Luận văn thạc sỹ: Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan Quảng Ninh - Pdf 27

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ
QTKD

LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn tốt nghiệp tên đề tài “Một số giải pháp
nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra sau thông quan tại Cục Hải quan
Quảng Ninh” là bản nghiên cứu của riêng tôi, được thực hiện trên cơ sở lý
thuyết, nghiên cứu khảo sát tình hình thực tế và dưới sự hướng dẫn khoa học của
PGS.TS. Nguyễn Bá Ngọc.
Các số liệu và những kết quả trong luận văn là trung thực, các đánh giá,
kiến nghị đưa ra xuất phát từ thực tiễn và kinh nghiệm
Tác giả
Lương Ngọc Thành

Lương Ngọc Thành Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ
QTKD

MỤC LỤC
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ tổ chức bộ máy KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh 48

Lương Ngọc Thành Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ
QTKD

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
APEC
ASEAN
B/L
CBCC
CBL

Chương trình Số liệu xuất nhập khẩu
Web Quản lý rủi ro
Chương trình Quản lý vi phạm
Chương trình Quản lý doanh nghiệp phục vụ công tác kiểm
tra Sau thông quan và quản lý rủi ro
Tổng cục Hải quan
Chi phí xếp dỡ hàng hóa
Thông quan điện tử
Tổ chức Hải quan Thế giới
Tổ chức Thương Mại Thế giới
Xuất nhập khẩu
Xuất nhập cảnh

Lương Ngọc Thành Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ
QTKD

DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN VĂN
Trang
Bảng 1.1: Kết quả KTSQ tại Cục Hải quan Lạng Sơn 38
Bảng 1.2: Kết quả hoạt động KTSTQ của Cục Hải quan Lào Cai 40
Bảng 1.3: Kết quả hoạt động KTSTQ của Cục Hải quan Thanh Hoá 41
Sơ đồ 2.1:
Sơ đồ tổ chức bộ máy KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng
Ninh
48
Bảng 2.1:
Số lượng doanh nghiệp có hoạt động XNK qua địa bàn
tỉnh Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013
56

2013
72
Bảng 2.10:
Số vụ việc vi phạm trong lĩnh vực C/O, TNTX, GC,
SXXK qua KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh giai
đoạn 2008-2013
74
Bảng 2.11:
Số tiền truy thu thuế từ kết quả KTSTQ tại Cục Hải quan
Quảng Ninh giai đoạn 2008-2013
75
Bảng 2.12:
Số quyết định hành chính được ban hành từ kết quả
KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh từ 2008-2013
80

Lương Ngọc Thành Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ
QTKD

DANH MỤC CÁC BIỂU TRONG LUẬN VĂN
Biểu 2.1:
Số lượng doanh nghiệp có hoạt động XNK qua địa bàn tỉnh
Quảng Ninh giai đoạn 2008 – 2013
Biểu 2.2:
Số lượng tờ khai XNK đăng ký tại Cục Hải quan Quảng Ninh
giai đoạn 2008-2013
Biểu 2.3: Kim ngạch XNK qua Cục Hải quan Quảng Ninh
giai đoạn 2008-2013
Biểu 2.4: Doanh nghiệp xác định phải kiểm tra giai đoạn 2008-2013

