BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NGOẠI THƯƠNG
Nguyễn Thanh Tùng
Một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động kinh doanh
tại công ty Cổ phần Công nghệ Syntek
Chuyên ngành: Quản trị kinh doanh
Mã số: 60.34.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN TRỊ KINH DOANH
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: PGS, TS VŨ THỊ KIM
OANH
Hà Nội - 2012
LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian nghiên cứu, thực hiện luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng
dẫn và giúp đỡ tận tình của PGS, TS Vũ Thị Kim Oanh, Ban lãnh đạo Công ty Cổ
phần công nghệ Syntek cùng các đồng nghiệp.
Tôi xin chân thành cảm ơn PGS, TS Vũ Thị Kim Oanh, giảng viên trường Đại
học Ngoại thương đã hướng dẫn khoa học giúp tôi hoàn thành luận văn này.
Chúng tôi xin chân thành cảm ơn Ban lãnh đạo Công ty cổ phần công nghệ
Syntek và các bạn đồng nghiệp đã tạo điều kiện, giúp đỡ và hỗ trợ tôi làm luận văn
này.
Chúng tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới các thầy cô thuộc Khoa Sau Đại học
nói riêng và các thầy cô của Trường Đại học ngoại thương nói chung đã tận tình
truyền đạt kiến thức cho chúng tôi trong suốt thời gian học tập tại đây.
Do vẫn còn hạn chế về lý luận, kinh nghiệm nghiên cứu thực tế và thời gian để
thực hiện nên luận văn của tôi không tránh khỏi những thiếu sót nhất định. Vì vậy,
tôi mong muốn nhận được nhiều ý kiến đóng góp của thầy cô giáo để nghiên cứu
của tôi được hoàn thiện hơn.
Xin trân trọng cảm ơn!
Hà Nội, tháng 09 năm 2012
MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU VÀ SƠ ĐỒ
doanh của doanh nghiệp bị ảnh hưởng nặng nề bởi tình hình lạm phát, sức tiêu thụ
hàng hóa giảm, lại suất tiền vay ngân hàng cùng nhiều chi phí đầu vào tăng cao và
doanh nghiệp khó tiếp cận vốn, trong khi cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay
gắt. Trong năm 2012, tình hình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp vẫn còn
tiếp diễn những khó khăn do kinh tế toàn cầu và trong nước vẫn trong đà suy giảm
và lạm phát còn cao. Ngay từ bây giờ các doanh nghiệp cần phải thực hiện các
biện pháp nhằm chủ động ứng biến.
Nhà nước đang nỗ lực tập trung thực hiện nhiều biện pháp nhằm ổn định kinh
tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát, đồng thời quan tâm hỗ trợ và giúp các doanh nghiệp
trong nước tháo gỡ khó khăn thông qua các chính sách về thuế, tín dụng v.v…
Tuy nhiên doanh nghiệp vẫn sẽ còn tiếp tục gặp khó khăn do còn chịu tác động
của tình hình suy thoái kinh tế thế giới, cũng như các cuộc khủng hoảng năng
lượng, tài chính, môi trường. Do vậy, doanh nghiệp không thể ngồi chờ Nhà nước
tái cơ cấu mà phải tự mình chủ động làm trước. Bản thân các doanh nghiệp phải
tự tái cơ cấu, điều chỉnh chiến lược cạnh tranh, tự vượt khó để tồn tại và thích ứng
với bối cảnh mới và những đòi hỏi mới để phát triển.
Nằm trong bối cảnh kinh tế Việt Nam gặp nhiều khó khăn như vậy, hầu hết
các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực Công nghệ thông tin cũng bị ảnh
hưởng. Công ty cổ phần công nghệ Syntek cũng không là ngoại lệ. Trong hoàn
cảnh đó, việc đẩy mạnh hoạt động kinh doanh của Công ty có ý nghĩa hết sức
quan trọng giúp Công ty vượt qua khó khăn để tồn tại và phát triển.
