Trương Trần Dũng Tài chính doanh nghiệp 44C
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
Sinh viên thực hiện: Trương Trần Dũng
Lớp: Tài chính doanh nghiệp 44C
GV hướng dẫn: TS Đặng Ngọc Đức
I. Lời mở đầu
Vốn là điều kiện không thể thiếu được để một doanh nghiệp được thành
lập và tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong mọi loại hình
doanh nghiệp, vốn phản ánh nguồn lực tài chính được đầu tư vào sản xuất
kinh doanh. Trong quản lý tài chính, các doanh nghiệp cần chú ý quản lý
việc huy động và sự luân chuyển của vốn, sự ảnh hưởng qua lại của các
hình thái khác nhau của tài sản và hiệu quả tài chính. Nói cách khác, vốn
cần được xem xét và quản lý trong trạng thái vận động và mục tiêu hiệu
quả của vốn có ý nghĩa quan trọng nhất. Để có các đầu vào phục vụ sản
xuất kinh doanh doanh nghiệp phải có một lượng tiền ứng trước, lượng tiền
này gọi là vốn của doanh nghiệp hay nói cách khác vốn là biểu hiện bằng
tiền của vật tư tài sản được đầu tư vào sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu
sinh lời.
Vốn của doanh nghiệp được hình thành từ khi thành lập doanh nghiệp và
biến đổi trong quá trình sản xuất kinh doanh. Nếu các doanh nghiệp hoạt
động có hiệu quả, vốn của doanh nghiệp có chiều hướng tăng trưởng vì sau
mỗi chu kỳ kinh doanh vốn ban đầu lại được bổ sung bằng một phần lợi
nhuận thu được, phần bổ sung này phụ thuộc vào mức độ sinh lời trong
kinh doanh và các chính sách phát triển của doanh nghiệp.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
3
Trương Trần Dũng Tài chính doanh nghiệp 44C
Vốn lưu động là biểu hiện bằng tiền của các tài sản lưu động đầu tư vào
kinh doanh do vậy nó mang những đặc điểm của tài sản lưu động như: chỉ
tham gia vào một chu trình kinh doanh, luân chuyển một lần… Doanh
nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì phải quan tâm đến việc huy động và
người ta định nghĩa vốn là số tiền được ứng trước cho hoạt động sản xuất
kinh doanh kinh doanh. vốn sau khi ứng ra, được sử dụng vào sản xuất
kinh doanh và sau một chu kỳ hoạt động phải được thu về để đáp ứng cho
chu kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh sau. Vốn không thể bị hao hụt đi, vì
mất vốn đối với các doanh nghiệp đồng nghĩa với việc đứng trước nguy cơ
phá sản. Vốn lưu động có thể được hiểu như sau:
Vốn lưu động của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của của các tài sản
lưu động đầu tư vào sản xuất kinh doanh.
1.1.2. Đặc điểm của vốn lưu động
Vốn lưu động là hình thái biểu hiện bằng tiền của các tài sản lưu động
nên nó mang những đặc điểm tương tự như tài sản lưu động đó là vốn lưu
động tham gia vào một chu kỳ kinh doanh và vốn lưu động được luân
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
5
Trương Trần Dũng Tài chính doanh nghiệp 44C
chuyển một lần. Quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra
liên tục không ngừng nên vốn lưu động cũng vận động theo từng chu kỳ
một. Trong mỗi một chu kỳ vốn lưu động từ hình thái tiền tệ chuyển sang
hình thái vật chất là vật tư, hàng hóa dự trữ cho hoạt động sản xuất, qua
giai đoạn sản xuất vật tư được đưa vào sản xuất tạo nên thành phẩm và đưa
vào tiêu thụ. Kết thúc chu kỳ, khi doanh nghiệp thu được tiền từ việc bán
sản phẩm ra thị trường, vốn lưu động lại trở về hình thái tiền tệ ban đầu.