việc sử dụng các giải pháp nghiệp vụ hỗ trợ như quản lý rủi ro, kiểm tra sau thông
quan, kiểm soát, thu thập thông tin… đã trở thành yêu cầu tất yếu khách quan. Một
trong các mô hình nghiệp vụ hỗ trợ có hiệu quả nhất chính là nghiệp vụ kiểm tra sau
thông quan (KTSTQ).
Trên bình diện quốc tế, cơ quan Hải quan các nước tiến tiến đều coi KTSTQ là
một khâu nghiệp vụ trong công nghệ quản lý của Hải quan hiện đại. Hơn nữa, ứng
dụng mô hình KTSTQ là phù hợp với các chuẩn mực quốc tế và các cam kết của Việt
Nam trong quá trình hội nhập. KTSTQ đang được phổ biến và áp dụng rộng rãi trên
toàn thế giới.
Đối với Hải quan Việt Nam, mô hình KTSTQ mới chỉ được triển khai thực hiện
từ 01/01/2002, thời điểm Luật Hải quan có hiệu lực. Mặc dù đã đạt được những kết quả
đáng khích lệ ban đầu nhưng hoạt động KTSTQ của Hải quan Việt Nam vẫn còn rất
nhiều bất cập, thiếu sót cần bổ sung, sửa đổi cho phù hợp. Trong quá trình triển khai
hoạt động KTSTQ, hiện tại Hải quan Việt Nam đang gặp phải một số khó khăn như
sau:
- Thứ nhất, là về nhận thức, bao gồm nhận thức trong nội bộ ngành Hải quan,
nhận thức của các doanh nghiệp, của xã hội và của một số cơ quan nhà nước hữu quan
về hoạt động KTSTQ chưa đầy đủ.
- Thứ hai, là khối lượng công việc tăng nhanh, tạo áp lực lớn. Với mức độ tăng

Lương Ngọc Thành 1 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ
QTKD

về số lượng các lô hàng XNK mỗi năm từ 20 đến 30%. Khối lượng khổng lồ như vậy
tạo sức ép công việc rất lớn đến thông quan và KTSTQ.
- Thứ ba, là về hệ thống pháp luật, còn có những quy định không đồng bộ, do
đó người thực thi gặp nhiều khó khăn.
- Thứ tư, là ý thức chấp hành pháp luật của doanh nghiệp. Một số doanh nghiệp
cố tình vi phạm pháp luật, gian lận trốn thuế gây khó khăn cho cơ quan Hải quan khi

cập, khó khăn như đã nêu ở trên.
Là một công chức Hải quan công tác tại Cục Hải quan Quảng Ninh, nhận thức
được tầm quan trọng với tính cấp thiết được nêu ở trên chính là lý do tác giả lựa chọn
đề tài “Một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động kiểm tra sau thông
quan tại Cục Hải quan Quảng Ninh”.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Ở các quốc gia trên thế giới, đã có nhiều tác giả, nhiều tổ chức quốc tế tiến hành
phân tích đánh giá hoạt động KTSTQ thông qua các bài viết, công trình nghiên cứu, ví
dụ như:
- Association of Southeast Asian Nation (2004), ASEAN Post - Clearance Audit
Manual - The Final Draft 2004, Jakarta.
- Igarashi K., P.R. China Post - Clearance Audit, Seminar on Risk Management
and Post - Entry Audit Entry Audit, 7-10 June 2005 Shenzhen.
- Kitaura M. (2005), Outline of Valuation and PCA in Japan, Osaka Customs
- Tanaka M. (2006), Computer Assisted Audit, Asean PCA Training on Trainer
20 February 2006.
Các công trình này mới chỉ nghiên cứu về hoạt động KTSTQ ở nước ngoài,
hơn nữa, tập trung vào mô tả các kỹ thuật KTSTQ nói chung, chưa gắn với điều
kiện, đặc điểm của công tác quản lý Hải quan tại một quốc gia, một địa phương.
Ở trong nước, đã có một số công trình nghiên cứu về KTSTQ, cụ thể là:
- Cục kiểm tra sau thông quan (2006), Hoàn thiện mô hình kiểm tra sau thông
quan của Hải quan Việt Nam, Đề tài NCKH cấp ngành mã số 08-N2005.
- Cục kiểm tra sau thông quan (2005), Các giải pháp nâng cao hiệu quả công
tác kiểm tra sau thông quan đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ kế hoạch cải cách, phát triển
và hiện đại hóa Hải quan giai đoạn 2004 -2006, Đề tài NCKH cấp ngành mã số 09 -
N2004.
- Cục Hải quan thành phố Hải Phòng - Cục kiểm tra thu thuế xuất nhập khẩu

