Luận văn
Một số giải pháp đẩy mạnh
hoạt động xuất khẩu tại công
ty cổ phần dệt công nghiệp
Hà Nội – Haicatex
PHẦN MỞ ĐẦU
Ngày nay, xu hướng quốc tế hóa đang là một trong những đặc trưng quan
trọng của nền kinh tế thế giới. Để có thể theo kịp sự phát triển của nền kinh tế
thế giới, mỗi quốc gia dù lớn hay nhỏ đều phải tham gia vào sự phân công lao
động không chỉ trong từng khu vực mà là toàn thế giới. Với tình hình đó,
không một đất nước nào có thể phát triển mà chỉ bằng tự lực cánh sinh. Đặc
biệt đối với các nước đang trên đà phát triển như Việt Nam thì việc tham gia
vào nền kinh tế thế giới có tầm quan trọng hơn bao giờ hết. Ở nước ta, khi xác
định những quan điểm lớn về công nghiệp hoá, hiện đại hoá, hội nghị đại biểu
toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng đã khẳng định “kiên trì chiến
lược hướng mạnh về xuất khẩu đồng thời thay thế nhập khẩu những sản phẩm
trong nước sản xuất có hiệu quả, phát huy lợi thế so sánh của đất nước cũng
như của từng vùng, từng nghành, từng lĩnh vực trong từng thời kỳ, không
ngừng nâng cao sức mạnh cạnh tranh trên thị trường trong nước, thị trường
khu vực và thị trường thế giới” .
Bám sát chiến lược “đẩy mạnh xuất khẩu, thay thế nhập khẩu” của Đảng
và Nhà Nước, trong những năm qua, thương mại Việt Nam đã đạt được nhiều
thành tựu quan trọng, góp phần đổi mới sâu sắc nền kinh tế - xã hội nước ta,
cũng như góp phần nâng cao vị thế của nước ta trên trường quốc tế. Việt Nam
cũng đã thiết lập được mối quan hệ ngoại giao với nhiều nước, tiếp tục mở
rộng hoạt động ngoại thương theo hướng đa dạng hoá, đa phương hoá, tích
cực hội nhập vào nền kinh tế thế giới, tham gia các tổ chức quốc tế như
ASEAN, AFTA, APEC, WTO…Điều này đã làm cho các hoạt động ngoại
thương, đặc biệt là hoạt động xuất nhập khẩu ngày càng trở nên sôi động.
1.1. Khái quát về công ty cổ phẩn dệt công nghiệp Hà Nội – Haicatex.
1.1.1. Quá trình hình thành và phát triển của công ty
- Tên công ty: Công ty cổ phần Dệt công nghiệp Hà Nội
- Trụ sở chính: 93 – Lĩnh Nam – Mai Động – Quận Hoàng Mai – Hà Nội
- Tên giao dịch: HAICATEX ( Hanoi Industrial Canvas Textile
Company).
- Quyết định thành lập số 219/CNn ngày 24/3/1993 do Bộ công nghiệp
cấp
- Giấy phép đăng ký kinh doanh số 10051 do Ủy ban Kế hoạch đầu tư
cấp ngày 24/3/1993.
- Vốn điều lệ: 17,000,000,000 đồng ( Mười bảy tỷ đồng Việt Nam)
- Tổng giám đốc: Phạm Hòa Bình
Sự ra đời và phát triển của công ty Cổ phần Dệt công nghiệp Hà Nội có thể
tóm lược qua các giai đoạn sau:
+ Giai đoạn 1: 1967 – 1973: Giai đoạn đầu thành lập công ty. Đây là giai
đoạn công ty gặp rất nhiều khó khăn. Chính thức thành lập vào tháng 4 năm
1967 trong bối cảnh đất nước đang trong cuộc chiến tranh chống Mỹ, với tên
gọi là Nhà máy Dệt chăn tại xã Vĩnh Tuy, huyện Thanh Trì, Hà Nội. Giai
đoạn này công ty gặp rất nhiều khó khăn cả về cơ sở vật chất và nguyên vật
liệu. Sản phẩm chủ yếu của công ty là chăn chiên sản xuất từ phế liệu bông
đay và sợi rối của nhà máy dệt Nam Định và phế liệu của một số nhà máy như
nhà máy dệt 8/3 và nhà máy dệt kim Đông Xuân. Tuy nhiên, do công nghệ lạc
hậu, nguồn nguyên vật liệu thiếu và không đều đặn nên sản phẩm chất lượng
không tốt, giá thành cao. Do đó, thời gian này, xí nghiệp thua lỗ liên tục, nhà
nước thường xuyên phải bù lỗ.
