văn :
Bố cục của luận văn gồm 3 chương :
Chương 1:
MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ XÂY DỰNG VÀ QUẢN LÝ THƯƠNG HIỆU
CỦA DOANH NGHIỆP.
một cái tên, một từ ngữ, một dấu hiệu, một biểu tượng , một hình vẽ hay sự
phối hợp tất cả các yếu tố kể trên nhằm xác đònh một sản phẩm của một hay
một nhóm người bán cũng như phân biệt nó với hàng hoá hay dòch vụ của
những người bán khác”.
10
Theo Philip Kotler, một chuyên gia Marketing nổi tiếng thế giới thì “
Thương hiệu có thể được hiểu như là tên gọi, thuật ngữ, biểu tượng hình vẽ
hay sự phối hợp giữa chúng được dùng để xác nhận sản phẩm của người bán
và để phân biệt với sản phẩm của đối thủ cạnh tranh”.
Về cơ bản cả hai đònh nghóa trên đều chỉ ra rằng thương hiệu không phải
là sản phẩm mà là dấu hiệu, là căn cứ để phân biệt giữa các sản phẩm của
những người bán khác nhau.
Theo một số tài liệu trong nước thì thương hiệu thường được sử dụng khi
nhắc tới Nhãn hiệu hàng hoá (Tiger beer), tên thương mại của một tổ chức
hay cá nhân dùng trong hoạt động kinh doanh ( YAMAHA), hay các chỉ dẫn
đòa lý và tên gọi xuất xứ hàng hoá ( Cà phê Buôn Mê Thuật, nước mắm Phú
Quốc). Theo đánh giá của Richard More một chuyên gia nghiên cứu về
thương hiệu có uy tín thì cụm từ thương hiệu hiện đang được sử dụng một
cách tuỳ tiện không chỉ ở Việt nam mà còn ở nhiều nơi trên thế giới.
Trong cuốn “ Quản trò thương hiệu hàng hoá” Nhà XB Thống kê tháng 1
năm 2005 theo tác giả Trương Đình Chiến cùng các cộng sự thì hiện nay khái
niệm khái niệm Nhãn hiệu hay Thương hiệu trong các tài liệu tiếng việt đều
được dòch nghóa từ thuật ngữ “ Brand” trong tiếng Anh vì vậy chúng là một
và hoàn toàn có thể sử dụng thay thế cho nhau. Đồng thời với quan điểm “
Sản phẩm là tất cả những thứ đáp ứng nhu cầu tiềm năng của khách hàng bao
gồm cả sản phẩm vật chất và sản phẩm dòch vụ hay ý tưởng” thì trong các tài
liệu Marketing mà họ đã nghiên cứu không có từ nào khác ngoài từ “ Brand”
để nói về các yếu tố vô hình của sản phẩm.
Trên thực tế thương hiệu đang được hình thành và sử dụng theo nhiều cách
khác nhau như sử dụng cho một loại sản phẩm, một mặt hàng, một nhóm mặt
1.1.2.1 Tên Thương hiệu
Tên được sử dụng để chỉ đònh đích danh và để phân biệt các chủ thể
khác nhau. Cũng giống như tên người, tên doanh nghiệp, tên thương hiệu
cũng được sử dụng để chỉ đònh đích danh và phân biệt giữa các thương hiệu
với nhau. Một Doanh nghiệp hay Công ty có thể có một hay nhiều thương
hiệu khác nhau như Công ty TNHH Nhà máy bia Hà tây có thương hiệu
Tiger, Heineken; Công ty YAMAHA Việt nam có Thương hiệu YAMAHA…
Một Thương hiệu lại có thể gắn vớiù một hay nhiều dòng sản phẩm khác nhau
như thương hiệu LG có dòng sản phẩm điện tử LG Electronic và dòng sản
phẩm diện lạnh LG Meca, dòng mỹ phẩm LG Debon.