Lương Ngọc Thành 3 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ

các văn bản rất quan trọng đối với ngành Hải quan về mặt thủ tục cũng như về mặt

Lương Ngọc Thành 4 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ
QTKD

quản lý thuế; nhằm đáp ứng đòi hỏi về một hệ thống văn bản thể hiện tính tập trung
hoá cao, không dàn trải, giải quyết sự chồng chéo của một số các văn bản liên quan,…
đáp ứng sự tăng trưởng kinh tế của đất nước và tiến tới hoàn thiện hệ thống pháp luật
tương xứng với một Hải quan hiện đại mang tầm vóc khu vực và quốc tế.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận văn
3.1. Mục đích
Đánh giá thực trạng hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh hiện nay
và đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao chất lượng hoạt động KTSTQ tại Cục Hải
quan Quảng Ninh trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ
- Hệ thống hóa, làm sáng tỏ thêm một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt
động KTSTQ.
- Phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động KTSTQ, chỉ rõ những tồn tại, yếu
kém của hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh từ năm 2002 đến nay.
- Đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng hoạt
động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh trong thời gian tới
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận văn
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng
Ninh.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về nội dung nghiên cứu: Luận văn tập trung nghiên cứu ba hoạt động
sau:
+ Hoạt động thu thập, xử lý thông tin và xác định đối tượng phải kiểm tra;

- Đề xuất phương hướng và giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng hoạt
động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh trong thời gian tới.
7. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
7.1. Ý nghĩa lý luận
Khái quát một cách có hệ thống lý luận về hoạt động KTSTQ nói chung và hoạt
động KTSTQ có tính đặc thù tại Cục Hải quan Quảng Ninh nói riêng.
7.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đã thực hiện được việc phân tích về thực trạng của hoạt động KTSTQ
tại Cục Hải quan Quảng Ninh và từ đó đề xuất một số giải pháp nâng cao chất lượng

Lương Ngọc Thành 6 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ
QTKD

hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh, qua đó góp phần vào việc giúp cho
đơn vị sẽ luôn thực hiện thắng lợi mọi nhiệm vụ mà Bộ tài chính, Tổng Cục Hải quan
và tỉnh Quảng Ninh giao cho.
Luận văn là tài liệu tham khảo tốt cho Cục Hải quan Quảng Ninh trong hoạt
động KTSTQ trên địa bàn.
8. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn được
kết cấu gồm 3 chương:
- Chương 1: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn về hoạt động KTSTQ.
- Chương 2: Thực trạng hoạt động KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh.
- Chương 3: Phương hướng và giải pháp nâng cao chất lượng hoạt động
KTSTQ tại Cục Hải quan Quảng Ninh.

