LUẬN VĂN: Một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu tại công ty cổ phần dệt công nghiệp Hà Nội – Haicatex potx - Pdf 12



LUẬN VĂN:

Một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động
xuất khẩu tại công ty cổ phần dệt công
nghiệp Hà Nội – Haicatex

quan trọng, góp phần đổi mới sâu sắc nền kinh tế - xã hội nước ta, cũng như góp
phần nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Việt Nam cũng đã thiết lập
được mối quan hệ ngoại giao với nhiều nước, tiếp tục mở rộng hoạt động ngoại
thương theo hướng đa dạng hoá, đa phương hoá, tích cực hội nhập vào nền kinh tế
thế giới, tham gia các tổ chức quốc tế như ASEAN, AFTA, APEC, WTO…Điều
này đã làm cho các hoạt động ngoại thương, đặc biệt là hoạt động xuất nhập khẩu
ngày càng trở nên sôi động.
Trong điều kiện đó, mỗi doanh nghiệp đều phải tìm cho mình những hướng
đi thích hợp nhằm nâng cao được lợi thế của mình, tận dụng được những cơ hội do
quá trình hội nhập kinh tế quốc tế mang lại, cũng như vượt qua những thách thức
của nó. Một trong những hướng đi đó là nâng cao hiệu quả sản xuất trong nước nhằm chiếm lĩnh thị trường nội địa, đồng thời đẩy mạnh hướng xuất khẩu ra thị
trường thế giới. Và, công ty cổ phần dệt công nghiệp Hà Nội cũng không phải là
một ngoại lệ, bên cạnh việc đẩy mạnh sản xuất nhằm đáp ứng thị trường trong nước,
việc tìm kiếm thị trường đẩy mạnh xuất khẩu ra nước ngoài cũng là một trong
những chủ truơng quan trọng của công ty. Đó cũng chính là lý do tôi lựa chọn đề tài
“ Một số giải pháp đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu tại công ty cổ phần dệt công
nghiệp Hà Nội – Haicatex” để nghiên cứu. Trong đề tài này, tôi chỉ tập trung phân
tích tình hình thực tế hoạt động kinh doanh xuất khẩu của công ty cổ phần dệt công
nghiệp Hà Nội trong thời gian qua, tìm ra những thành công và những vấn đề còn
tồn tại ở Công ty . Trên cơ sở đó, đưa ra một số biện pháp kiến nghị nhằm mở rộng
hoạt động và tăng cường hiệu quả kinh doanh xuất khẩu của Công ty trong thời gian
tới.
Đề tài được chia làm 2 chương:
Chương 1: Thực trạng hoạt động xuất khẩu tại công ty cổ phần dệt công nghiệp
Hà Nội – Haicatex trong thời gian qua.
Chương 2: Phương hướng giải pháp thúc đẩy hoạt động xuất khẩu tại Haicatex
đến năm 2015.