2. Mục đích nghiên cứu
5
6
Luận văn nghiên cứu, tìm kiếm các giải pháp đẩy mạnh hoạt động kinh doanh
tại công ty cổ phần công nghệ Syntek nhằm tăng doanh thu, tiết kiệm chi phí,
nâng cao kết quả kinh doanh qua đó giúp cho Công ty cổ phần công nghệ Syntek
tồn tại và phát triển.
3. Đối tượng và giới hạn nghiên cứu
Về đối tượng nghiên cứu: luận văn nghiên cứu tình hình hoạt động kinh doanh
“Nghiên cứu nâng cao hiệu quả đầu tư phát triển công nghiệp CNTT Việt
Nam giai đoạn 2011-2015” của tác giả Nguyễn Anh Tuấn, Vụ Công nghệ thông
tin, Bộ Thông tin và Truyền thông. Đề tài có ý nghĩa đánh giá và định hướng
trong việc nâng cao hiệu quả đầu tư CNpCNTT theo hướng phù họp với điều kiện
và hoàn cảnh của các các doanh nghiệp CNNT tại Việt Nam. Đề tài định hướng
cho các doanh nghiệp CNTT tập trung nguồn lực trong nước, kết hợp với thu hút
đầu tư nước ngoài để phát triển công nghiệp phần mềm, công nghiệp nội dung số
và dịch vụ CNTT; đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài một cách có chọn lọc theo
hướng có giá trị gia tăng cao để phát triển công nghiệp phần cứng, điện tử và công
nghiệp hỗ trợ; ưu tiên thu hút đầu tư cho nghiên cứu phát triển và chuyển giao
công nghệ. Xác định quan điểm doanh nghiệp đóng vai trò chủ lực trong phát triển
CNpCNTT, Nhà nước tạo môi trường thuận lợi và hỗ trợ thông qua các cơ chế,
chính sách ưu đãi và một số dự án trọng điểm được coi là hướng đi chủ yếu trong
phát triển CNpCNTT giai đoạn tới. Đầu tư cho phát triển nguồn lực cho ngành
CNpCNTT được coi là hướng đi hiệu quả. Chính sách thu hút và sử dụng nguồn
nhân lực ở trình độ cao, nếu thành công, có thể giúp Việt Nam rút ngắn khoảng
cách với nền CNTT thế giới.
“Nghiên cứu, áp dụng các hệ thống quản lý chất lượng đối với doanh nghiệp
hoạt động trong lĩnh vực công nghiệp công nghệ thông tin” của tác giả Trần Hoài
Nam, Vụ Công nghệ thông tin, Bộ Thông tin và Truyền thông. Đề tài nghiên cứu
một số tiêu chuẩn quản lý chất lượng cho các doanh nghiệp phần mềm hiện tại
đang được áp dụng tại Việt Nam như CMMI và ISO 9001, ISO 270001, đưa ra
7
8
được cấu trúc và các cấp độ áp dụng của các tiêu chuẩn vào quy trình sản xuất
phần mềm. Từ đó chỉ ra được sự cần thiết và tác động tích cực của việc áp dụng
các chuẩn quản lý chất lượng đối với hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp
phần mềm.
“Nghiên cứu đề xuất các biện pháp thúc đẩy phát triển công nghiệp phần
mềm Việt Nam giai đoạn đến 2015” của tác giả Trần Quý Nam, Vụ Công nghệ
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, các phụ lục bảng,
chữ viết tắt, nội dung chính của luận văn gồm các chương như sau:
- Chương 1: Tổng quan về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Công
nghệ thông tin.
- Chương 2: Thực trạng hoạt động kinh doanh tại công ty cổ phần công
nghệ Syntek.
- Chương 3: Một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động kinh doanh tại công ty
cổ phần công nghệ Syntek.
