TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA QUẢN TRỊ KINH DOANH
____________*____________
MÔN HỌC: QUẢN TRỊ MARKETING
Lớp IE07C
BÀI TẬP NHÓM 1 (W)
KẾ HOẠCH MARKETING
SẢN PHẨM MỚI“LIGHT BEER”
CÔNG TY BIA G1
Hà Nội 12-2007
1
Sinh viên thực hiện: Nguyến Khắc Sơn
Hoàng Xuân Hoan
Nguyễn Trọng Phong
Phùng Đông
Nguyễn Thị Thúy Thiệp
Vũ Thị Mai Anh
Ngô Đức Thịnh
Giáo viên hướng dẫn: Tiến sỹ Vũ Trí Dũng
CHƯƠNG 1
Thực trạng về thị trường, sản phẩm và nội dung kế
hoạch phát triển sản phẩm Bia nhẹ “Light Beer”
Trong năm 2006 công ty bia G1 tồn tại như một cơ sở sảm xuất bia đứng hàng thứ 7 với thị
phần khoảng 4% và một doanh số khiêm tốn. Trong khi đó các hãng khác như Hà Nội, Việt Hà ... có
doanh số đang tăng lên từ 8-10% một năm, gấp hai lần tỷ lệ phát triển chung của toàn ngành.
Mặt khác hiện tại công ty đang chiếm giữ một thị phần đáng kể khách tiêu thụ là nữ giới và
khách hàng có mức thu nhập cao, nhưng nhược điểm họ lại không phải đối tượng uống nhiều bia.
Trong khi qua nghiên cứu chung thì 30% dân nhậu tiêu thụ 80% số lượng bia.
Một vấn đề nữa: qua nghiên cứu các báo cáo nội bộ công ty nhận thấy giới phụ nữ, người ăn
kiêng và người lớn tuổi đều nghĩ rằng chai bia Heniken, Sài gòn đóng 330ml là hơi nhiều và bia Hà
Nội, Việt Hà đóng 450ml là quá nhiều.
đích cá nhân mà buộc họ phải chú ý tới khía cạnh xã hội.
• Xu hướng: Thị trường Việt Nam là một thị trường đầy sức hấp dẫn, với hơn 86 triệu dân.
Trong thời gian từ năm 1997 đến 2007 tỷ lệ gia tăng dân số và thu nhập bình quân tăng nhanh, đặc
biệt là ở thành phố, thị xã. Mặt khác, cơ cấu dân cư cũng thay đổi, xuất hiện nhiều tầng lớp người có
thu nhập cao nên nhu cầu của họ ngày càng phong phú và đa dạng hơn, không chỉ đơn giản về chất
lượng mà còn về chủng loại, nhãn hiệu và các dịch vụ đi kèm. Điều này làm cho nhu cầu về bia ở
nước ta tăng lên đáng kể về quy mô và cơ cấu, cơ hội cho các nhà sản xuất bia là rất lớn.
Tình hình thị trường (cung):
Những năm trước các nhóm bia là đại gia chủ yếu là Heneiken, Tiger, nhưng những năm gần
đây một số doanh nghiệp lớn của Việt Nam: phía bắc là bia Hà Nội, phía nam là bia Sài Gòn, miền
trung là bia HuDa Huế, đã đủ lớn mạnh để chi phối thị trường bia của Việt Nam.
2/Tình hình sản phẩm:
Các đại gia trên thị trường bia Việt Nam luôn luôn tìm cách giành giật từng khúc thị trường về
tay mình, nhưng ở một góc của thị trường bia cũng có một loại bia chiếm thị phần khá lớn và tương
đối mạnh, đó là bia nhẹ một thứ uống giải khát phù hợp với mọi tầng lớp người dân kể cả những
3
người có thu nhập cao đến những người có thu nhập thấp đều có thể uống nó và uống vào bất kỳ lúc
nào thời điểm nào nếu họ khát và cảm thấy thích uống, mà tính chất cạnh tranh của nó trên thị trường
lại không khốc liệt như bia hơi nhưng nó lại thoả mãn đại đa số các thượng đế nhất vào các ngày hè
nắng nóng.
Để đánh giá tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty bia G1 có thể phân tích một
vài chỉ tiêu sau:
Nhận xét:
• Mức tiêu thụ của ngành hàng năm tăng trưởng là 5,4%,
• Thị phần của công ty G1 tương đối ổn định là 4%
• Giá bán bình quân 1 lít bia có xu hướng giảm từ 11% xuống 6%
• Chi phí biến đổi vật tư, nhân công, nguyên nhiên vật liệu mỗi năm đều tăng.