Dệt chăn tại xã Vĩnh Tuy, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Giai đoạn này công ty gặp rất
nhiều khó khăn cả về cơ sở vật chất và nguyên vật liệu. Sản phẩm chủ yếu của công
ty là chăn chiên sản xuất từ phế liệu bông đay và sợi rối của nhà máy dệt Nam Định
và phế liệu của một số nhà máy như nhà máy dệt 8/3 và nhà máy dệt kim Đông
Xuân. Tuy nhiên, do công nghệ lạc hậu, nguồn nguyên vật liệu thiếu và không đều
đặn nên sản phẩm chất lượng không tốt, giá thành cao. Do đó, thời gian này, xí
nghiệp thua lỗ liên tục, nhà nước thường xuyên phải bù lỗ.
Năm 1970, xí nghiệp lắp đặt dây chuyền sản xuất vải mành từ bông sợ do Trung
Quốc giúp đỡ xây dựng Năm 1973, xí nghiệp trả lại dây chuyền dệt chăn cho nhà máy dệt Nam Định
và nhận nhiệm vụ mới do nhà nước giao là lắp đặt dây chuyền sản xuất vải bạt song
song hoạt động cùng dây chuyền sản xuất vải mành. Bắt đầu từ đây, hoạt động kinh
doanh của công ty dần đi vào ổn định
+ Giai đoạn 2: 1973 – 1896: Giai đoạn hoạt động tương đối ổn định. Tháng
10/1973, nhà máy đổi tên thành nhà máy Dệt vải Công nghiệp Hà Nội với nhiệm vụ
chủ yếu là dệt các loại vải dùng trong công nghiệp như: vải mành, vải bạt, xe các
loại sợi Trong giai đoạn này, Nhà máy thực hiện kế hoạch sản xuất theo cơ chế
bao cấp, đầu vào và đầu ra đều do Nhà nước chỉ định, doanh nghiệp lo tổ chức sản
xuất và tiêu thụ sản phẩm tương đối ổn định và theo xu thế năm sau cao hơn năm
trước, sản phẩm các loại làm ra đều được ưa chuộng và được tiêu thụ từ Bắc vào
Nam.
+ Giai đoạn 3: 1986 – 2002. Từ năm 1986, nhà nước chuyển đổi từ cơ chế kế
hoạch hóa tập trung sang cơ chế thị trường, hoạt động ngoại thương phát triển
mạnh, sản phẩm của Nhà máy đối mặt với sự cạnh tranh mạnh mẽ của sản phẩm
cùng loại trên thị trường từ các thành phần kinh tế khác nhau và sản phẩm nhập
khẩu, thị phần tiêu thụ của Nhà máy bị giảm đáng kể, trước tình hình đó Nhà máy
đã tìm cách nâng cao chất lương sản phẩm, thay thế nguyên liệu sản xuất vải mành
từ 100% cotton sang sợi PC, đa dạng hoá sản phẩm, sản xuất thêm các loại vải bạt

hiệu của mình trên thị trường, được khách hàng trong và ngoài nước tín nhiệm,
đánh giá cao để thiết lập sự hợp tác lâu dài trong kinh doanh trên tinh thần bình
đẳng mà hai bên cùng có lợi
1.1.2. Chức năng nhiệm vụ
+ Chức năng
Công ty Cổ phần Dệt công nghiệp Hà Nội có chức năng sản xuất các sản
phẩm cung cấp cho công nghiệp như: vải mành, vải bạt, băng tải, vải địa kỹ thuật,
vải không dệt, các sản phẩm phục vụ ngành may mặc. Thêm vào đó công ty còn
thực hiện các hoạt động thương mại khác để có thể phát triển bền vững trong điều
kiện nền kinh tế hội nhập như hiện nay.
+ Nhiệm vụ
Với vai trò là một đơn vị kinh tế độc lập trong nền kinh tế quốc dân, công ty cổ phần Dệt công nghiệp Hà Nội có những nhiệm vụ sau:
Nghiên cứu thị trường trong và ngoài nước, tổ chức kinh doanh trên các lĩnh
vực đăng ký kinh doanh theo pháp luật.
Tổ chức sản xuất, nâng cao năng suất lao động, không ngừng áp dụng tiến bộ
khoa học công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm đáp ứng nhu cầu thị trường. Tổ
chức thực hiện các phương án kinh doanh đạt hiệu quả cao.
Chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật của Nhà nước, quy định của Bộ Công
thương và các ngành hữu quan. Thực hiện các chế độ chính sách quản lý sử dụng
vốn, vật tư, tài sản, bảo toàn và phát triển vốn, thực hiện nghĩa vụ đối với Nhà nước.
Thực hiện nghiêm chỉnh các hợp đồng với các đơn vị, doanh nghiệp trong và
ngoài nước.
Quản lý tốt đội ngũ cán bộ công nhân viên theo phân cấp quản lý. Thực hiện
chế độ chính sách của Nhà nước đối với người lao động, phát huy vai trò chủ động
sáng tạo của người lao động, không ngừng nâng cao bồi dưỡng chất lượng chuyên
môn nghiệp vụ, phát triển nguồn nhân lực. Phân phổi lợi nhuận công bằng hợp lý.
1.1.3. Ngành nghề kinh doanh