9
10
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA
DOANH NGHIỆP CÔNG NGHỆ THÔNG TIN
1.1 Khái quát về hoạt động kinh doanh
1.1.1 Một số khái niệm
Hoạt động kinh doanh là hoạt động mua bán trao đổi hang hóa và dịch vụ giữa
các doanh nghiệp với nhau hoặc giữa các doanh nghiệp với người tiêu dùng cuối
cùng với mục đích là thu được lợi nhuận.
Hoạt động kinh doanh được hiểu là một quá trình liên tục từ nghiên cứu thị
trường và tìm cách đáp ứng nhu cầu đó thông qua việc thỏa mãn nhu cầu người tiêu
dùng để đạt được mục đích kinh doanh của doanh nghiệp.
“Nếu loại bỏ các phần khác nhau nói về phương tiện, phương thức, kết quả cụ
thể của hoạt động kinh doanh thì có thể hiểu kinh doanh là các hoạt động kinh tế
nhằm mục tiêu sinh lời của chủ thể kinh doanh trên thị trường” (Nguyễn Thị Hồng
Thủy, Nguyễn Thị Ngọc Huyên 1998, tr. 5)
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động kinh doanh
Hoạt động kinh doanh luôn chịu sự chi phối của các quy luật kinh tế, hệ thống
chính sách và luật pháp của nhà nước cũng như các yếu tố môi trường kinh doanh
khác.
mục tiêu an toàn được thực hiện thì các mục tiêu tiếp theo là vị thế và lợi nhuận của
doanh nghiệp mới đựoc thực hiện:
Mục đích lợi nhuận: lợi nhuận là mục đích trước mắt, lâu dài và thường xuyên
của hoạt động kinh doanh và nó cũng là nguồn động lực của kinh doanh. Muốn có
lợi nhuận thì doanh thu bán hàng và dịch vụ phải lớn hớn hơn chi phí kinh doanh.
Muốn có doanh thu bán hàng và dịch vụ lớn thì phải có được nhiều khách hàng,
giảm các chi phí kinh doanh.
11
12
An toàn: kinh doanh chịu tác động của nhiều yếu tố chủ quan, khách quan, rủi
ro trong kinh doanh là thường xuyên, do vậy an toàn là mục tiêu thứ hai của các nhà
kinh doanh. Trong thị trường cạnh tranh đầy biến động, có nhiều rủi ro, vấn đề bảo
toàn vốn và phát triển vốn để kinh doanh liên tục phát triển đòi hỏi phải đặt ra mục
tiêu an toàn trong kinh doanh. Với mục đích an toàn, doanh nghiệp phải đa dạng
hóa sản phẩm, dịch vụ kinh doanh, phải có chi phí bảo hiểm kinh doanh. Mặc dù
trong kinh doanh đòi hỏi các quyết định đưa ra phải rất nhanh, nhạy để nắm bắt các
cơ hội nhưng vẫn cần phải cân nhắc mặt lợi, mặt hại, có tầm nhìn để tránh rủi ro
thiệt hại có thể xảy ra.
Vị thế: với ngành nào, lĩnh vực nào cũng vậy không phải chỉ mình doanh
nghiệp kinh doanh mà còn nhiều doanh nghiệp khác cũng tham gia kinh doanh. Để
đảm bảo doanh nghiệp tồn tại và phát triển, doanh nghiệp cần phải duy trì và nâng
cao vị thế của mình trên thị trường. Vị thế là mục tiêu phát triển cả về quy mô kinh
doanh cũng như cả về thị phần trên thị trường. Mục tiêu vị thế thay đổi từ nhỏ đến
lớn, từ mục tiêu chen chân vào được thị trường tiến tới chiến lĩnh và làm chủ thị
trường.
