LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi, các kết
quả trong luận văn này là trung thực và chưa được ai công bố
trong bất kỳ công trình nghiên cứu nào khác.
Tác giả luận văn
Nguyễn Trung Thành
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành chương trình học tập và luận văn tốt nghiệp thạc sỹ kinh tế
ngành quản lý kinh tế và chính sách. Tôi xin chân thành và trân trọng cảm ơn
Ban giám hiệu, Viện đào tạo sau đại học, qúy thầy cô Trường Đại học kinh tế
quốc dân đã tận tình giảng dạy, hướng dẫn giúp đỡ tôi trong thời gian học tập.
Tôi bày tỏ lòng biết ơn và xin ghi nhận sự giúp đỡ, hướng dẫn nhiệt tình
của PGS, TS Trần Thọ Đạt - Trường Đại học kinh tế quốc dân.
Xin chân thành cảm ơn Huyện ủy Định Quán, cơ quan Ủy ban Kiểm tra
huyện ủy, các cơ quan: Phòng Lao động- Thương binh - Xã hội huyện, Phòng
Thống kê huyện, Trung tâm dạy nghề huyện, Phòng Giáo dục & đào tạo huyện,
các Trường PTTH trên địa bàn huyện Định Quán đã tạo điều kiện và giúp đỡ
tôi trong công tác và thu thập số liệu để hoàn chỉnh luận văn tốt nghiệp.
Cuối cùng xin cảm ơn những người thân yêu, bạn bè, đồng nghiệp đã
động viên, dành nhiều tình cảm và tạo mọi điều kiện thuận lợi giúp đỡ tôi
trong suốt quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp./.
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN
LỜI CẢM ƠN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ
TÓM TẮT LUẬN VĂN
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH : Công nghiệp hoá
CNKT : Công nhân kỹ thuật
CMKT : Chuyên môn kỹ thuật
địa bàn và cả trong việc cung ứng thị trường lao động. Phần lớn lao động của
huyện chưa qua đào tạo là một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến tình
trạng tìm được việc làm nhưng thu nhập thấp (chỉ thực hiện được công việc giản
đơn), điều này tạo ra những khó khăn nhất định cho bản thân người lao động, gia
đình và xã hội.
Xác định công tác đào tạo nghề có vai trò quan trọng trong việc bồi dưỡng và
nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, góp phần nâng cao năng suất lao động, tạo cơ
hội việc làm, thu nhập đáp ứng nguồn nhân lực cho quá trình công nghiệp hoá, hiện
đại hoá đất nước. Trong thời gian qua, công tác đào tạo nghề trên địa bàn huyện đã
được cấp uỷ đảng, chính quyền, các tổ chức chính trị - xã hội quan tâm và tổ chức
thực hiện hiệu quả các đề án, chương trình đào tạo nghề của Trung ương, của tỉnh
cho lao động nói chung và lao động nông thôn nói riêng. Tuy nhiên, bên cạnh các
kết quả đạt được vẫn còn những bất cập và hạn chế đó là: tỷ lệ lao động qua đào tạo
thấp so với yêu cầu của huyện; chất lượng và hiệu quả đào tạo chưa cao; đào tạo
chưa gắn liền với giải quyết việc làm, nhất là trong việc chuyển đổi nghề nghiệp khi
Nhà nước thu hồi đất, giải toả, tái định cư để thực hiện quy hoạch và các dự án đầu
tư trên địa bàn huyện; cơ cấu ngành nghề đào tạo chưa phù hợp với thực tiễn, nhu
1
cầu sử dụng lao động của các doanh nghiệp; việc huy động nguồn lực xã hội cho
công tác đào tạo nghề chưa nhiều
Trước tình hình đó, để đạt được mục tiếu chuyển dịch cơ cấu kinh tế của huyện
theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá theo Nghị quyết của Đảng bộ huyện và
HĐND huyện đã đề ra, đáp ứng nhu cầu phát triển các khu vực sản xuất công
nghiệp, dịch vụ và nông nghiệp hiện đại, thì việc nâng cao chất lượng đội ngũ lao
động của huyện là việc làm cần thiết và cấp bách.
Xuất phát từ thực tiễn nêu trên, bản thân tôi đã chọn đề tài nghiên cứu là “Một
số giải pháp về đào tạo nghề nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế
trên địa bàn huyện Định Quán- tỉnh Đồng Nai” nhằm góp phần vào việc phục vụ
phát triển kinh tế - xã hội của huyện trong thời gian tới.