động kinh doanh cũng như quản lý, điều hành công ty. Ban kiểm soát hoạt động độc
lập với Hội đồng quản trị và bộ máy điều hành của Tổng giám đóc, có quyền thẩm
vấn với Hội đồng quản trị và kiểm toán, kiểm tra tính hợp lý trong quản lý, điều
hành hoạt động kinh doanh của công ty.
Ban giám đốc: bao gồm Tổng giám đốc, Phó tổng giám tốc, Giám đốc điều
hành kỹ thuật và giám đốc điều hành sản xuất.
Tổng giám đốc là người đại diện pháp luật của công ty, quyết định mọi vấn
đề liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh, điều hành hoạt động hàng ngày,
chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về các quyền hạn và nhiệm vụ được giao,
tổ chức thực hiện các quyết định của Hội đồng quản trị, định hướng chiến lược
phương án kinh doanh.
Phó Tổng giám đốc chịu trách nhiệm trước tổng giám đốc về các công việc
được phân công. Chức nắng chính là điều hành, quản lý công tác nội chính công ty,
quản lý chế độ chính sách người lao động, đời sống cán bộ công nhân viên, quản lý
công tác sửa chữa duy tu các hạng mục xây dựng cơ bản, quản lý giám sát hoạt
động sản xuất kinh doanh may.
Giám đốc điều hành kỹ thuật: có chức năng điều hành hệ thống quản lý chất
lượng của công ty, quản lý chặt chẽ quy trình công nghệ, các thông số kỹ thuật và
kiểm tra chất lượng nguyên vật liệu, thành phẩm cũng như bán thành phẩm trên các
dây chuyền sản xuất để có biện pháp xử lý đảm bảo chất lượng sản phẩm, đáp ứng
yêu cầu tiêu chuẩn đặt ra, nghiên cứu và ứng dụng khoa học kỹ thuật tiên tiến trong
sản xuất.
Giám đốc điều hành sản xuất: có chức năng điều hành và quản lý trực tiếp
các dây chuyền sản xuất, cân đối thực hiện kế hoạch sản xuất của công ty, thiết kế
mặt hàng, thiết lập phương án kinh doanh.

Các phòng ban trong công ty:
- Phòng tổ chức – hành chính: Quản trị nhân lực của công ty, tham mưu, giải