Trên thực tế chu trình trên không diễn ra một cách tuần tự mà đan xen vào
nhau, trong khi một bộ phận vốn lưu động được chuyển hóa thành vật tư,
hàng hóa dự trữ thì một bộ phận khác của vốn lưu động đang kết tinh trong
thành phẩm lại được chuyển hóa trở lại thành vốn bằng tiền, cứ như vậy
các chu kỳ sản xuất kinh doanh được lặp đi lặp lại, vốn lưu động được tuần
hoàn và luân chuyển liên tục. Tốc độ luân chuyển của vốn lưu động càng
lớn thì hiệu quả sử dụng của vốn lưu động càng cao. Muốn quá trình tái sản
xuất diễn ra liên tục thì doanh nghiệp cần có đủ vốn và phân bổ hợp lý
Theo cách này vốn lưu động của doanh nghiệp có thể chia thành 3 loại:
- Vốn lưu động trong khâu dự trữ sản xuất: là biểu hiện bằng tiền của các
khoản vật liệu chính, vật liệu phụ, nhiên liệu động lực, phụ tùng thay thế
công cụ lao động nhỏ… Loại vốn lưu động này đảm bảo cho quá trình sản
xuất của doanh nghiệp được liên tục.
- Vốn lưu động trong khâu sản xuất: là biểu hiện bằng tiền của các loại sản
phẩm dở dang, bán thành phẩm,… Loại vốn lưu động này giúp cho việc
sản xuất được liên tục, hợp lý.
- Vốn lưu động trong khâu lưu thông: là biểu hiện bằng tiền của thành
phẩm, vốn bằng tiền, các khoản vốn đầu tư ngắn hạn (đầu tư chứng khoán
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
7
Trương Trần Dũng Tài chính doanh nghiệp 44C
ngắn hạn, cho vay ngắn hạn...) các khoản thế chấp, ký cược, ký quỹ ngắn
hạn, các khoản vốn trong thanh toán (các khoản tạm ứng, các khoản phải
thu…),… Loại vốn lưu động này dùng để dự trữ sản phẩm đảm bảo cho
việc tiêu thụ sản phẩm được thường xuyên và đều đặn theo yêu cầu của
khách hàng
Thông thường tỷ trọng các loại vốn này tùy thuộc vào loại hình sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp, ví dụ đối với các doanh nghiệp kinh doanh
thương mại thì bộ phận vốn lưu động trong khâu sản xuất thường chiếm tỷ
trọng nhỏ, vốn lưu động trong các doanh nghiệp loại này phân bố chủ yếu
trong khâu dự trữ sản xuất (dự trữ hàng hóa để bán) và khâu lưu thông, còn
đối với các doanh nghiệp sản xuất thì thường vốn lưu động phân bố trong
khâu dự trữ sản xuất và khâu sản xuất còn vốn lưu động trong khâu lưu
thông có tỉ trọng nhỏ hơn. Cách phân loại này cho thấy sự phân bố vốn lưu
động trong từng khâu của quá trình sản xuất kinh doanh, từ đó có biện pháp
điều chỉnh cơ cấu vốn lưu động hợp lý sao cho có hiệu quả sử dụng cao
nhất.
1.1.3.2. Căn cứ theo hình thái biểu hiện của vốn lưu động
trái phiếu, cổ phiếu hay các khoản tín dụng mà doanh nghiệp chưa thanh
toán hoặc chưa đến hạn thanh toán.