• Mức lãi gộp trên một đơn vị lít bia giảm trong năm 2006.
• Năng lực sản xuất tăng cao dẫn theo chi phí quản lý tăng hàng năm.
• Mức lãi ròng năm 2006 giảm thấp hơn năm 2005
trí người tiêu dùng từ khi sản phẩm bia của nhà máy được phân phối theo tem phiếu đến người tiêu
dùng.
Đối thủ cạnh tranh lớn thứ hai của bia nhẹ “Light Beer” là bia hơi Halida của Việt Hà. Với giá
bán cao hơn so với bia nhẹ nhưng đã gây được sự chú ý của người tiêu dùng và có chỗ đứng nhất
định.
Phạm vi cạnh tranh và thay thế của nước giải khát lại rộng hơn, mạnh mẽ và thường xuyên
hơn, những thứ nước giải khát có chất lượng cao luôn là đối thủ cạnh tranh tiềm tàng của bia nhẹ
“Light Beer”, nhất là trong nữ giới.
5
Những hình thức cạnh tranh chủ yếu giữa các nhà sản xuất:
+ Cạnh tranh qua giá cả: Cuộc sống của người dân đang ngày càng khấm khá hơn nên họ có
điều kiện để đòi hỏi chất lượng cao hơn nhưng mặt khác người tiêu dùng Việt nam lại muốn giá thấp
hơn vì mức thu nhập của người Việt Nam dù sao cũng còn thấp.
+ Cạnh tranh nhau vị trí quảng cáo: Bây giờ ra ngoài đường ai cũng thấy đâu đâu cũng có
những pano, áp phích quảng cáo chiếm các vị trí có thể thu hút được tầm nhìn của mọi người. Các
hãng cũng cạnh tranh nhau những vị trí mà có thể thu hút được sự quan sát của công chúng nhất,
trên truyền hình thì các công ty cạnh tranh những giờ cao điểm để có thể thu hút được càng nhiều
công chúng mục tiêu càng tốt.
+Cạnh tranh nhau qua các chương trình khuyến mại: Để có thể kích thích sự tiêu dùng của
khách hàng khi hãng bia Tiger ra chương trình bật nấp chai trúng xe ôtô BMW thì bia Hà Nội lại ra
chương trình bật nấp trúng xe Toyota, hay HALIDA uống bốn cốc tặng một cốc, các hãng bia càng
ngày càng chay đua về giá trị trúng thưởng của hàng khuyến mại.
4/ Tình hình phân phối:
Mạng lưới cung ứng bia rộng khắp, các Doanh nghiệp tổ chức kênh phân phối dưới nhiều hình
thức: trực tiếp, qua một trung gian, qua nhiều trung gian (đại lý, người bán buôn, người bán lẻ…) tập
trung chính ở các thành phố lớn như Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng, Hải Phòng đặc biệt
là khu vực phía Nam.
Khu vực Hà Nội là khu vực chiếm trên 80% sản lượng tiêu thụ của công ty bia G1, còn lại là
do các tỉnh phía bắc tiêu thụ. Khu vực Hà Nội được các cán bộ phòng Marketing chia làm 5 địa bàn
hoạt động.
5.2. Ảnh hưởng của môi trưởng văn hoá.
Mỗi nơi lại có một phong tục tập quán và tiêu dùng khác nhau. Đây cũng là những thói quen
của con người được lặp đi lặp lại, thói quen tạo lập vừa mang tính truyền thống vừa do tác động của
hoàn cảnh, thói quen mang tính cá nhân khi có nhiều người có cùng thói quen và rộng ra trên phạm vi
lớn của cộng đồng lại trở thành một tập quán.
Tập quán tiêu dùng bia không mang tính chung chung, nó bao giờ cũng gắn với một sản phẩm
cụ thể, với mỗi nhóm ngưới khác nhau có thể tập quán riêng và đó là “gu” trong tiêu dùng bia. Người
ta thích uống những loại bia hợp “gu” của mình. Từ đặc trưng này, công ty bia G1 sẽ tạo ra “gu”
riêng đó là loại bia nhẹ “Light Beer” có nồng độ alcoholic thấp, bọt mịn, màu vàng sáng và ít say.
Qua thực tế khảo sát người tiêu dùng Việt Nam cũng có những đặc tính: Người uống thường uống
theo nhóm, ít uống đơn độc. Bên cạnh đó một đặc tính nữa của người tiêu dùng Việt Nam là bình
thường thì ít uống, nhưng khi uống thì lại uống không ít.