2. Mục đích nghiên cứu:
nghề để phục vụ vấn đề phát triển kinh tế- xã hội nói chung ở từng địa phương.
Tuy nhiên, cho đến nay chưa có đề tài nào đi sâu tìm hiểu về “đào tạo nghề
nhằm đáp ứng yêu cầu về chuyển dịch cơ cấu kinh tế”, nhất là ở khu vực nông
nghiệp, nông thôn như ở huyện Định Quán – tỉnh Đồng Nai.
5. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu:
+ Ý nghĩa khoa học: Làm rõ cơ sở lý luận về đào tạo nghề và chuyển dịch cơ
cấu kinh tế.
+ Ý nghĩa thực tiễn:
- Đề xuất giải pháp nâng tỷ lệ lao động qua đào tạo nhằm cung cấp nguồn nhân
lực phục vụ phát triển kinh tế- xã hội theo định hướng chung của huyện.
- Góp phần thực hiện tốt các chương trình về việc làm và giảm nghèo của
huyện. Gắn đào tạo nghề với giải quyết việc làm, góp phần xoá đói giảm
nghèo, nâng cao mức sống cho người lao động, nhất là lao động nông thôn,
dân tộc ít người.
- Góp phần nâng cao chất lượng lao động đáp ứng nhu cầu về nguồn nhân lực
trong và ngoài huyện.
3
- Gắn đào tạo nghề với mục tiêu, chương trình phát triển tổng thể kinh tế- xã
hội của huyện và của tỉnh gắn với nhu cầu thị trường sức lao động trong và ngoài
huyện. Đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu lao động và cơ cấu kinh tế trên địa bàn.
- Đẩy mạnh xã hội hoá công tác đào tạo nghề, khuyến khích các doanh nghiệp
tự đào tạo nghề cho người lao động. Gắn đào tạo nghề với chương trình hướng
nghiệp trong giáo dục phổ thông, đổi mới nội dung, chương trình và phương pháp
đào tạo nghề gắn với yêu cầu của thị trường lao động.
6. Phương pháp nghiên cứu:
Sử dụng phương pháp thống kê, tổng hợp và phân tích, phương pháp khảo sát
thực tế, ý kiến chuyên gia và các phương pháp cụ thể khác để thực hiện.
7. Kết cấu luận văn:
Tên luận văn: “Một số giải pháp về đào tạo nghề nhằm đáp ứng yêu cầu
chuyển dịch cơ cấu kinh tế trên địa bàn huyện Định Quán- tỉnh Đồng Nai”.
sự phân công lao động, với tiến bộ khoa học kỹ thuật, và văn minh nhân loại. Bởi vậy
được nhiều ngành khoa học khác nhau nghiên cứu từ nhiều góc độ khác nhau
+ Ở Việt nam, nhiều định nghĩa nghề được đưa ra song chưa được thống
nhất, chẳng hạn có định nghĩa được nêu: Nghề là một tập hợp lao động do sự
phân công lao động xã hội quy định mà giá trị của nó trao đổi được. Nghề mang
tính tương đối, nó phát sinh, phát triển hay mất đi do trình độ của nền sản xuất và
nhu cầu xã hội.
5
Mặc dù khái niệm nghề được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau song chúng ta
có thể nhận thấy một số nét đặc trưng nhất định sau:
- Đó là hoạt động, là công việc về lao động của con người được lặp đi lặp lại.
- Là sự phân công lao động xã hội, phù hợp với yêu cầu xã hội.
- Là phương tiện để sinh sống.
- Là lao động kỹ năng, kỹ xảo chuyên biệt có giá trị trao đổi trong xã hội đòi
hỏi phải có một quá trình đào tạo nhất định.
Hiện nay xu thế phát triển của nghề chịu tác động mạnh mẽ của tác động khoa
học- kỹ thuật và văn minh nhân loại nói chung và về chiến lược phát triển kinh tế -
xã hội của mỗi quốc gia nói riêng. Bởi vậy, phạm trù "Nghề" biến đổi mạnh mẽ và
gắn chặt với xu hướng phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.