Qua cách phân loại này có thể thấy kết cấu vốn lưu động của doanh
nghiệp được hình thành bằng vốn của bản thân doanh nghiệp hay từ các
khoản nợ. Từ đó có các quyết định huy động, quản lý, sử dụng vốn lưu
động hiệu quả, hợp lý hơn, đảm bảo an toàn tài chính trong sử dụng vốn
lưu động của doanh nghiệp.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
9
Trương Trần Dũng Tài chính doanh nghiệp 44C
1.1.3.4. Căn cứ theo nguồn hình thành
Nếu xét theo nguồn hình thành vốn lưu động của doanh nghiệp có thể
chia thành các nguồn như sau:
- Nguồn vốn điều lệ: là số vốn lưu động được hình thành từ ban đầu khi
thành lập hoặc nguồn vốn bổ sung trong quá trình sản xuất kinh doanh của
doanh nghiệp. Nguồn vốn này cũng có sự khác biệt giữa các loại hình
doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau.
- Nguồn vốn liên doanh liên kết: là số vốn lưu động được hình thành từ vốn
góp liên doanh của các bên tham gia doanh nghiệp liên doanh. vốn góp liên
doanh có thể bằng tiền mặt hoặc vật tư, hàng hoá...
- Nguồn vốn tự bổ sung: Là số vốn do doanh nghiệp tự bổ sung trong quá
trình sản xuất kinh doanh từ lợi nhuận của doanh nghiệp được tái đầu tư.
- Nguồn vốn đi vay: là số vốn lưu động được hình thành từ vốn vay các
ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng hoặc vay bằng phát hành trái
phiếu của doanh nghiệp.
Việc phân chia vốn lưu động theo nguồn hình thành giúp cho doanh
nghiệp quản lý được cơ cấu nguồn tài trợ cho nhu cầu vốn lưu động trong
kinh doanh của mình. Từ góc độ quản lý tài chính mọi nguồn tài trợ đều có
chi phí sử dụng của nó. Do đó doanh nghiệp cần xem xét, lựa chọn nguồn
tài trợ tối ưu để tối ưu hóa chi phí sử dụng vốn của mình từ đó nâng cao
lưu động là thấp nhất. Nói cách khác, hiệu quả sử dụng vốn lưu động thể
hiện khả năng sinh lời của vốn lưu động, nó cho biết mỗi đơn vị vốn lưu
động trong ký tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng trong kỳ.
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động có vai trò quan trọng trong việc đánh giá
hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp, bởi khác với vốn cố định, vốn lưu
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
11
Trương Trần Dũng Tài chính doanh nghiệp 44C
động cần các biện pháp linh hoạt, kịp thời phù hợp với từng thời điểm thì
mới đem lại hiệu quả cao bởi lẽ vốn lưu động có ảnh hưởng trực tiếp tới
hoạt động sản xuất của doanh nghiệp, chắc chắn không một doanh nghiệp
nào có thể tiến hành sản xuất kinh doanh mà thiếu vốn lưu động. Mặt khác
trong từng giai đoạn của quá trình sản xuất thì nhu cầu về vốn lưu động
cũng khác nhau do vậy trong việc sử dụng vốn lưu động cần có những điều
chỉnh hợp lý, kịp thời nhằm đạt hiệu quả cao nhất. Hiệu quả sử dụng vốn
lưu động là một trong những căn cứ đánh giá năng lực sản xuất, chính sách
dự trữ tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp và nó cũng có ảnh hưởng lớn
đến kết quả kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp.
Có thể nói rằng mục tiêu lâu dài của mỗi doanh nghiệp là tối đa hoá lợi
nhuận. Việc quản lý sử dụng tốt vốn lưu động sẽ góp phần giúp doanh
nghiệp thực hiện được mục tiêu đã đề ra. Bởi vì quản lý vốn lưu động
không những đảm bảo sử dụng vốn lưu động hợp lý, tiết kiệm mà còn có ý
nghĩa đối với việc hạ thấp chi phí sản xuất, thúc đẩy việc tiêu thụ sản phẩm
và thu tiền bán hàng, từ đó sẽ làm tăng doanh thu và lợi nhuận của doanh
nghiệp.