Lương Ngọc Thành 7 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ
QTKD


Lương Ngọc Thành 8 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ
QTKD

viên về KTSTQ của chương trình hợp tác Hải quan ASEAN. Ở Trung Quốc, bắt đầu
thực hiện thí điểm nghiệp vụ KTSTQ tại 03 địa phương có hoạt động xuất nhập khẩu
phức tạp từ tháng 04/1992. Điều lệ KTSTQ được Quốc vụ viện nước Cộng hòa Nhân
dân Trung Hoa công bố ngày 01/03/1997. Ở khu vực ASEAN, hoạt động KTSTQ đã
có một khuôn mẫu chuẩn cho tất cả các thành viên thực hiện, tuy nhiên chưa được phê
duyệt chính thức. Hiện nay, ASEAN đã thống nhất xây dựng Sách hướng dẫn về
KTSTQ của ASEAN (được hội nghị Tổng cục trưởng Hải quan ASEAN lần 12 tại Hà
Nội phê chuẩn) nhằm định hướng chiến lược và phương pháp áp dụng chung ở trong
khối. Ở Việt Nam, hoạt động KTSTQ được chính thức triển khai thực hiện khi Luật
Hải quan có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2002.
Trên thế giới hiện đang tồn tại một số quan niệm về KTSTQ:
- Theo Công ước về đơn giản hóa và hài hòa hóa thủ tục Hải quan (Công ước
Kyoto sửa đổi, bổ sung vào tháng 9/1999) của Tổ chức Hải quan thế giới - WCO,
KTSTQ được định nghĩa như sau: "Kiểm tra trên cơ sở kiểm toán là các biện pháp
được cơ quan Hải quan tiến hành nhằm xác định tính chính xác và trung thực của
khai báo Hải quan thông qua việc kiểm tra các chứng từ, sổ kế toán, hệ thống kinh
doanh và dữ liệu thương mại của các bên có liên quan" [7, tr.98].
- Theo Luật Hải quan Nhật Bản:
Kiểm tra sau thông quan là hoạt động kiểm tra có hệ thống nhằm thẩm định tính
chính xác và trung thực của khai Hải quan thông qua việc kiểm tra các chứng từ, sổ kế
toán, hệ thống kinh doanh, dữ liệu thương mại có liên quan được lưu giữ bởi các tổ
chức cá nhân có liên quan trực tiếp và gián tiếp đến thương mại quốc tế [7].
- Theo Luật Hải quan Indonesia năm 1995:
Kiểm tra sau thông quan là một biện pháp kiểm soát có tính hệ thống của cơ
quan Hải quan. Bằng biện pháp này, cơ quan Hải quan kiểm tra tính chính xác và trung

như sau:
KTSTQ quan là hoạt động kiểm tra của cơ quan Hải quan, diễn ra sau khi hàng
hóa đã được thông quan, nhằm kiểm tra tính chính xác và trung thực các nội dung khai
báo Hải quan trong quá trình thông quan.
1.1.1.2. Đặc điểm kiểm tra sau thông quan
Tuy có nhiều quan niệm khác nhau về KTSTQ, nhưng các quan niệm này đều
thể hiện bảy đặc điểm cơ bản của hoạt động KTSTQ như sau:
- KTSTQ là một công đoạn trong hoạt động nghiệp vụ của cơ quan Hải quan,

Lương Ngọc Thành 10 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ
QTKD

cùng thực hiện trách nhiệm quản lý về mặt Hải quan trong mối quan hệ phối hợp với
các đơn vị chức năng khác của Hải quan, ví dụ: đơn vị thông quan, đơn vị điều tra vi
phạm Hải quan và các đơn vị khác. KTSTQ không phải là một hệ thống độc lập mà là
một chức năng của tổ chức Hải quan, đóng góp vai trò trong phạm vi hoạt động chiến
lược tổng thể ngành Hải quan.
- KTSTQ là hoạt động kiểm tra sau khi hàng hóa đã được thông quan do cơ
quan Hải quan thực hiện theo trình tự và thủ tục do pháp luật quy định. KTSTQ sẽ có
hiệu quả đáng kể nếu được thực hiện đối với những cá nhân, doanh nghiệp tiến hành
khai báo Hải quan liên tục trong một thời gian nhất định, dựa trên cơ sở phân tích trước
hồ sơ lưu trữ của họ. Mặt khác, phương pháp này sẽ không đạt hiệu quả cao, nếu áp
dụng cho những đối tượng tiến hành XNK số lượng nhỏ hàng hóa hoặc có số thuế phải
nộp thấp.
- Kết quả KTSTQ có liên quan đến quy định của pháp luật về nghĩa vụ lưu giữ
hồ sơ và các chế tài có liên quan. Vì KTSTQ được thực hiện dựa trên việc kiểm tra sổ
sách giấy tờ là chủ yếu, nên để thực hiện có hiệu quả, cần quy định rõ nghĩa vụ và các
chế tài liên quan đến việc lưu giữ hồ sơ của đối tượng.
- KTSTQ được tiến hành nhằm xác định việc khai Hải quan có tuân thủ các yêu