* Đào tạo:
Để hiểu bản chất của đào tạo nghề cần xuất phát từ những khái niệm gốc “giáo
dục” và “đào tạo”. Từ điển Tiếng Việt có sự phân biệt giữa “giáo dục” và “đào tạo”.
“Giáo dục là quá trình hoạt động có ý thức, có mục đích, có kế hoạch nhằm truyền
cho lớp người mới những kinh nghiệm đấu tranh và sản xuất, những tri thức về tự
nhiên, về xã hội và tư duy, để họ có thể có đủ khả năng tham gia vào lao động và
đời sống xã hội” [23, tr 350]. Còn “Đào tạo là sự đào luyện, gây dựng, làm phát
triển và bồi dưỡng khả năng” [23, tr 275]. Như vậy, giáo dục bao hàm nghĩa rộng và
toàn diện hơn là đào tạo. Hay nói một cách khác, giáo dục bao hàm cả nghĩa đào
tạo, nhưng đào tạo nghiêng về quá trình hoạt động nhằm hình thành và phát triển
khả năng lao động sản xuất xã hội của người lao động.
bước phát triển mới về tư duy nhằm làm rõ hơn và nâng lên tầm cao mới hệ thống
giáo dục nghề nghiệp so với quan niệm truyền thống trước đây coi đào tạo nghề chỉ
là đào tạo lực lượng lao động chân tay, mang tính cơ bắp, trong quá trình lao động
chủ yếu sử dụng lao động cơ bắp của con người. Quan niệm này về dạy nghề không
còn phù hợp với nền sản xuất hiện đại. Khái niệm dạy nghề theo quan niệm mới
phải phù hợp với điều kiện kỹ thuật- công nghệ phát triển, sử dụng trong sản xuất
ngày càng phổ biến hệ thống máy móc, thiết bị hiện đại, tự động hoá. Bới vậy, thực
chất hệ thống giáo dục nghề nghiệp theo định hướng mới là hệ thống đào tạo lao
7
động kỹ thuật trong thời kỳ mới. Hệ thống này có nhiệm vụ đào tạo người lao động
về kiến thức, kỹ năng thực hành nghề, nhân cách ở các cấp trình độ, có đủ khả năng
tìm việc làm và năng lực tự tạo việc làm, năng lực thích ứng với sự biến đổi nhanh
chóng của công nghệ và thực tế sản xuất kinh doanh, gắn kết chặt chẽ với việc làm
trong xã hội, liên thông với các trình độ đào tạo khác. Và như vậy, khái niệm dạy
nghề hoặc đào tạo nghề là những khái niệm được sử dụng theo quan niệm truyền
thống và có ý nghĩa hạn hẹp, không hàm chứa được bản chất và các nội dung mới
của đào tạo nghề nghiệp trong thời kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH và Hội nhập của phát
triển nền kinh tế tri thức. Hiện nay chúng ta phải thống nhất dùng khái niệm “đào
tạo lao động kỹ thuật” thay thế cho khái niệm “dạy nghề” hoặc “đào tạo nghề” trong
các văn bản pháp qui và trong đời sống xã hội. Trong trường hợp còn sử dụng thuật
ngữ “dạy nghề” hoặc “đào tạo nghề” thì phải hiểu với nội dung mới, đó là “đào tạo
lao động kỹ thuật” trong hệ thống đào tạo kỹ thuật thực hành.
Như vậy, đào tạo nghề chính là đào tạo lao động kỹ thuật, là quá trình hoạt
động đào tạo có mục đích, có tổ chức và có kế hoạch trong hệ thống đào tạo kỹ
thuật thực hành nhằm hình thành và phát triển kiến thức, kỹ năng, thái độ cho mỗi
cá nhân người lao động ở các cấp trình độ để có thể hành nghề, làm công việc phức
tạp với năng suất và hiệu quả cao, đồng thời có năng lực thích ứng với sự biến đổi
nhanh chóng của kỹ thuật và công nghệ trong thực tế.