1.2 Khái quát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phần mềm
1.2.1 Một số khái niệm trong ngành công nghiệp phần mềm
Phần mềm: phầm mềm là một tập hợp các chuỗi lệnh máy và các dữ liệu cần
thiết (số liệu, âm thanh, hình ảnh…) để điều khiển phần thiết bì và/hoặc hệ thống
thực hiện các chức năng nhất định
xuất theo hợp đồng có thể là một sản phẩm hoàn chính, phột phần mềm gia công
hoặc một phần mềm nhúng:
+ Phần mềm gia công: là một hay nhiều phần của một sản phẩm phần mềm
nào đó được một công ty thuê lại một công ty phần mềm khác thực hiện.
+ Phần mềm nhúng: là phần mềm được nhà sản xuất thiết bị cài sẵn vào
thiết bị và chúng được sử dụng ngay cùng với thiết bị mà không cần có sự cái
đặt của người sử dụng hay người thứ ba.
13
14
Dịch vụ phần mềm: là các dịch vụ liên quan đến phần mềm như dịch vụ bảo
hành bảo trì, dịch vụ đào tạo, dịch vụ chuyên môn, dịch vụ dự án, dịch vụ hỗ trợ
triển khai, cấp phép sử dụng bản quyền phần mềm, v.v
1.2.2 Các đặc điểm của ngành công nghiệp phần mềm
Công nghiệp phần mềm có một số đặc điểm sau:
Là một ngành công nghiệp sạch, đem lại lợi nhuận cao
Khác với những ngành kinh tế khác đòi hỏi đến nguyên, nhiên, vật liệu, công
nghiệp phần mềm chủ yếu dựa vào trí tuệ. Vì vậy, đây là một ngành công nghiệp
siêu sạch, không ảnh hưởng đến môi trường.
Chi phí đầu tư cho phát triển phần mềm chủ yếu là chi phí từ hoạt động trí tuệ,
tiếp thị. Chính vì vậy, lợi nhuận từ ngành công nghiệp này rất lớn. Trong những
năm gần đây, công nghiệp phần mềm đã tạo ra nhiều tập đoàn đa quốc gia hàng đầu
thế giơi, và rất nhiều doanh nhân, chuyên gia đã nhanh chóng trở thành triệu phú, tỷ
phú nhờ ngành công nghiệp mới mẻ này.
Là ngành công nghiệp mới
Công nghiệp phần mềm là một ngành công nghiệp mới mẻ. Phần lới các doanh
nghiệp phần mềm mới bắt đầu hoạt động trong vòng 20 năm trở lại đây. Đặc điểm
nổi bật của ngành công nghiệp này là không đòi hỏi phải đầu tư nhiều về trang thiết
bị, nguyên, nhiên, vật liệu, mà chủ yếu là đầu tư cho đào tạo nhân lực, nâng cao kỹ
năng, trí tuệ. Do vậy, có những công ty xuất phát rất nhỏ, nhưng biết sử dụng nhân
tài và có chiến lược phát triển đúng đắn, sau 5-10 năm thành lập đã có thể có ảnh
phần mềm đã và đang có xu hướng xây dựng các cơ sở sản xuất phần mềm và gia
công phần mềm tại nhiều nước khác nhau để tận dụng lợi thế so sánh về nguồn
nhân lực.
1.2.3 Nội dung hoạt động kinh doanh sản phẩm, dịch vụ phần mềm
Nghiên cứu thị trường sản phẩm, dịch vụ phần mềm
Bất kì một doanh nghiệp nào cũng phải tiến hành nghiên cứu thị trường. Nghiên
cứu thị trường là việc cần thiết và đầu tiên đối với mỗi doanh nghiệp khi bắt đầu
15
16
kinh doanh. Vì thị trường không phải là bất biến mà luôn biến động, thay đổi không
ngừng. Mục đích nghiên cứu thị trường của doanh nghiệp phần mềm là xác định
nhu cầu của thị trường, của các nhóm khách hàng về các sản phẩm, dịch vụ phần
mềm, trên cơ sở đó nâng cao khả năng cung ứng để thỏa mãn khách hàng.