bộ hoạt động kiểm tra giám sát Hải quan đối với hàng hóa XNK.
1.1.1.3. Mục tiêu và lợi ích của kiểm tra sau thông quan
- Mục tiêu của KTSTQ:
Như trên đã đề cập, KTSTQ là một giải pháp quản lý Hải quan mang tính hệ
thống. Theo đó, cơ quan Hải quan đánh giá sự chính xác và trung thực của việc khai
báo Hải quan thông qua việc kiểm tra sổ sách, hồ sơ, hệ thống kinh doanh và các dữ
liệu do cá nhân/doanh nghiệp tham gia trực tiếp hay gián tiếp đến thương mại quốc tế
lưu giữ. Vì vậy, mục tiêu của KTSTQ sẽ là:
+ Xác minh tính chính xác và trung thực của việc khai báo Hải quan trong một
khoảng thời gian xác định;
+ Khuyến nghị đối tượng kiểm tra thực hiện bổ sung, điều chỉnh những vấn đề
chưa chính xác trong quá trình khai báo Hải quan;
+ Khuyến khích đối tượng kiểm tra nâng cao mức độ tuân thủ pháp luật và quy
định về Hải quan [16].
- Lợi ích của KTSTQ:
+ Đối với cơ quan Hải quan, trong những thập kỷ gần đây cơ quan Hải quan

Lương Ngọc Thành 12 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ
QTKD

các nước mới bắt đầu nhận thức rõ ràng lợi ích của KTSTQ, và đặt KTSTQ nằm
trong chương trình phát triển, hiện đại hóa của Hải quan. Việc tiến hành hoạt động
KTSTQ một cách chuyên nghiệp, chuyên sâu đem lại cho cơ quan Hải quan rất
nhiều lợi ích như:
• Quản lý các hoạt động của doanh nghiệp XNK trong mối quan hệ tổng thể,
liên tục chứ không trên cơ sở từng lần làm thủ tục Hải quan. Điều này dẫn đến hiệu quả
cao trong đánh giá và phân loại đối tượng quản lý.
• Quản lý trên cơ sở lựa chọn, đánh giá từng doanh nghiệp XNK để tập trung
kiểm tra có trọng điểm trên cơ sở nghi vấn (nếu có) nhằm tạo thuận lợi cho doanh

dịch thương mại và trong hầu hết các trường hợp, thông tin từ nhóm đối tượng này
lại có vai trò hết sức quan trọng trong quá trình KTSTQ. Vì vậy, cần coi đối tượng
của KTSTQ bao gồm cả sổ sách giấy tờ cần kiểm tra và các tổ chức, cá nhân liên
quan đến hoạt động thương mại quốc tế.
- Trên quan điểm chung đó, các tổ chức/cá nhân bị kiểm tra bao gồm:
+ Người XNK (người khai Hải quan);
+ Người nhận ủy thác XNK;
+ Người chuyên chở hàng XNK;
+ Chủ sở hữu hàng hóa nhập khẩu;
+ Người mua hàng nhập khẩu;
+ Đại lý thông quan hàng nhập khẩu;
+ Các tổ chức/cá nhân khác có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến giao
dịch XNK.
Đối tượng đầu tiên cần hướng tới chính là người XNK (người khai Hải
quan), là đối tượng xuất trình tờ khai Hải quan cho cơ quan Hải quan để thực hiện
khai báo. Trong trường hợp cần thêm các bằng chứng bổ sung, cơ quan Hải quan có
thể tiến hành kiểm tra các đối tượng khác có liên quan.
- Các loại sổ sách, chứng từ, bản ghi cần kiểm tra bao gồm:
+ Các chứng từ, sổ sách có liên quan đến giao dịch thương mại, ví dụ hợp
đồng mua bán hàng hóa, hợp đồng trợ giúp kỹ thuật, hợp đồng đại lý, đơn đặt hàng,
hướng dẫn sản xuất, báo cáo sản xuất, thư tín
+ Chứng từ và sổ sách kế toán: các loại sổ kế toán và mọi chứng từ có liên
quan như L/C, bảng kê chi tiết, giấy yêu cầu chuyển tiền, sổ ghi nợ/có ;
+ Chứng từ có liên quan đến hồ sơ Hải quan (tờ khai Hải quan, hóa đơn