5.3. Ảnh hưởng của tính thời vụ trong tiêu dùng bia
7
Môi trường sống là yếu tố ảnh hưởng lớn trong tiêu dùng của người dân vì con người ai cũng
lo cho sức khoẻ của mình là trên hết. Do bia là một loại đồ uống giải khát có tính thời vụ khá rõ ràng,
mùa nóng ấm thì người ta uống bia nhiều hơn, mùa lạnh uống ít hơn. Tính thời vụ liên quan đến điều
kiện địa lý và khí hậu, tại những nơi tính mùa vụ được phân biệt rõ ràng thì tính thời vụ trong tiêu
dùng bia cũng rất rõ. Những ngày giá rét của miền Bắc Việt Nam người ta dùng bia ít, mùa hè nhu
cầu giải khát bằng bia nhiều hơn, tính thời vụ càng mạnh mẽ dẫn đến căng thẳng cung cầu ở một số
thời điểm là rất lớn. một mặt do thời tiết lạnh giá ở các tỉnh phía Bắc mặt khác trong thời gian này có
rất nhiều các dịp đặc biệt như lễ, Tết, hội hè, cưới hỏi, sản phẩm tiêu thụ mạnh là các loại bia lon, bia
chai.
Do hạn chế ở mức thu nhập vì vậy vào mùa hè người tiêu dùng thường tìm đến với loại bia rẻ
tiền là bia hơi và đây là một lợi thế đối với sản phẩm bia nhẹ “Light Beer” của công ty bia G1.
5.4. Ảnh hưởng thị hiếu của người tiêu dùng
- Nhóm 1: Tập hợp những người thích uống những loại bia có nồng độ nhẹ, dễ uống và uống
nhiều không bị say. Họ chủ yếu là những người uống bia kém hoặc phụ nữ hoặc những người mới
uống bia. Những người này uống được ít và đa số họ chỉ uống vào các dịp lễ, tết hoặc các buổi liên
hoan.
CHƯƠNG 3
Phân tích những đe dọa và cơ may
- Trên thị trường luôn xuất hiện những cơ hội Kinh doanh mới, nên công ty bia G1 không thể
chỉ trông dựa vào những sản phẩm hiện có, sản phẩm bia nhẹ sẽ tạo ra cơ may trên thị trường mới
phù hợp với mục tiêu, nguồn lực và sở trường của công ty.
- Cơ hội này cho phép công ty phát triển được lợi thế khó bắt chước sản phẩm, và đem lại lợi
nhuận lớn, lâu dài. Đây là một lợi thế cạnh tranh của công ty bia G1 so với các hãng bia khác, nó sẽ
giúp công ty bia G1 chiếm được thị trường rộng lớn hơn, và các đối thủ khó có thể ‘bắt chước sao
chép” nhanh chóng. Đó là việc chúng ta có thể làm.
1. Điểm mạnh:
- Sản phẩm mới, có chất lượng cao, trong thị trường hiện nay chỉ có hàng ngoại nhập.
- Uy tín hơn 10 năm bán hàng của công ty bia G1 cũng là một lợi thế.
- Công nghệ mới, sản phẩm ngoài giải khát còn có tác dụng chữa bệnh như một loại thực phẩm
chức năng (có bổ sung vitamin).
2. Điểm yếu:
- Hướng chiến lược từ trước chưa rõ ràng có thể đối thủ cạnh tranh trực tiếp với sản phẩm là các
loại giải khát, tăng lực rất có sẵn và đa dạng đang có trên thị trường.
- Hệ thống quản lý còn quan liêu, bộ máy cồng kềnh nhiều cấp gây lên chi phí sản xuất cao và
lãng phí nhiều trong các khâu sản xuất.
- Doanh thu hàng năm tăng thấp vì mạng luới cung cấp, phân phối mỏng, thị trường nhỏ chưa
mở rộng được thị trường tên tuổi công ty ít người biết đến.
- Sản phẩm của Công ty được ít người biết đến vì khâu quảng báo và chưa có sản phẩm chiến
lược, độc đáo trên thị trường.
3. Cơ may :
- Các hãng bia lớn như Hà Nội, Halida, Liên doanh Hà Tây, Sài gòn … chỉ tập trung vào thị
trường bia từ trung bình đến nặng không có sản phẩm bia nhẹ giống của bia G1 là loại bia từ 0 đến 5
độ.
- Thị người tiêu dung ngày càng quan tâm đến sức khỏe hơn đặc biệt nước ta số người mắc bệnh
gan, tim hạch chiếm 50% dân số Việt Nam cho nên mọi người sẽ quan tâm đến loại bia độ cồn thấp
để không ảnh hưởng đến sức khỏe ngược lại tốt cho sức khỏe. Tốt cho mọi người có bệnh về huyết