Đối với doanh nghiệp phần mềm, trước khi đưa ra các sản phẩm, dịch vụ, doanh
nghiệp cần phải nghiên cứu thị trường để xác định những yêu cầu, những tính năng
mà khách hàng mong muốn, sản phẩm, dịch vụ đó giành cho nhóm khách hàng nào,
đặc điểm của khách hàng, khả năng tiêu thụ sản phẩm… để có thể đưa ra các chiến
lược kinh doanh phù hợp.
Thông qua nghiên cứu thị trường, các doanh nghiệp phần mềm có thể làm chủ
đồng vốn để kinh doanh có lãi. Nội dụng của nghiên cứu thị trường là nghiên cứu
các yếu tố cấu thành nên thị trường của doanh nghiệp, bao gồm: cung, cầu, giá cả và
sự cạnh tranh. Để nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp có thể tiến hành theo trình tự
sau:
- Xác định mục tiêu nghiên cứu
- Thiết kế bảng câu hỏi để thu thập thông tin
- Chọn mẫu để nghiên cứu
- Tiến hành thu thập dữ liệu
- Xử lý dữ liệu
- Rút ra kết luận và lập báo cáo
Doanh nghiệp có thể sử dụng hai phương pháp, nghiên cứu tại bàn và nghiên
quản trị phần mềm, dịch vụ bảo trì hệ thống, dịch vụ đào tạo hướng dẫn sử dụng
phần mềm, dịch vụ triển khai… Khi doanh nghiệp không thể đáp ứng được nhu cầu
của khách hàng thì sẽ mất khả hăng cạnh tranh trên thị trường. Khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp phụ thuộc rất nhiều vào các nguồn lực và cách huy động, kết hợp
các nguồn lực với nhau.
Xây dựng chiến lược và tổ chức thực hiện kinh doanh
17
18
Chiến lược kinh doanh có thể hiểu là định hướng hoạt động kinh doanh trong
thời gian dài cùng với các biện pháp, cách thức phân bổ các nguồn lực để đạt được
mục tiêu của doanh nghiệp trong khoảng thời gian tương ứng.
Việc xây dựng và thực hiện chiến dịch kinh doanh đối với doanh nghiệp phần
mềm ngày càng trở nên quan trọng và cần thiết. Vì môi trường kinh doanh ngày nay
đã thay đổi cơ bản so với trước đây đòi hỏi doanh nghiệp phải đổi mới tổ chức quản
lý về cả nội dung lẫn hình thức. Chiến lược kinh doanh sẽ giúp doanh nghiệp phần
mềm thấy rõ được mục đích và hướng đi của doanh nghiệp trong hoạt động kinh
doanh. Từ đó doanh nghiệp sẽ biết cần phải làm gì để gặt hái thành công trong kinh
doanh và biết được khi nào doanh nghiệp đạt tới mục tiêu đã định. Xác định đúng
mục đích và hướng đi sẽ giúp doanh nghiệp vừa thực hiện được mục tiêu vừa tiết
kiệm được nguồn lực và thời gian. Nếu xác đinh sai sẽ dẫn đến chệch hướng kinh
doanh, lãng phí thời gian và nguồn lực của doanh nghiệp.
Trong điều kiện môi trường kinh doanh biến đổi nhanh chóng tạo ra muôn vàn
cơ hội kiếm lợi nhuận cho doanh nghiệp đồng thời cũng không ít cạm bẫy rủi ro.
Chiến lược kinh doanh sẽ giúp doanh nghiệp phần mềm chủ động tận dụng tối đa
những cơ hội kinh doanh khi chúng vừa xuất hiện và giảm bớt những rủi ro trên
thương trường.
Đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh
Hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở lập và thực hiện
chiến lược kinh doanh mà còn đánh giá kết quả, hiệu quả hoạt động kinh doanh.
Đây là nội dung cuối cùng trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và cũng là
mức chất lượng nhất định, thì việc sở hữu một đội ngũ nhân lực chất lượng cao sẽ
đem lại thế mạnh cho doanh nghiệp để có thể cạnh tranh, phát triển và chiếm lĩnh
thị trường.