Lương Ngọc Thành 14 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ
QTKD

thương mại, C/O, B/L, đơn bảo hiểm );

Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ
QTKD

Kiểm toán nội bộ (Internal Audit): Là kiểm toán do các kiểm toán viên nội
bộ của đơn vị tiến hành. Phạm vi của kiểm toán nội bộ rất biến động và tùy thuộc
vào quy mô, cơ cấu của doanh nghiệp cũng như yêu cầu của các nhà quản lý đơn vị.
Tuy nhiên, thông thường kiểm toán nội bộ hoạt động trong một hoặc vài lĩnh vực
sau: Rà soát lại hệ thống kế toán và các quy chế kiểm soát nội bộ có liên quan, giám
sát sự hoạt động của các hệ thống này cũng như tham gia hoàn thiện chúng; kiểm
tra lại các thông tin tác nghiệp và thông tin tài chính bao gồm việc soát xét lại các
phương tiện đã sử dụng để xác định, để tính toán, phân loại và báo cáo những thông
tin này, thẩm định cụ thể các khoản mục cá biệt (kiểm tra chi tiết các nghiệp vụ, các
số dư tài khoản ); kiểm tra tính hiệu lực, tính kinh tế và hiệu quả của các hoạt động
trong đơn vị.
Kiểm toán Nhà nước (State Audit): Là việc kiểm toán do các kiểm toán viên
của cơ quan Kiểm toán Nhà nước thực hiện; là cơ quan kiểm tra tài chính Nhà nước
độc lập. Kiểm toán Nhà nước thường tiến hành các cuộc kiểm toán tuân thủ kết hợp
với kiểm toán báo cáo tài chính, xem xét việc chấp hành các chính sách, luật lệ và
chế độ của Nhà nước tại các đơn vị có sử dụng vốn là kinh phí của Nhà nước. Ngoài
ra, Kiểm toán Nhà nước còn thực hiện kiểm toán hoạt động để đánh giá tính kinh tế,
tính hiệu lực và hiệu quả trong hoạt động của các đơn vị nói trên.
Kiểm toán độc lập (Indepndent Audit): Là loại kiểm toán do các kiểm toán
viên độc lập thuộc các tổ chức kiểm toán chuyên nghiệp (thường gọi là doanh
nghiệp kiểm toán) tiến hành. Thực chất, kiểm toán độc lập là loại dịch vụ, tư vấn
được pháp luật thừa nhận và bảo hộ.
Xét ở góc độ chung nhất thì các phương pháp kiểm toán về cơ bản đều dựa
trên cơ sở quản lý rủi ro, lựa chọn mẫu, áp dụng các phương pháp phân tích, đánh
giá đặc biệt là dựa trên hệ thống kiểm soát nội bộ. Các nguyên tắc tiến hành kiểm
toán là đảm bảo chính trực, khách quan, độc lập, bí mật quy định rõ trách nhiệm của
kiểm toán viên, nêu dẫn bằng chứng tài liệu [13].

kịp thời, chính xác các hành vi vi phạm pháp luật Hải quan; thu thập thông tin, tài
liệu, chứng cứ tạm giữ đối tượng vi phạm theo đúng nhiệm vụ và thẩm quyền mà
pháp luật đã quy định.
- Trinh sát nội tuyến, trinh sát ngoại tuyến, trinh sát kỹ thuật: Trong trường
hợp cần thiết lực lượng kiểm soát Hải quan được áp dụng các biện pháp nghiệp vụ
này để phát hiện hành vi buôn lậu, vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới.