1.1.2. Vai trò của đào tạo nghề trong phát triển kinh tế- xã hội:
Trong thế giới hiện đại, chúng ta ngày càng nhận thức rõ hơn về vai trò quyết
xã hội và tạo ra bước phát triển thần kỳ của Việt Nam trong những thập kỷ đầu của
thế kỷ XXI. Vị trí, vai trò đặc biệt của lao động kỹ thuật được thể hiện trên nhiều
mặt và trong nhiều mối quan hệ, nhất là trong mối quan hệ với tăng trưởng kinh tế,
với chuyển dịch cơ cấu kinh tế và nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế…
- Đối với tăng trưởng kinh tế:
Tăng trưởng kinh tế là một trong những mục tiêu quan trọng của chiến lược
phát triển kinh tế - xã hội của quốc gia, đồng thời cũng là chỉ tiêu chủ yếu đánh giá
trình độ phát triển của quốc gia đó. Để tăng trưởng kinh tế phải phát huy tối đa các
9
nguồn lực và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, nhất là nguồn nội lực. Các nguồn lực
cho tăng trưởng kinh tế thông thường bao gồm nguồn tài nguyên thiên nhiên; nguồn
tài chính (vốn); nguồn lực khoa học và công nghệ; nguồn nhân lực chất lượng cao;
trình độ quản lý…
Lý thuyết tăng trưởng theo quan niệm truyền thống chủ yếu dựa vào nguồn tài
nguyên thiên nhiên, vốn. Nhưng theo lý thuyết mới về tăng trưởng nguồn lực quan
trọng nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, nhất là khi chuyển sang phát triển nền
kinh tế tri thức và hội nhập. Chính vì vậy, nhiều nước phát triển trong khu vực và
các nước ASEAN đã và đang điều chỉnh chiến lược tăng trưởng hướng vào khai
thác tối đa nguồn lực con người và coi giáo dục, đào tạo là quốc sách hàng đầu
nhằm phát triển nguồn nhân lực, cải thiện các chỉ số phát triển con người (HDI).
Tức là đầu tư vào “vốn con người”, phát triển nguồn “vốn con người”- vừa là nguồn
nội lực to lớn nhất, vừa là mục tiêu cuối cùng, là đỉnh cao của quá trình phát triển ở
mỗi quốc gia. Như vậy, nguồn lực con người, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng
cao là nguồn lực quan trọng nhất, là yếu tố quyết định nhất của lực lượng sản xuất,
của nền kinh tế - xã hội và sử dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, công nghệ mới vào
quá trình sản xuất và do đó là một trong những yếu tố quyết định nhất của tăng
trưởng kinh tế nhanh và bề vững.
- Đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế:
Đối với chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đào tạo nghề giữ vị trí và vai trò rất quan
trọng, nó thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế mở ra hướng hành động mới, cũng
khung khổ thể chế vĩ mô, đồng thời phải tập trung nâng cao khả năng cạnh tranh ở
cấp doanh nghiệp và sản phẩm, dịch vụ.
Từ nhận thức “vốn con người” là yếu tố quyết định của sự phát triển, để nâng
cao năng lực cạnh tranh ở cấp quốc gia, cũng như cấp doanh nghiệp và sản phẩm,
dịch vụ, phải ưu tiên đầu tư vào khâu có tính chất đột phá, then chốt nhất là nâng
cao năng lực cạnh tranh của nguồn nhân lực thông qua đào tạo, giáo dục, nhất là đào
11
tạo lao động kỹ thuật, tiếp tục giải phóng sức sản xuất của lao động.