Như vậy tên thương hiệu có thể là tên doanh nghiệp có thể là không
nhưng qua thực tế bán hàng và những nỗ lực của công ty để đưa sản phẩm
đến với khách hàng thì tên thương hiệu được khách hàng nhận biết, ghi nhớ
và sử dụng để phân biệt và so sánh lựa chọn sản phẩm để đáp ứng cho nhu
cầu của mình.
Một số vấn đề cần quan tâm đối với tên thương hiệu
(1) Tên thương hiệu phải dễ dùng: tên thương hiệu phải dễ đọc, dễ
hiểu, dễ nhớ và gây được ấn tượng. Những yếu tố này tạo điều kiện cho
khách hàng dễ gần gũi và ghi nhớ thương hiệu hơn.
13
(2) Tên thương hiệu phải thật đích đáng: tên thương hiệu phải thể
hiện được tính chất và loạïi hình sản phẩm, loại hình kinh doanh của doanh
nghiệp.
1.1.2.2 Nhãn hiệu hàng hoá
Sự nổi tiếng của các thương hiệu luôn gắn với sự nổi tiếng của các nhãn
hiệu hàng hoá, có thể nói nhãn hiệu hàng hoá chính là thành phần vật chất
của thương hiệu. Nó là thành phần mà khách hàng có thể nhận biết một cách
trực tiếp bằng trực quan về sản phẩm, dòch vụ của doanh nghiệp. Tên thương
hiệu là một thành phần chính của nhãn hiệu hàng hoá, ngoài ra nhãn hiệu
hàng hóa còn có thể mang hình ảnh , biểu tượng, logo đặc trưng cho sản
nó được bảo hộ của nhà nước, được bảo vệ về mặt pháp lý rằng nó là nó.
Chỉ khi đựơc bảo hộ thương hiệu mới được sự tín nhiệm và tin tưởng
hoàn toàn của khách hàng, chỉ khi được bảo hộ được đăng ký thì thương hiệu
mới chắc chắn đem lại những gì khách hàng mong đợi và do đó sự bảo hộ về
mặt pháp lý cũng chính là một bộ phận cấu thành nên thương hiệu, nó góp
phần quyết đònh sự tồn tại và phát triển của Thương hiệu.
1.1.3 Chức năng của thương hiệu
Ra đời từ doanh nghiệp nhưng thương hiệu lại được hình thành và bổ
sung hoàn chỉnh từ nhận thức của con người về sản phẩm, dòch vụ đi kèm với
15
nó. Có thể nói rằng thương hiệu được xác lập từ nhận thức và tình cảm của
con người. Xét về mặt chức năng thương hiệu có các chức năng sau:
1.1.3.1 Chức năng phân biệt:
Thương hiệu của doanh nghiệp này khác thương hiệu của doanh nghiệp
kia, của công ty này khác của công ty kia, sản phẩm mang thương hiệu này
khác với sản phẩm mang thương hiệu khác và cũng chính chức năng này tạo
nên vai trò của thương hiệu đối với khách hàng, vai trò đối với doanh nghiệp.
1.1.3.2 Chức năng tạo nên đònh hướng cho sản phẩm:
Thương hiệu phải đi kèm với sản phẩm (dòch vụ)ï, phải đưa được thông
tin về sản phẩm (dòch vụ)ï, phải đưa được chất lượng và giá trò của sản phẩm
đến với khách hàng. Được xây dựng và phát triển hàng ngày nhưng nó vẫn
phải đảm bảo tính nhất quán như những gì khách hàng đã cảm nhận và đánh
giá về nó, như những gì nó đã được quảng bá, được ghi nhận, được bảo hộ.
1.1.3.3 Có chức năng khắc sâu vào tâm trí khách hàng:
Thương hiệu mang tính nhất quán và tạo nên đònh hướng cho sản phẩm
nên chính nó thông qua các chương trình quảng bá, thông qua quá trình tồn tại
và phát triển của bản thân sẽ ghi sâu dấu ấn về sản phẩm dòch vụ vào tâm trí
khách hàng. Không phải ngẫu nhiên mà nhiều thương hiệu tồn tại và được ưa
chuộng qua hàng trăm năm, từ thế hệ này tới thế hệ khác.