1.3.1.2 Sản xuất – tác nghiệp
Công tác sản xuất- tác nghiệp bao gồm tất cả các hoạt động liên quan đến các
yếu tố đầu vào, tổ chức, phối hợp các yếu tố đó nhằm biến đổi chúng thành các sản
phẩm vật chất hoặc dịch vụ đầu ra mong muốn bằng công nghệ và các kỹ thuật phù
19
20
hợp. Để tạo ra sản phẩm và dịch vụ, các doanh nghiệp đều phải thực hiện 3 chức
năng cơ bản: marketing, sản xuất, tài chính. Do đó có thể nói rằng công tác sản xuất
và tác nghiệp có tầm quan trọng đặc biệt trong hoạt động của doanh nghiệp. Nếu
thực hiện tốt thì sẽ tạo khả năng sinh lợi lớn cho doanh nghiệp. Ngược lại nếu thực
hiện kém sẽ làm cho doanh nghiệp thua lỗ, thậm chí có thể bị phá sản.
Với đặc thù sản phẩm công nghệ thông tin là sản phẩm chứa hàm lượng chất
xám cao do đó việc kiểm soát công tác sản xuất-tác nghiệp thường khó khăn hơn so
với các ngành sản xuất vật chất khác. Kết quả, chất lượng của các sản phẩm công
nghệ thông tin phụ thuộc rất nhiều vào quy trình sản xuất, nhất là đối với sản phầm
phần mềm. Nếu quy trình và kiểm soát quy trình không tốt sẽ dẫn đến chất lượng
sản phẩm không đạt yêu cầu, sản phẩm có nhiều lỗi, thời gian hoàn thành sản phẩm
bị kéo dài, chi phí sản xuất tăng cao.
1.3.1.3 Công tác marketing
Marketing là quá trình xúc tiến với thị trường nhằm thỏa mãn nhu cầu, mong
muốn của con người. Từ góc độ doanh nghiệp thì marketing là một dạng hoạt động
chức năng của doanh nghiệp nhằm đạt được các mục tiêu thông qua trao đổi hàng
hóa trên thị trường và trên cơ sở thỏa mãn tốt nhất nhu cầu, mong muốn của khách
hàng mục tiêu.
Muốn thành công trong kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải hiểu biết cặn kẽ
về thị trường, về những nhu cầu và mong muốn của khách hàng, về nghệ thuật ứng
xử trong kinh doanh. Ngày nay, các doanh nghiệp công nghệ thông tin phải hoạt
1.3.1.5 Nghiên cứu và phát triển
Công tác này sẽ thực hiện việc nghiên cứu và đề xuất các ý tưởng về sản phẩm
và các yếu tố liên quan đến sản phẩm, nghiên cứu công nghệ mới, nghiên cứu cải
tạo hoặc ứng dụng mới. Đây là việc nghiên cứu và đưa ra sản phẩm mới, đáp ứng
với nhu cầu khách hàng, đồng thời tạo ra nhu cầu mới cho khách hàng. Việc nghiên
cứu cải tiến cũng như ứng dụng công nghệ mới vào sản xuất cũng làm tăng năng
suất lao động, giảm chi phí, rút ngắn thời gian quay vòng Tất cả các điều đó nhằm
21
22
duy trì vị thế chắc chắn cho doanh nghiệp trong hiện tại, đồng thời nó giúp doanh
nghiệp vươn tới các vị trí cao hơn trong ngành.