Khả năng cạnh tranh tăng lên phụ thuộc vào hai yếu tố giảm chi phí và tăng
mức thoả mãn nhu cầu. Cả hai yếu tố này đều liên quan đến lao động (số lượng và
chất lượng), đến năng suất lao động, tức là liên quan đến khả năng cạnh tranh của
lao động. Một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất phản ánh khả năng cạnh tranh
của nguồn nhân lực, của lao động là chi phí lao động trong một đơn vị sản phẩm
hoặc tỷ trọng chi phí lao động trong giá trị gia tăng. Năng suất lao động càng cao,
chất lượng sản phẩm, dịch vụ càng đáp ứng tiêu chuẩn quốc tế (ISO), chi phí lao
động càng thấp càng có khả năng cạnh tranh về giá cả trên thị trường trong nước và
quốc tế. Theo quan niệm truyền thống, người ta thường chú ý đến giá nhân công rẻ,
tuy nhiên, quan niệm hiện đại nghiêng về ưu thế chất lượng lao động cao, khả năng
sẵn sàng đáp ứng của lao động trình độ cao, khả năng phản ứng, thích nghi của lao
động trên thị trường lao động… Để có đội ngũ lao động chất lượng cao, phải dựa
trên cơ sở nâng cao trình độ dân trí, đồng thời phải phát triển giáo dục nghề nghiệp,
giáo dục cao đẳng, đại học và sau đại học. Ở nước ta, vấn đề nâng cao dân trí đã đạt
được tỷ lệ khá cao so với thế giới, song tỷ lệ lao động qua đào tạo còn thấp, đặc biệt
là lao động kỹ thuật. So sánh với quốc tế, mặc dù Việt Nam vẫn còn lợi thế về giá
lao động thấp, song lợi thế này sẽ mất dần. Về lâu dài, muốn chiếm ưu thế cạnh
tranh, không còn con đường nào khác là phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực,
đặc biệt là tập trung đào tạo một đội ngũ lao động kỹ thuật trình độ cao có đủ khả
năng cạnh tranh với khu vực và quốc tế. Hơn nữa, để đi ngay vào nền kinh tế tri
thức, chúng ta phải quan tâm đến hai chỉ tiêu quan trọng của phát triển nền kinh tế
tri thức. Đó là tỷ lệ phần trăm công nhân tri thức trong tổng lực lượng lao động và tỷ
chuyên môn, kỹ năng cơ bản, và thực tập chuyên sâu.
Các nội dung kiến thức trên được sắp xếp thành một hệ thống các môn học và
hợp thành một tổng thể thống nhất trong quá trình đào tạo.
1.1.3.2. Các hình thức đào tạo nghề:
13
Một trong những nhiệm vụ quan trọng của kế hoạch đào tạo là xác định các
hình thức đào tạo thích hợp. Hình thức đào tạo là cơ sở để xây dựng kế hoạch đào
tạo, đồng thời cũng là cơ sở để tính toán hiệu quả kinh tế của đào tạo. Tuỳ theo yêu
cầu và điều kiện thực tế có thể áp dụng hình thức đào tạo này hay hình thức đào tạo
khác. Những hình thức đào tạo nghề đang được áp dụng chủ yếu hiện nay là:
- Kèm cặp trong sản xuất: Là hình thức đào tạo trực tiếp tại nơi làm việc, chủ
yếu là thực hành ngay trong quá trình sản xuất do xí nghiệp tổ chức. Kèm cặp trong
sản xuất được tiến hành dưới hai hình thức: kèm cặp theo cá nhân và kèm cặp theo
tổ chức, đội sản xuất. Với kèm cặp theo cá nhân, mỗi thợ học nghề được một công
nhân có trình độ tay nghề cao hướng dẫn. Người hướng dẫn vừa sản xuất vừa tiến
hành dạy nghề theo kế hoạch. Với hình thức kèm cặp theo tổ, đội sản xuất, thợ học
nghề được tổ chức thành từng tổ và phân công cho những công nhân dạy nghề thoát
ly sản xuất chuyên trách trình độ nghề nghiệp và phương pháp sư phạm nhất định.
Quá trình đào tạo được tiến hành qua các bước:
Bước 1: Phân công những công nhân có tay nghề cao vừa sản xuất vừa hướng
dẫn thợ học nghề. Trong bước này, người hướng dẫn vừa sản xuất vừa phải giảng
cho người học về cấu tạo máy móc thiết bị, nguyên tắc vận hành, qui trình công
nghệ, phương pháp làm việc. Người học theo dõi những thao tác, phương pháp làm
việc của người hướng dẫn. Đồng thời doanh nghiệp hoặc phân xưởng tổ chức dạy lý
thuyết cho người học do kỹ sư hay kỹ thuật viên đảm nhận.
Bước 2: Giao việc làm thử, người học bắt tay vào làm thử dưới sự kiểm tra uốn
nắn của người hướng dẫn.
Bước 3: Giao việc hoàn toàn cho người học nghề khi người học nghề có thể
tiến hành công việc độc lập được, những người hướng dẫn vẫn thường xuyên theo
dõi giúp đỡ.
các ngành kinh tế quốc dân (công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải , y tế,
giáo dục. . .), các thành phần kinh tế xã hội ( kinh tế nhà nước, tư nhân, cá thể tiểu
chủ, nước ngoài . . .), các vùng kinh tế.