1.1.3.4 Chức năng phân biệt từng đoạn thò trường:
hữu và sử dụng các sản phẩm hàng hoá mang thương hiệu đó.
1.1.4.2 Đối với doanh nghiệp
17
- Thu hút và giữ khách hàng: thương hiệu là một sự khẳng đònh
đẳng cấp về chất lượng sản phẩm, dòch vụ và vò thế của doanh nghiệp trên thò
trường. Một doanh nghiệp sở hữu thương hiệu mạnh sẽ có được sự gắn bó của
khách hàng và cơ hội tấn công vào các thò trường tiềm năng một cách nhanh
chóng và dễ dàng.
- Đem lại thu nhập cao và ổn đònh: thương hiệu được đăng ký sẽ
là tài sản riêng có của doanh nghiệp tránh các nguy cơ hàng giả hàng nhái
đánh cắp bản quyền …, thương hiệu mạnh đảm bảo một thò trường ổn đònh cho
doanh nghiệp do đó nó cho phép doanh nghiệp có được thu nhập cao và ổn
đònh.
- Đoạt lợi thế trong ngành, chống cạnh tranh: trong tiến trình hội
nhâïp kinh tế quốc tế mức độ cạnh tranh gia tăng là tất yếu, chỉ thương hiệu
mạnh mới có cơ hội tồn tại. Thương hiệu mạnh là vũ khí cạnh tranh sắc bén
nâng cao năng lực cạnh tranh và khả năng tồn tại cho doanh nghiệp.
- Cơ hội mở rộng hoạt đôïng kinh doanh, đa dạng hoá sản phẩm,
liên kết: khi thương hiệu có chỗ đứng trên thò trường thì có thể khai thác giá
trò của thương hiệu đó bằng việc trao đổi, chuyển nhượng một phần hay toàn
bộ cho doanh nghiệp khác cùng khai thác. Lúc này thương hiệu được đònh giá
và coi như một phần vốn góp.
1.1.4.3 Đối với quốc gia
- Quảng bá văn hoá bản sắc dân tộc: thương hiệu thường mang
đặc thù bản sắc văn hoá của dân tộc do đó thương hiệu mạnh sẽ quảng bá
hình ảnh quốc gia, văn hoá dân tộc của quốc gia đó.
- Nâng cao vò thế và năng lực cạnh tranh trên trường quốc tế: một
quốc gia có càng nhiều thương hiệu nổi tiếng, càng nhiều thương hiệu mạnh
18
thì đó là dấu hiệu của một nền kinh tế có năng lực cạnh tranh cao. Có nhiều
Đầu tư cho thương hiệu là khoản đầu tư lớn và lâu dài vì thế nguyên tắc
đầu tiên cần quán triệt là phải đảm bảo hiệu quả giữa chi phí bỏ ra và kết
quả thu về. Nguyên tắc này để đảm bảo doanh nghiệp có sự tính toán cân
nhắc kỹ càng để thực hiện.
(2) Nguyên tắc thương hiệu phải có ý nghóa.
Nguyên tắc này đảm bảo thương hiệu để lại được ấn tượng và tác động được
vào tâm lý khách hàng. Thành phần của thương hiệu cần có tính mô tả cao, tính
thuyết phục, lại vừa có tính vui vẻ thân thiện tạo cảm xúc cho khách hàng.
(3) Nguyên tắc tuân thủ pháp luật và thông lệ.
Nguyên tắc này đảm bảo trong qúa trình xây dựng và quản lý thương
hiệu doanh nghiệp phải tuân thủ và thực hiện đầy đủ các yêu cầu hay không
đi ngược lại với thông lệ và qui đònh của luật pháp.
(4) Nguyên tắc dễ đọc dễ nhớ.
Từ tên gọi đến biểu tượng kiểu dáng phải dễ hiểu, dễ nhớ, điều này tạo
điều kiện cho thương hiệu thâm nhập nhanh chóng tới khách hàng.
(5) Phải chính danh.
Thương hiệu phải được đăng ký bảo hộ tại các cơ quan có thẩm quyền.