1.2.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
1.2.2.2.1. Vòng quay dự trữ, tồn kho
Giá vốn hàng hóa
Vòng quay dự trữ, tồn kho =
Tồn kho bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này nói lên 1 đồng vốn lưu động trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng
doanh thu thuần và chỉ tiêu này càng lớn càng tốt. Thông thường chỉ tiêu
trên được kết hợp với chỉ tiêu hiệu suất tài sản lưu động
Doanh thu thuần trong kỳ
Hiệu suất Tài sản lưu động =
TS lưu động sử dụng binh quân trong kỳ
1.2.2.2.4. Hàm lượng vốn lưu động
Vốn lưu động sử dụng trong kỳ
Hàm lượng vốn lưu động =
Doanh thu thuần trong kỳ
Chỉ tiêu này nói lên số vốn lưu động cần thiết để tạo ra 1 đồng doanh thu
thuần, chỉ tiêu này càng nhỏ thì càng tốt, nó phản ánh khá rõ ràng trình độ
sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp hoạt động có
hiệu quả thì chỉ tiêu này thường nhỏ và với cùng một lượng vốn lưu động
sử dụng trong kỳ sẽ tạo ra nhiều doanh thu hơn các doanh nghiệp khác.
1.2.2.2.5. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Lợi nhuận ròng trong kỳ
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động =
Vốn lưu động sử dụng bình quân
trong kỳ
Chỉ tiêu này nói lên 1 đồng vốn lưu động trong kỳ tạo ra bao nhiêu đồng
lợi nhuận ròng và chỉ tiêu này càng lớn thì càng tốt (đây cũng là chỉ tiêu
quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động).
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
14
Trương Trần Dũng Tài chính doanh nghiệp 44C
1.2.2.2.6. Một số chỉ tiêu khác
1.2.2.2.6.1. Mức tiết kiệm vốn lưu động
Doanh thu thuần kỳ phân tích x ( Thời gian
lượng tín dụng cao).
Đánh giá chung: nhìn chung để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn lưu động
của doanh nghiệp thì cần phải kết hợp tất cả các chỉ tiêu trên tuy nhiên
trong thực tế khó có thể xác định được hết các chỉ tiêu trên trong mỗi
doanh nghiệp nên người ta thường dựa vào hai chỉ tiêu quan trọng nhất đó
là: hiệu quả sử dụng vốn lưu động và vòng quay vốn lưu động.
1.2.2.3. Nâng cao Hiệu quả sử dụng vốn lưu động
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là yêu cầu tất yếu khách quan
của mỗi doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường. Mặc dù hầu hết các vụ
phá sản trong kinh doanh là hệ quả của nhiều yếu tố, chứ không phải chỉ
đơn thuần do quản trị vốn lưu động tồi. Nhưng cũng cần thấy rằng sự bất
lực của một số doanh nghiệp trong việc hoạch định và kiểm soát một cách
chặt chẽ các loại tài sản lưu động và các khoản nợ ngắn hạn hầu như là một
nguyên nhân dẫn đến thất bại cuối cùng của họ.
Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động là với một số vốn lưu động nhất
định nhưng doanh nghiệp tạo ra được nhiều doanh thu hơn và nhiều lợi
nhuận hơn hoặc đầu tư trang bị thêm cơ sở vật chất để mở rộng kinh doanh,
tăng doanh thu, hạ thấp giá thành, tăng lợi nhuận. Nâng cao hiệu quả sử
dụng vốn lưu động còn là biện pháp tài chính giúp doanh nghiệp bảo toàn
vốn lưu động.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
16
Trương Trần Dũng Tài chính doanh nghiệp 44C
1.3. Sự cần thiết phải bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu
động
1.3.1. Sự cần thiết phải bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu
động
Bảo toàn được vốn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nói chung là thực
hiện được mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp nhằm thu được lợi nhuận
tối đa tạo điều kiện để phát triển mở rộng quy mô hoạt động của doanh
thể nói bảo toàn và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động không chỉ có ý
nghĩa sống còn đối với các doanh nghiệp mà còn tác động tới sự phát triển
bền vững của nền kinh tế quốc dân.