Lương Ngọc Thành 17 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ
QTKD

Kiểm soát Hải quan thực hiện nhiệm vụ chống buôn lậu và gian lận thương
mại, có thể diễn ra trước, trong và sau thông quan, còn KTSTQ là chống gian lận
thương mại sau khi hàng hóa đã thông quan [16].
1.1.2.3. Phân biệt với hoạt động thanh tra Hải quan và thanh tra chuyên ngành
Hiện nay, tổ chức và hoạt động thanh tra được thực hiện theo Luật thanh tra
ngày 15/6/2004, với đối tượng và phạm vi điều chỉnh rộng.
Trong công tác quản lý nhà nước về Hải quan, nhiệm vụ của cơ quan Hải
quan trong công tác quản lý Hải quan đối với hàng hóa XNK rất lớn liên quan đến
nhiều loại hàng hóa, sản phẩm hoặc đối tượng quản lý chuyên ngành của nhiều bộ
ngành khác nhau. Do vậy, nghiệp vụ KTSTQ khi phát hiện ra vi phạm pháp luật Hải
quan có liên quan đến chức năng kiểm tra, thanh tra chuyên ngành của các bộ ngành
khác thì có sự phối hợp giải quyết xử lý. Đây là hoạt động trùng hợp với thanh tra
chuyên ngành, đặc biệt là thanh tra vi phạm về thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu, các
loại thuế khác:
- Đối tượng của thanh tra thuế XNK bao gồm việc chấp hành pháp luật về
thuế XNK của cả đối tượng nộp thuế và cơ quan được giao quyền thu thuế XNK.
- Đối tượng KTSTQ là nội dung các chứng từ của cá nhân, tổ chức tham gia
các hoạt động XNK đã khai, nộp, xuất trình cho cơ quan Hải quan.
1.1.3. Phân loại nghiệp vụ kiểm tra sau thông quan

đối với các mặt hàng XNK có dấu hiệu vi phạm pháp luật của doanh nghiệp.
1.1.3.3. Phân loại theo địa điểm tiến hành kiểm tra
- Kiểm tra hồ sơ Hải quan tại trụ sở cơ quan Hải quan: là việc cơ quan Hải
quan tiến hành KTSTQ đối với hồ sơ Hải quan các lô hàng XNK đã được thông
quan, đây có thể được coi là bước tiền kiểm tra tại trụ sở của doanh nghiệp, được
tiến hành chủ yếu đối với hồ sơ Hải quan mà cơ quan Hải quan đang lưu giữ. Trong
một số trường hợp cụ thể có thể tiến hành xác minh một số thông tin tài liệu có liên
quan đến lô hàng XNK đã được thông quan tại các cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên
quan hoặc yêu cầu doanh nghiệp bổ sung tài liệu hồ sơ, giải trình với cơ quan Hải
quan. Việc KTSTQ tại cơ quan Hải quan nhằm hạn chế tối đa sự phiền hà, gây ảnh
hưởng đến hoạt động sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp khi tiến hành
KTSTQ.
- KTSTQ tại trụ sở của đơn vị được kiểm tra: là việc cơ quan Hải quan tiến
hành kiểm tra chứng từ kế toán, sổ kế toán, báo cáo tài chính, dữ liệu điện từ và các

Lương Ngọc Thành 19 Khóa 2012 - 2014
Trường Đại học Bách khoa Hà Nội Luận văn Thạc sĩ
QTKD

hồ sơ tài liệu khác có liên quan đến hàng hóa XNK đã được thông quan, tại trụ sở
của doanh nghiệp hoặc những nơi lưu giữ các chứng từ, hồ sơ, tài liệu nêu trên.
Trong trường hợp cần thiết có thể kiểm tra dây chuyền sản xuất, máy móc thiết bị
có liên quan đến sản xuất, chế biến hàng hóa XNK hoặc kiểm tra thực tế hàng hóa
nhập khẩu khi còn đủ điều kiện.
1.1.4. Vai trò của kiểm tra sau thông quan
1.1.4.1. Nâng cao năng lực quản lý Hải quan
KTSTQ là một trong những biện pháp nâng cao năng lực quản lý của cơ
quan Hải quan, chống gian lận thương mại có hiệu quả, tạo điều kiện cho thông
quan nhanh, góp phần tích cực phát triển giao lưu thương mại quốc tế, cải thiện môi
trường đầu tư, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh trong cộng đồng doanh nghiệp.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status