xuất vải mành làm lốp xe các loại, vải mành được sản xuất từ sợi Nylon6, Nylon66
hoặc Polyester trên dây chuyền công nghệ hiện đại được chuyển giao từ Tây Âu và
Mỹ, sản phẩm được chế biến toàn bộ từ khâu xe sợi - dệt vải - nhúng tẩm, được thị
trường trong và ngoài nước tín nhiệm đặt hàng ngày càng tăng. Bên cạnh đó,
Haicatex cũng là nhà sản xuất vải địa kỹ thuật không dệt đầu tiên của Việt Nam với
dây chuyền thiết bị tiên tiến hang đầu thế giới do tập đoàn DILO – CHLB Đức
chuyển giao và hệ thống thiết bị thí nghiệm hoàn chỉnh đạt tiêu chuẩn VILLAS137.
1.1.6. Kết quả sản xuất kinh doanh năm vừa qua
Hoạt động chính của công ty là sản xuất, doanh thu từ sản xuất công nghiệp
luôn chiếm trên 80% tổng doanh thu, còn lại là doanh thu từ hàng hóa dịch vụ. Do
đó, chúng ta sẽ chỉ xét đến các mặt hàng do công ty sản xuất.
+ Cơ cấu mặt hàng kinh doanh
Các sản phẩm chủ yếu của công ty được chia thành các nhóm cơ bản sau:
Nhóm 1: Vải mành làm cốt lốp ô tô, xe máy, xe đạp các loại. Vải mảnh dệt từ
bông hoặc tơ sợi hóa học, cấu tạo chủ yếu bằng sợi dọc còn sợi ngang rất thưa, cán
ép cao su 2 mặt tạo ra sản phẩm. Một số sản phẩm vải mành chủ yếu: 840D/1,
840D/2, 126D/2V1…
Nhóm 2: Vải không dệt với các mặt hàng vải địa kỹ thuật, vải lót giầy thể
thao, vải thảm
Đây là nhóm hàng chủ lực, giữ vai trò quan trọng trong cơ cấu mặt hàng của
công ty và đang ngày càng được chú trọng phát triển
Ngoài ra công ty còn một số mặt hàng khác như: hàng may mặc,vải bạt.
Nhưng từ tháng 4 năm 2009, xí nghiệp dệt may đã tách ra thành lập công ty con nên
doanh thu của công ty chủ yếu dựa trên 2 nhóm sản phẩm trên
Đơn vị: %
Năm Vải mành Vải không dệt May mặc
2006 56.05 38.55 5.4
xuất khẩu được đẩy mạnh, doanh thu từ xuất khẩu tăng lên. Những điều kiện này đã
giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty gặp nhiều thuận lợi, doanh thu
và lợi nhuận tăng cao.
Năm 2008, tổng doanh thu đạt 304,7 tỷ đồng, tăng 13,8% so với năm 2007,
nộp ngân sách 21,02 tỷ. Lợi nhuận đạt 3,2 tỷ đồng, tăng 10,67% so với năm 2007.
Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu là 18,8%.
- Năm 2008 là năm kinh tế thế giới đứng trước cuộc khủng hoảng tài chính,
giá các nguyên vật liệu đầu vào như dầu mỏ, thép tăng cao kéo theo giá của các
nguyên liệu đầu vào của công ty bị ảnh hưởng không nhỏ. Đây là một trong những
nguyên nhân dẫn đến mức tăng doanh thu và lợi nhuận của công ty giảm
Năm 2009, tổng doanh thu đạt 320,2 tỷ, tăng 5.1% so với năm 2008. Lợi
nhuận đạt 4.2 tỷ VND, tăng 32.2% so với năm 2008
1.2. Thực trạng hoạt động xuất khẩu tại Haicatex
1.2.1. Thuận lợi và khó khăn trong hoạt động xuất khẩu của công ty
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay luôn tồn tại những cơ
hội cũng như thách thức đối với Việt Nam nói chung và các doanh nghiệp nói riêng.
Đối với hoạt động xuất khẩu của Haicatex cũng vậy, luôn tồn tại những cơ hội và
thách thức chung của Việt Nam và riêng của bản thân công ty 1.2.1.1. Thuận lợi
Hội nhập kinh tế quốc tế tạo ra nhiều cơ hội cho hoạt động xuất khẩu của
công ty như:
- Sự gia tăng các luồng chuyển giao vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý với
các nước tiên tiến trên thế giới
- Thị trường xuất khẩu ngày càng được mở rộng, đặc biệt là đối với mặt hàng
vải không dệt của công ty đang ngày càng được ưa chuộng trên nhiều thị
trường như: Úc, Malaysia
- Mối quan hệ thân thiết của công ty với các nhà cung ứng nguyên vật liệu
cũng là một điều kiện thuận lợi cho hoạt động xuất khẩu của công ty