1.3.2. Những nhân tố ảnh hưởng và các biện pháp chủ yếu nhằm bảo toàn
và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong các doanh nghiệp
1.3.2.1. Những nhân tố ảnh hưởng
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp được tiến hành trong một môi
trường hết sức phức tạp, đa dạng. Với một số nhân tố này thì giúp cho DN
phát triển tích cực và thuận lợi, còn một số nhân tố khác thì kìm hãm sự
phát triển. Do vậy, các nhà quản trị tài chính doanh nghiệp khi tiến hành
công việc của mình sẽ phải nhận biết, phân tích, sử dụng đo lường mức độ
ảnh hưởng của các nhân tố tới quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Có
thể chia các nhân tố ảnh hưởng thành hai nhóm sau.
1.3.2.1.1. Các nhân tố khách quan
Sự hình thành và phát triển của doanh nghiệp luôn gắn liền và chịu tác
động to lớn của môi trường xung quanh. Khả năng cải tạo môi trường theo
hướng có lợi cho doanh nghiệp là rất khó khăn, chính vì thế mà khả năng
thích nghi với môi trường để tồn tại và phát triển, phát huy những mặt tích
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
18
Trương Trần Dũng Tài chính doanh nghiệp 44C
cực và hạn chế những mặt tiêu cực của môi trường là điều mà mỗi doanh
nghiệp cần phải làm. Chúng ta xem xét các nhân tố ảnh hưởng khách quan
đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp.
- Môi trường kinh tế: mỗi doanh nghiệp đều là một thành viên của một nền
kinh tế nhất định nên nó chịu ảnh hưởng của nhiều yếu tố kinh tế mà trước
hết là các chính sách vĩ mô của Chính phủ như chính sách tài khoá, chính
sách lãi suất, chính sách hối đoái… tác động tới giá trị và số lượng các
khoản mục trong tài sản lưu động hết sức rõ rệt. Ngoài ra còn các tác động
khác như cung cầu thị trường về vốn sản phẩm hàng hoá của doanh nghiệp,
nước tạo môi trường cho các doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh
và hướng các hoạt động đó theo kế hoạch vĩ mô. Với bất kỳ thay đổi nào
trong chế độ chính sách hiện hành đều chi phối các mảng hoạt động của
doanh nghiệp. Các văn bản pháp luật về tài chính, về quy chế đầu tư như
các quy định về trích khấu hao, về tỷ lệ trích lập các quỹ, các văn bản về
thuế và đều ảnh hưởng lớn tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh
nghiệp.
1.3.2.1.2. Các nhân tố chủ quan
Hiệu quả sử dụng vốn lưu động chịu ảnh hưởng của các nhân tố sau:
- Trình độ quản lý vốn lưu động của doanh nghiệp: quản lý vốn lưu động
tốt sẽ làm tăng hiệu quả sử dụng vốn lưu động, việc này đòi hỏi phải có các
nhà quản lý có trình độ, được đào tạo, có khả năng phân tích đánh giá, dự
báo để xử lý kịp thời các vấn đề nảy sinh.