(6) Phù hợp đặc điểm và thói quen thò trường.
Nguyên tắc này đảm bảo cho thương hiệu khả năng thích nghi với môi trường.
20
(7) Dễ phát triển
Thò trường luôn có sự vận động nên thương hiệu cần có khả năng thích
ứng và điều chỉnh theo những thay đổi từ phía khách hàng, điều này đảm bảo
tính hiệu quả lâu dài của thương hiệu.
Ngoài ra ở phương đông thương hiệu còn được xây dựng trên cơ sở của
các lý thuyết truyền thống như Âm dương ngũ hành, Phong thuỷ …
1.2.2 Tiến trình xây dựng và quản lý thương hiệu
Sở dó nhiều doanh nghiệp quan tâm tới tiến trình xây dựng và quản lý
thương hiệu vì họ hiểu rằng họ muốn có và cần có được một thương hiệu
thành công, một thương hiệu mạnh. Vậy một thương hiệu thành công , một
mong muốn của khách hàng và đã có chất lượng, những tính năng phù hợp
tối đa với mong muốn của khách hàng
Xây dựng thương hiệu là một quá trình chứ không phải là một quyết
đònh làm một lần cho xong, vậy một doanh nghiệp cần bắt đầu xây dựng
thương hiệu từ đâu.
Một quy trình khá tối ưu trong xây dựng thương hiệu là bắt đầu từ việc
nghiên cứu thò trường để phát triển được những sản phẩm hay dòch vụ đáp
ứng nhu cầu và mong muốn của khách hàng. Khi đã phát triển được sản phẩm
có chất lượng mong muốn cho khách hàng, doanh nghiệp đồng thời xác lập
thương hiệu cho nó và thực hiện đăng ký bản quyền. Trong quá trình gắn
thương hiệu, doanh nghiệp phải lựa chọn chiến lược gắn thương hiệu và kiểu
thương hiệu phù hợp. Cuối cùng, để thương hiệu có chỗ đứng trên thò trường
22
và trở thành thương hiệu mạnh thì doanh nghiệp phải xây dựng và thực hiện
một chiến lược marketing phù hợp và hoàn chỉnh cho thương hiệu đó. Với nỗ
lực đưa sản phẩm tới tay người tiêu dùng và quảng bá thương hiệu dần dần sẽ
tạo nên tiếng tăm cho thương hiệu đó. Chỉ khi thương hiệu đã được tiêu thụ ở
một mức mong muốn trên thò trường, việc xây dựng thương hiệu mới coi như
thành công bước đầu.
Những thương hiệu thành công sẽ có thời gian tồn tại lâu dài trên thò
trường nhưng việc tạo lập và duy trì một thương hiệu như vậy là công việc
không đơn giản. Để xây dựng và quản lý thương hiệu thành công, các doanh
nghiệp cần thực hiên một quá trình marketing gồm các bước sau:
Giai đoạn xây dựng
Bước 1: Ngiên cứu thò trường
Tìm hiểu xu hướng phát triển của ngành, xu hướng phát triển của nhu
cầu và đặc điểm hành vi khách hàng. Ngoài ra, những vấn đề biến đổi trong
đoạn thò trường mục tiêu cũng phải được phân tích chu đáo. Vò trí và hình ảnh
thương hiệu của đối thủ cạnh tranh cũng cần phải được tìm hiểu để biết nhu
cầu, sự đánh giá và cảm nhận của khách hàng. Phân tích bản đồ nhận thức
bản nào mà nó sẽ cung ứng, các đặc tính hay thuộc thính chủ yếu, cấp chất
lượng của sản phẩm, giá cả, kênh phân phối cũng như các phương pháp xúc
tiến để đảm bảo tương thích với mục tiêu của thương hiệu. Sau thời gian thử
nghiệm thương hiệu trên thò trường trong một khoảng thời gian nhất đònh cần
đánh giá mức độ nhận biết, chấp nhận và ưa thích sản phẩm và thương hiệu
của khác hàng bằng phương pháp điều tra nhận thức của họ.
24