Đơn vị: nghìn USD

Hình 1.3: Kim ngạch xuất khẩu qua các năm
Nguồn: báo cáo kết quả kinh doanh
Qua biểu đồ trên ta thấy:
Năm 2006, là một năm nhiều biến động với hoạt động xuất khẩu của công ty.
Sản phẩm vải mành của công ty chịu ảnh hưởng trực tiếp của thị trường ngành cao
su suy giảm do cơn sốt giá cao su tăng mạnh và tình hình nguyên vật liệu đầu vào
không ổn định nên 8 tháng đầu năm công ty chủ yếu chỉ hoạt động cầm chừng theo
từng đơn hàng. Tuy nhiên, mặt hàng vải không dệt của công ty ngày càng khẳng định được vị trí trên thị trường trong nước và nước ngoài. Vì thế, kim ngạch xuất
khẩu của công ty vẫn đạt 850,1 nghìn USD, tăng 111% so với năm 2005.
Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu của công ty là 1758.850 nghìn USD, tăng
tuyệt đối là 908.75 nghìn USD, tăng 106,9% so với năm 2006.
Năm 2008, kim ngạch xuất khẩu của công ty tăng mạnh lên mức 3250 nghìn
USD, tăng 84,8% so với năm 2007. Đạt được kết quả này là do công ty đã chú trọng
công tác nghiên cứu thị trường, đặc biệt chú trọng vào mặt hàng vải không dệt; thị
trường xuất khẩu của công ty được mở rộng sang các nước như Indonesia,
Bangladesh
Năm 2009, kim ngạch xuất khẩu của công ty đạt 685.4 nghìn USD, giảm
tuyệt đối là 2564.6 nghìn USD. Tuy nhiên, mức giảm này chỉ mang tính chất báo
cáo do tháng 4/ 2009, xí nghiệp may được tách ra thành công ty con, nên mặt hàng
may mặc xuất khẩu không được phản ánh vào kim ngạch xuất khẩu của công ty.
Để thấy rõ hơn tình hình xuất khẩu của công ty, ta đi vào phân tích thực
trạng xuất khẩu của công ty theo các khía cạnh sau
1.2.2.2. Kim ngạch xuất khẩu theo mặt hàng
Hơn 35 năm SXKD Công ty Dệt Vải Công Nghiệp Hà Nội đã thành công,
khẳng định uy tín, tên tuổi của mình trong lĩnh vực cung cấp các vật liệu vải cho

chuẩn VILAS137. Năm 2006, vải không dệt của Haicatex được chọn sản phẩm chủ
lực của thành phố Hà Nội và được coi là sản phẩm xuất khẩu chủ lực của công ty
trong thời gian tới.
Hình 1.5: Kim ngạch xuất khẩu vải không dệt
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh
Qua biểu trên ta thấy, tình hình xuất khẩu vải không dệt của công ty trong
thời gian qua không ổn định.
Năm 2007, giá trị xuất khẩu vải không dệt đạt 605.463 nghìn USD. Năm 2008, giá
trị xuất khẩu vải không dệt tăng mạnh, đạt mức 1168.1 nghìn USD, tăng 92.9% so
với năm 2007. Đạt được kết quả này là do công tác thị trường đã được công ty hết
sức quan tâm, đã có những chính sách quyết liệt để giữ vững thị phần và không
ngừng phát triển thêm. Bên cạnh đó, công ty đã đăng ký được độc quyền nhãn hiệu
vải địa kỹ thuật DUX và tham gia vào hiệp hội vải địa quốc tế IGS đã tạo điều kiện
thuận lợi cho việc mở rộng thị trường xuất khẩu sang các nước thành viên. Đến năm
2009, giá trị vải không dệt xuất khẩu giảm xuống còn 613.362 nghìn USD do ảnh
hưởng của suy thoái kinh tế và gặp phải sự cạnh tranh gay gắt của Trung Quốc.
1.2.2.3. Kim ngạch xuất khẩu theo thị trường
Hiện tại, các sản phẩm của công ty chủ yếu được xuất khẩu sang ba thị
trường chính là Úc, Malaysia và Newzealand. Trước năm 2007, thị trường xuất
khẩu vải không dệt của công ty chủ yếu là thị trường Úc nhưng nay đã được mở
rộng sang Malaysia, Newzealand và một số thị trường khác như: Indonesia,
Bangladesh…. Trong đó:
Thị trường Úc là thị trường truyền thống, có nhu cầu tiêu thụ tương đối ổn định và được rải đều trong năm. Hiện tại, công ty đã đặt được một đại lý tiêu thụ
độc quyền ở Úc. Đại lý này nghiên cứu thị trường và gửi đơn đặt hàng về công ty để