- Cơ cấu tổ chức lao động cuả DN: việc bố trí lực lượng lao động phù hợp
với chức năng nhiệm vụ sẽ giúp họ phát huy năng lực của mình và hoàn
thành tốt nhiệm vụ. Chẳng hạn ở khâu thu mua nguyên vật liệu doanh
nghiệp cần có nhân viên hiểu biết thị trường, có nhân viên kỹ thuật, giám
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
20
Trương Trần Dũng Tài chính doanh nghiệp 44C
định hàng hoá… Trong khâu tiêu thụ cần những nhân viên có năng lực,
kinh nghiệm để có thể đưa sản phẩm đến tay khách hàng một cách nhanh
nhất…
- Chính sách sử dụng vốn lưu động của doanh nghiệp: đây là một nhân tố
quan trọng bậc nhất ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn lưu động trong
doanh nghiệp. Doanh nghiệp sử dụng vốn lưu động có hiệu quả cao hay
không phụ thuộc nhiều vào chính sách sử dụng vốn lưu động của doanh
nghiệp như: các chính sách về tiền mặt, chính sách về dự trữ, chính sách về
tín dụng thương mại…
- Vấn đề con người luôn là then chốt quyết định các vấn đề khác. Con
từng ngành nghề kinh doanh mà mức tồn kho dự trữ cao thấp khác nhau,
nhưng đều chịu ảnh hưởng của những nhân tố như: qui mô sản xuất, khả
năng cung ứng của thị trường, giá cả của các loại nguyên vật liệu, đặc điểm
công nghệ sản xuất, trình độ quản lý…
Phương pháp quản trị vốn tồn kho dự trữ: phương pháp tổng chi phí tối
thiểu, phương pháp tồn kho bằng không… Tài sản tồn kho dự trữ biểu hiện
bằng tiền là vốn tồn kho dự trữ, để tiêt kiệm vốn và sử dụng có hiệu quả,
DN phải sử dụng phương pháp quản trị sao cho phù hợp.
- Quản trị vốn tiền mặt: nhiệm vụ vốn quản trị bằng tiền mặt là phải bảo
đảm cho doanh nghiệp có đầy đủ lượng vốn tiền mặt cần thiết đáp ứng kịp
thời các nhu cầu chi tiêu thường xuyên, tối ưu hóa số ngân quỹ hiên có,
giảm tối đa các rủi ro về lãi suất hoặc tỷ giá hối đoái và tối ưu hóa việc đi
vay ngắn hạn hoặc đầu tư kiếm lời.
Nội dung cơ bản của quản trị vốn tiền mặt là: xác định mức tồn quĩ tối
thiểu giúp doanh nghiệp tránh rủi ro do không thanh toán ngay, mất khả
năng mua chịu của nhà cung cấp.
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
22
Trương Trần Dũng Tài chính doanh nghiệp 44C
Người ta xác định mức tồn quỹ tối thiểu bằng cách lấy mức xuất quỹ
trung bình hàng ngày nhân với số lượng ngày dự trữ tồn quỹ.
Dự đoán và quản lý các nguồn nhập, xuất ngân quỹ. Trên cơ sơ so sánh
các nguồn nhập và các nguồn xuất quỹ đơn vị có thể thấy được mức dư hay
thâm hụt ngân quỹ, từ đó có biện pháp phù hợp để cân bằng thu chi.
- Quản trị các khoản phải thu, phải trả:
+ Quản trị các khoản phải thu: Để giúp cho doanh nghiệp nhanh chóng
thu hồi nợ, hạn chế được rủi ro và những chi phí không cần thiết, các doanh
nghiệp cần quan tâm tới một số biện pháp như mở sổ theo dõi chi tiết các
khoản nợ phải thu, thường xuyên đôn đốc để thu hồi nợ đúng hạn, có biện
pháp phòng ngừa rủi ro (yêu cầu đặt cọc hoặc ứng trước một phần đơn giá
Địa chỉ: Đông Ngạc – Từ Liêm – Hà Nội.
2.1.1.2. Quá trình phát triển của công ty
Quá trình phát triển của công ty có thể được tóm tắt như sau:
Từ năm 1961 đến năm 1981:
Trong giai đoạn này, công ty với tên gọi là Nhà máy bê tông đúc sẵn Hà
Nội, hoạt động dưới sự chỉ đạo trực tiếp của Bộ Kiến trúc, sản xuất kinh
doanh theo kế hoạch của Nhà nước. Trong thời kỳ này năm nào công ty
cũng hoàn thành chỉ tiêu được giao với mức tăng trưởng hàng năm là 15%.