Trong giai đoạn hiện nay, lĩnh vực công nghệ thông tin sẽ phát triển mạnh, đồng
thời sẽ đặt ra hàng loạt thách thức lớn đối với các doanh nghiệp. Vì thế, doanh
nghiệp hoạt động trong lĩnh vực công nghệ thông tin cần phải gấp rút giải quyết
được các vấn đề như liên quan đến nhân sự chất lượng cao, chiến lược phát triển thị
trường hiệu quả, nâng cao khả năng cạnh tranh mà một trong những vấn đề mấu
chốt chính là tập trung cho nghiên cứu và phát triển, nhằm nâng cao năng lực cạnh
tranh và góp phần khẳng định vị trí của doanh nghiệp trên thị trường công nghệ
thông tin. Bên cạnh đó, hoạt động nghiên cứu và phát triển sẽ làm tăng giá trị cho
các sản phẩm phần công nghệ thông tin.
22
23
1.3.1.6 Công tác quản trị
Công tác quản trị giữ vai trò trung tâm trong các hoạt động của doanh nghiệp.
Đây là hoạt động đem lại sự phát triển trong dài hạn và thu lại sự phát triển thực sự
về chất cho doanh nghiệp. Công tác quản trị bao gồm:
Lập kế hoạch: đây là chức năng khởi đầu và trọng yếu với công tác quản trị. Nó
nó dự báo, phân tích chiến lược, đề ra chính sách, thiết lập các mục tiêu Như vậy
nó quyết định đến hướng đi cho doanh nghiệp và ảnh hưởng trực tiếp đến tương lai
của doanh nghiệp.
tính hấp dẫn của một ngành.
1.3.2.1 Môi trường chính trị - pháp luật
“Môi trường pháp lý bao gồm luật, văn bản dưới luật, quy trình, quy phạm kỹ
thuật sản xuất… Tất cả các quy phạm kỹ thuật sản xuất kinh doanh đều tác động
trực tiếp tới kết quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp” (Ngô Đình Giao
1997, tr.422).
Luật gồm có luật trong nước và luật quốc tế, các văn bản dưới luật cũng vậy, có
những quy định do Chính phủ Việt Nam ban hành, có những quy định do các tổ
chức quốc tế (WTO, AFTA, ASEAN) ban hành mà các doanh nghiệp Việt Nam khi
tham gia vào hội nhập và toàn cầu hoá phải tuân theo. Mọi quy định và luật lệ trong
hợp tác kinh doanh quốc tế đều có ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả hoạt động kinh
doanh, nó tác động trực tiếp đến mọi phương diện như tín dụng, thuế, chống độc
quyền, bảo hộ, ưu đãi, bảo vệ môi trường… những chính sách này khi tác động lên
nền kinh tế sẽ ra cơ hội cho doanh nghiệp này nhưng đồng thời cũng sẽ tăng nguy
cơ cho doanh nghiệp khác.
Sự ổn định của môi trường pháp lý cũng như sự ổn định chính trị sẽ là một nhân
tố thuận lợi tạo điều kiện cho doanh nghiệp phát triển, làm tăng khả năng cạnh tranh
của doanh nghiệp đồng thời góp phần làm tăng khả năng cạnh tranh của quốc gia.
Ngược lại, doanh nghiệp sẽ gặp phải nhiều khó khăn khi phải đối diện với những
24
25
thay đổi liên tục của pháp luật, dẫn đến suy yếu năng lực cạnh tranh của doanh
nghiệp.
Những năm gần đây được coi là giai đoạn bùng nổ công nghệ thông tin với rất
nhiều dòng sản phẩm và xu thế công nghệ mới, hiện đại ra đời. Việc ứng dụng công
nghệ thông tin vào mọi mặt, mọi lĩnh vực của đời sống như kinh tế - chính trị - xã
hội đã trở thành một xu thế chung. Đi cùng với sự phát triển vượt bậc đó thì vai trò
của những người lãnh đạo công nghệ thông tin, cũng được chú ý và nhìn nhận đúng
đắn trên thế giới. Chức danh, cũng như vai trò lãnh đạo của các lãnh đạo công nghệ
thông tin ở Việt Nam đã được nhìn nhận và đánh giá cao từ phía các nhà lãnh đạo,