Có thể hiểu, cơ cấu kinh tế là mối quan hệ giữa các bộ phận hợp thành một
15
tổng thể kinh tế, các bộ phận này có những mối liên hệ hữu cơ, những tác động qua
lại cả về số lượng và chất lượng, các quan hệ tỷ lệ được hình thành trong những điều
kiện kinh tế- xã hội nhất định, chúng luôn vận động và hướng vào những mục tiêu
cụ thể.
Cơ cấu kinh tế của hệ thống kinh tế quốc dân, một nội dung biểu hiện cấu trúc
và trình độ lực lượng sản xuất xã hội, luôn ở trạng thái vận động và phải bảo đảm
nội dung biến động nhằm thoả mãn những nhu cầu không ngừng tăng lên của xã
hội. Sự biến đổi, chuyển dịch cơ cấu kinh tế diễn ra theo quy luật vận động khách
quan, phù hợp với cơ chế kinh tế với tính cách là cơ chế vận hành hệ thống.
Không chỉ có các nền kinh tế lạc hậu, kém phát triển mới có sự điều chỉnh cơ
cấu kinh tế. Ngày nay, chính các nền kinh tế công nghiệp phát triển cũng phải
thường xuyên điều chỉnh cơ cấu kinh tế để tiếp tục phát triển.
Như vậy, chuyển dịch cơ cấu kinh tế là quá trình phát triển của các bộ phận
kinh tế, dẫn đến sự tăng trưởng khác nhau giữa chúng và làm thay đổi mối quan hệ
tương quan giữa chúng so với một thời điểm trước đó.
1.2.2. Vai trò của chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong phát triển kinh tế-
xã hội:
Phát triển kinh tế và tiến bộ xã hội là những vấn đề rất quan trọng của mỗi dân
tộc, mỗi quốc gia và ngày nay đang là vấn đề có tính toàn cầu. Có nhiều yếu tố ảnh
hưởng đến phát triển kinh tế- xã hội, những nhân tố cơ bản như : vốn ; con người ; kỹ
thuật và công nghệ ; cơ cấu kinh tế ; thể chế chính trị và quản lý nhà nước… Trong
đó, nhân tố cơ cấu kinh tế giữ vị trí rất quan trọng trong phát triển kinh tế- xã hội.
Cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại cho phép các yếu tố sản xuất, các thành phần
kinh tế, các lĩnh vực, các ngành liên kết thành một tổ chức chặt chẽ, có mối liên hệ
tất yếu nội tại, nhờ đó mà phát huy được lợi thế và sức mạnh tổng hợp để tăng
- Cơ cấu thành phần kinh tế - xét hoạt động kinh tế theo quan quan hệ sở hữu;
- Cơ cấu đối ngoại – xét trình độ mở cửa và hội nhập của nền kinh tế;
- Cơ cấu tích luỹ – xét tiềm năng để phát triển kinh tế…
Những cơ cấu mang tính chất tổng hợp của nền kinh tế bao gồm:
- Cơ cấu ngành kinh tế:
17
Có nhiều cách khác nhau về phân loại ngành. Để thống nhất, Liên Hiệp quốc
đã ban hành “Hướng dẫn phân loại ngành theo tiêu chuẩn quốc tế đối với toàn bộ
các hoạt động kinh tế” theo tiêu chuẩn này có thể gộp các ngành phân loại thành ba
khu vực: khu vực I là nông nghiệp, khu vực II là khu vực công nghiệp và khu vực
III là dịch vụ.
Trong quá trình hoạt động sản xuất, các ngành có mối quan hệ tác động qua
lại, thúc đẩy lẫn nhau cùng phát triển. Quan hệ giữa công nghiệp và nông nghiệp là
mối quan hệ truyền thống, xuyên suốt mọi giai đoạn phát triển xã hội. Nông nghiệp
yêu cầu cần có sự tác động của công nghiệp đối với tất cả các yếu tố đầu vào, cũng
như tiêu thụ sản phẩm đầu ra. Công nghiệp cung cấp cho nông nghiệp phân bón hoá
học thuốc trừ sâu, các công cụ sản xuất. máy móc, thiết bị phục vụ cho việc cơ giới
hoá sản xuất. Sản phẩm nông nghiệp qua chế biến sẽ được nâng cao chất lượng và
hiệu quả: làm cho sản phẩm trở nên đa dạng về mẫu mã, phong phú về khẩu vị, vận
chuyển và dự trữ được thuận lợi. Ngược lại, nông nghiệp cung cấp nguyên liệu cho
công nghiệp chế biến, thực phẩm cho công nhân lao động, cho mở rộng hoạt động
sản xuất công nghiệp và nó còn là thị trường lớn tiêu thụ sản phẩm công nghiệp.