Melbourne và Sydney) năm 2008 doanh thu đạt gần 1 triệu USD tăng 35% so với
năm 2007, JPS ( mạng lưới tiêu thụ tại Đông Nam Á và Châu phi) năm 2008 doanh
thu đạt 715 nghìn USD tăng 28% so với năm 2007. Hiện tại, công ty đang nghiên
cứu và có những xúc tiến tích cực đẻ thiết lập các đại lý tại châu Âu nhằm mở rộng
thị trường.
1.3. Đánh giá chung về hoạt động xuất khẩu của Haicatex
1.3.1. Kết quả đạt được
Trong xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế quốc tế như hiện nay, đặc biệt là từ
khi đất nước gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, đã đặt ra nhiều cơ hội
cũng như thách thức đối với tất cả các doanh nghiệp. Muốn tồn tại và phát triển
trong điều kiện đó, mỗi doanh nghiệp đều phải phát huy tối đa các tiềm năng thế
mạnh của mình để tận dụng tất cả các cơ hội của nền kinh tế toàn cầu mang lại. Để
đạt được điều đó, bản than mỗi doanh nghiệp đều phải đáp ứng được các yêu cầu
về cơ sở vật chất kỹ thuật và đặc biệt là đáp ứng về trình độ con người và trình độ
quản lý. Cũng như mọi doanh nghiệp khác, Công ty Cổ phần Dệt Công nghiệp Hà
Nội ( Haicatex) luôn phải nỗ lực thay đổi để thích ứng với điều kiện thị trường, tìm
cách đáp ứng tốt nhất yêu cầu của khách hàng. Đặc biệt là việc nâng cao hiệu quả
hoạt động xuất khẩu ngày càng được công ty chú trọng phát triển. Vì thế, trong
những năm vừa qua, công ty đã đạt được những thành tựu nhất định:
Thứ nhất, doanh thu từ hoạt động xuất khẩu của công ty có xu hướng tăng
dần qua các năm. Điều này cho thấy hoạt động xuất khẩu của công ty ngày càng có
hiệu quả. Việc này đã tạo điều kiện cho việc mở rộng sản xuất, tạo việc làm và tăng
thu nhập cho đội ngũ lao động trong và ngoài công ty.
Thứ hai, thị trường xuất khẩu của công ty ngày càng được mở rộng và phát
triển. Nếu trước năm 2007, thị trường xuất khẩu của công ty chủ yếu là thị trường
Úc thì đến nay, thị trường xuất khẩu của công ty đã được mở rộng ở ba thị trường
chính là: Úc, Malaysia, New Zealand và một số thị trường khác như: Philipines,
Indonesia, Bangladesh…
với thị trường trong nước, chất lượng sản phẩm của công ty cơ bản là đáp ứng được
nhu cầu, thì đối với thị trường nước ngoài, khả năng cạnh tranh về mặt chất lượng
của công ty là chưa cao.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty còn phụ thuộc nhiều vào giá
nguyên vật liệu chính ngoại nhập. Sự biến động của thị trường nguyên vật liệu đầu
vào khiến công ty rơi vào thế bị động, giá thành sản phẩm tăng nhưng giá bán
không thể tăng cùng mức.
Trình độ tay nghề của công nhân còn chưa cao, còn thiếu vốn đầu tư nâng
cấp dây chuyền.
Thị trường của công ty là rất lớn nhưng khả năng quản lý kênh phân phối của
công ty còn thấp, khả năng kiểm soát hoạt động giá đại lý của công ty còn kém.
1.3.3. Nguyên nhân
1.3.3.1. Nguyên nhân chủ quan
Những nguyên nhân xuất phát từ phía bản thân công ty có thể kể đến như
sau:
- Biện pháp xúc tiến còn mờ nhạt, khó nâng cao được vị thế của công ty
trong điều kiện cạnh tranh ngày càng khốc liệt
- Công tác nghiên cứu thị trường còn yếu: hoạt động nghiên cứu thị trường
của công ty chủ yếu còn dừng lại ở việc nghiên cứu bàn giấy, thông qua các số liệu
trung gian.
- Chưa chủ động về vốn: Việc sản xuất kinh doanh chủ yếu còn phụ thuộc
vào vốn vay nên công ty không được chủ động trong kinh doanh
- Lao động trong nhà máy chủ yếu là lao động phổ thông.
1.3.3.2. Nguyên nhân khách quan
Những nguyên nhân khách quan ảnh hưởng đến hoạt động cảu công ty có thể
kể tới như sau:
- Cường độ cạnh tranh trên thị trường ngày càng gay gắt luôn là yếu tố gây khó khăn trong công tác chiếm lĩnh thị trường của Công ty