Từ năm 1982 đến năm 1984:
Nhà máy thuộc Tổng công ty xây dựng Hà Nội, theo quyết định của Chủ
tịch Hội đồng Bộ trưởng số 324/CT-HDDBT ngày 11/12/1982 thành lập
Tổng công ty xây dựng Hà Nội. Ngoài các nhiệm vụ chủ yếu như trên, nhà
máy còn trang bị thêm một dây chuyền sản xuất các nhà ở tấm lớn phục vụ
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
24
Trương Trần Dũng Tài chính doanh nghiệp 44C
cho các công trình nhà ở tại thủ đô Hà Nội đồng thời mở rộng tổ chức sản
xuất.
Từ năm 1985 đến năm 1988:
Nhà máy bê tông đúc sẵn có thêm nhiệm vụ sản xuất xây lắp gồm lắp
ghép nhà ở, tấm lợp và cấu kiện nhỏ (quyết định thành lập lắp ghép nhà ở
tấm lớn thuộc Nhà máy bê tông đúc sẵn Hà Nội số 96/TCT-TCCB ngày
16/3/1985 của công ty xây dựng Hà Nội).
Giai đoạn này, mục tiêu của công ty là chuyển từ cơ chế ”bao cấp” sang
hạch toán kinh doanh, giữ vững sản xuất, ổn định cán bộ công nhân viên,
tạo tiền đề để phát triển mở rộng qui mô sản xuất sản phẩm.
Từ năm 1989 đến năm 1997:
Nhà máy tách khỏi Tổng công ty xây dựng Hà Nội để phát triển thành xí
nghiệp liên hiệp bê tông xây dựng Hà Nội, trực thuộc Bộ Xây dựng theo
quyết định số 857/BXD-TCLĐ ngày 16/10/1989 của Bộ Xây dựng.
- Tư vấn xây dựng các khu dân cư, khu đô thị, khu công nghiệp và các
công trình kỹ thuật hạ tầng bao gồm: lập dự án đầu tư, thẩm định dự án;
khảo sát, thí nghiệm; tư vấn đấu thầu; thiết kế, thẩm tra thiết kế tổng dự
toán, kiểm định chất lượng; quản lý dự án và các dịch vụ tư vấn khác
- Kinh doanh các ngành nghề khác theo quy định của Pháp luật.
Một số sản phẩm chính của công ty trong giai đoạn 1961-1997
Sản phẩm 1961-1981 1982-1984 1985-1988 1989-1997
Cột điện 27.799 m3 3.127 m3 7.782 m3 -
Ống nước 26.745 m3 2.441 m3 4.367 m3 200 loại
Panel 85.399 m3 4.423 m3 14.278 m3 130 loại
Các cấu kiện 54.188 m3 35.183 m3 31.308 m3 -
2.1.2. Cơ cấu tổ chức sản xuất và tổ chức quản lý tại công ty cổ phần bê
Chuyên đề thực tập tốt nghiệp
26
Trương Trần Dũng Tài chính doanh nghiệp 44C
tông xây dựng Hà Nội
2.1.2.1. Cơ cấu tổ chức sản xuất
Công ty bê tông xây dựng Hà Nội chuyển thành công ty cổ phần bê tông
xây dựng Hà Nội. Hiện nay công ty bao gồm các đơn vị như sau:
1. Xí nghiệp bê tông ly tâm
2. Xưởng bê tông xây lắp
3. Xí nghiệp cơ khí sửa chữa điện và nước
4. Xí nghiệp kinh doanh vật tư và dịch vụ
5. Xí nghiệp bê tông đúc sẵn Chèm
6. Xí nghiệp bê tông thương phẩm
7. Xí nghiệp xây dựng số 1
8. Xí nghiệp xây dựng và phát triển nông thôn
9. Xí nghiệp bê tông tại Quảng Ngãi
10. Xí nghiệp bê tông thương phẩm Chèm 1
11. Xí nghiệp bê tông thương phẩm Chèm 2