Công nghiệp và nông nghiệp được gọi là các ngành sản xuất vật chất, thực hiện
chức năng sản xuất trong quá trình tái sản xuất. Để những sản phẩm của hai ngành
này đi vào tiêu dùng cho sản xuất hoặc tiêu dùng cho đời sống phải qua phân phối
và trao đổi. Những chức năng này do hoạt động dịch vụ đảm nhận. Các hoạt động
dịch vụ thương mại, vận tải, thông tin, ngân hàng, bảo hiểm đảm bảo quá trình tái
sản xuất được liên tục. Không có sản phẩm hàng hoá thì không có cơ sở cho các
hoạt động dịch vụ tồn tại. Sản xuất hàng hoá càng phát triển, đời sống nhân dân
càng nâng cao thì nhu cầu dịch vụ càng lớn. Như vậy, sự tác động qua lại giữa các
nội, Hải Phòng, Quảng Ninh, Hải Dương, Hưng Yên, Bắc Ninh và Vĩnh Phúc; vùng
kinh tế trọng điểm miền Trung gồm: Thừa Thiên Huế, Đà Nẵng (hạt nhân), Quảng
Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và Khánh Hoà; Vùng kinh tế trọng điểm
phía Nam gồm: Thành phố Hồ Chí Minh, Đồng Nai, Bình Dương, Bà Rịa - Vũng
Tàu, Bình Phước, Tây Ninh, Longh An và Tiền Giang. Đây là những vùng có sẵn
19
ưu thế về vị trí địa lý, kết cấu hạ tầng, có nguồn nhân lực với trình độ chuyên môn,
có các ngành công nghiệp dịch vụ phát triển, là vùng có khả năng thu hút vốn đầu tư
nước ngoài. Do đó, những vùng này sẽ tạo ra các vùng kinh tế năng động, thúc đẩy
và hỗ trợ các vùng khác phát triển.
- Cơ cấu thành phần kinh tế:
Để giải phóng sức sản xuất, động viên tối đa mọi nguồn lực cho phát triển kinh
tế và cải thiện đời sống nhân dân, chính sách của Đảng và Nhà nước chủ trương
khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế và các tổ chức kinh doanh.
Các thành phần kinh tế được hình thành trên cơ sở chế độ sở hữu về tư liệu sản
xuất. Cùng với quá trình phát triển của lịch sử, chế độ sở hữu cũng xuất hiện những
hình thức mới. Trong chế độ cộng sản nguyên thuỷ, khi tư liệu sản xuất còn đơn sơ.
lao động thủ công theo kiểu hái lượm và đánh bắt thì mọi tài sản đều thuộc sở hữu
công cộng. Sau đó, cùng với sự phát triển sản xuất, chế độ chiếm hữu tư nhân tư bản
về tư liệu sản xuất ra đời. Hai chế độ sở hữu này cùng tồn tại và có lúc đan xen lẫn
nhau tạo ra hình thức sở hữu mới. Nhìn chung, chủ sở hữu là người có quyền quyết
định đối với tài sản và hưởng các khoản thu nhập do tài sản đưa lại.
Ở Việt Nam, sở hữu toàn dân bao gồm toàn bộ các nguồn tài nguyên thiên
nhiên và các tài sản do nhà nước đầu tư. Đại diện cho quyền sở hữu này là Nhà
nước. Nhà nước có thể sử dụng hoặc trao quyền sử dụng cho các cá nhân hoặc tổ
chức dưới các hình thức khác nhau. Sở hữu tư nhân đối với những tài sản hợp pháp
do cá nhân tạo ra, được thừa kế hoặc chuyển nhượng. Ngoài ra, còn có sở hữu tập
thể do các cá nhân cùng góp phần tài sản để hoạt động sản xuất kinh doanh.
Trên cơ sở chế độ sở hữu về mặt tư liệu sản xuất, các thành phần kinh tế cơ
bản ở nước ta hiện nay bao gồm: Kinh tế Nhà nước, là thành phần kinh tế nắm giữ