cơ sở dệt may sử dụng nhiều lao động về các vùng nông thôn.
Đa dạng hoá sở hữu, đa dạng hoá quy mô và loại hình doanh nghiệp; huy
động mọi nguồn lực trong và ngoài nước để phát triển ngành dệt may Việt Nam.
Phát triển dệt may theo hướng đầu tư chuyên môn hoá, hiện đại hoá nhằm tạo ra
bước nhảy vọt về chất và lượng của sản phẩm. Phát triển mạnh các sản phẩm công
nghiệp hỗ trợ, sản xuất nguyên phụ liệu, giảm nhập siêu, nâng cao giá trị gia tăng
của ngành.
Phát triển ngành dệt may gắn với bảo vệ môi trường và xu thế chuyển dịch
lao động nông nghiệp nông thôn; phát triển nguồn nhân lực cả về số lượng và chất
lượng cho sự phát triển bền vững của ngành dệt may.
Mục tiêu phát triển: phát triển ngành dệt may trở thành một trong những
ngành công nghiệp trọng điểm, mũi nhọn về xuất khẩu; thoả mãn ngày càng cao
nhu cầu tiêu dùng trong nước, tạo thêm nhiều việc làm cho xã hội; nâng cao khả
năng cạnh tranh. Đảm bảo cho các doanh nghiệp dệt may phát triển bền vững, hiệu
quả trên cơ sở công nghệ hiện đại, quản lý hệ thống chất lượng, quản lý lao động và
môi trường theo tiêu chuẩn quốc tế.
+ Giai đoạn 2008- 2010, tăng trưởng sản xuất bình quân đạt 16- 18%, tăng
trường xuất khẩu bình quân đạt 20% và kim ngạch xuất khẩu đạt 12,0 tỷ USD vào
năm 2010;
+ Giai đoạn 2011- 2015, tăng trưởng sản xuất bình quân đạt 12- 14%, tăng
trưởng xuất khẩu đạt 15% và kim ngạch xuất khẩu đạt 18 tỷ USD vào năm 2015;
+ Giai đoạn 2016- 2020, tăng trưởng sản xuất bình quân đạt 12- 14%, tăng
trưởng xuất khẩu đạt 15% và kim ngạch xuất khẩu đạt 25 tỷ USD vào năm 2020.
2.1.2. Định hướng SXKD chung của Haicatex trong thời gian tới.
2.1.2.1. Mục tiêu phát triển công ty
Mục tiêu của công ty trong năm 2009 – 2010 được thể hiện rõ trong kế hoạch phát triển công ty:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status