Năm 1970, xí nghiệp lắp đặt dây chuyền sản xuất vải mành từ bông sợ do
Trung Quốc giúp đỡ xây dựng
Năm 1973, xí nghiệp trả lại dây chuyền dệt chăn cho nhà máy dệt Nam
Định và nhận nhiệm vụ mới do nhà nước giao là lắp đặt dây chuyền sản xuất
vải bạt song song hoạt động cùng dây chuyền sản xuất vải mành. Bắt đầu từ
phục và đầu tư từng bước bổ sung 18 chiếc Máy dệt Trung Quốc.
+ Giai đoạn 4: Từ 2002 đến nay. Năm 2002, công ty quyết định đầu tư
dây chuyền sản xuất vải không dệt đầu tiên ở Việt Nam, mở ra một hướng đi
mới. Sự chuyển hướng này đã giúp công ty thoát khỏi sự cạnh tranh gay gắt ở
phân khúc thị trường về sản phẩm phổ thông, tạo ra một bước tiến trong quá
trình phát triển. Năm 2006 thực hiện đúng kế hoạch của nhà nước, công ty đã
cổ phần hóa lấy tên là công ty cổ phần Dệt Công Nghiệp Hà Nội trong đó nhà
nước chiếm 51% vốn điều lệ.
Công ty hiện có 2 xí nghiệp Thành viên và 1 công ty con với 500 lao
động, bao gồm nhiều công nhân lành nghề, kỹ sư, cán bộ quản lý có kiến thức
chuyên sâu và giàu kinh nghiệm, công ty chú trọng tạo dựng vị thế vững chắc
đối với hai ngành hàng chủ lực là vải mành làm lốp xe các loại và vải địa kỹ
thuật cho kiến thiết hạ tầng kết hợp với hoạt động sản xuất- kinh doanh sản
phẩm may, kinh doanh bất động sản, xăng dầu và kinh doanh tổng hợp. Trong
hoạt động sản xuất – kinh doanh, HAICATEX luôn coi trọng và giữ chữ tín
với khách hàng, coi chữ tín là yếu tố quan trọng hàng đầu. HAICATEX đã và
đang tạo dựng được uy tín và thương hiệu của mình trên thị trường, được
khách hàng trong và ngoài nước tín nhiệm, đánh giá cao để thiết lập sự hợp
tác lâu dài trong kinh doanh trên tinh thần bình đẳng mà hai bên cùng có lợi
1.1.2. Chức năng nhiệm vụ
+ Chức năng
Công ty Cổ phần Dệt công nghiệp Hà Nội có chức năng sản xuất các
sản phẩm cung cấp cho công nghiệp như: vải mành, vải bạt, băng tải, vải địa
kỹ thuật, vải không dệt, các sản phẩm phục vụ ngành may mặc. Thêm vào đó
công ty còn thực hiện các hoạt động thương mại khác để có thể phát triển bền
vững trong điều kiện nền kinh tế hội nhập như hiện nay.
+ Nhiệm vụ
Với vai trò là một đơn vị kinh tế độc lập trong nền kinh tế quốc dân,
công ty cổ phần Dệt công nghiệp Hà Nội có những nhiệm vụ sau:
Nghiên cứu thị trường trong và ngoài nước, tổ chức kinh doanh trên các
Hình1.1 : Mô hình tổ chức quản lý
Mỗi phòng ban đảm nhiệm chức năng khác nhau:
Đại hội cổ đông: Đại hội cổ đông được tiến hành nhằm thông qua
phương án và điều lệ hoạt động của công ty, bầu thành viên Hội đồng quản trị
và Ban kiểm soát, nhận các báo cáo của Hội đồng quản trị về việc thành lập,
kết quả hoạt động kinh doanh của công ty
Hội đồng quản trị: Là bộ phận quản lý cao nhất của công ty, có toàn
quyền nhân danh công ty để quyết định những vấn đề liên quan đến mục đích
và quyền lợi của công ty ngoại trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền của Đại
hội cổ đông.
Ban kiểm soát: là những người thay mặt Đại hội cổ đông kiểm soát mọi
hoạt động kinh doanh cũng như quản lý, điều hành công ty. Ban kiểm soát
hoạt động độc lập với Hội đồng quản trị và bộ máy điều hành của Tổng giám
đóc, có quyền thẩm vấn với Hội đồng quản trị và kiểm toán, kiểm tra tính hợp
lý trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của công ty.
Ban giám đốc: bao gồm Tổng giám đốc, Phó tổng giám tốc, Giám đốc
điều hành kỹ thuật và giám đốc điều hành sản xuất.
Tổng giám đốc là người đại diện pháp luật của công ty, quyết định mọi
vấn đề liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh, điều hành hoạt động
hàng ngày, chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị về các quyền hạn và
nhiệm vụ được giao, tổ chức thực hiện các quyết định của Hội đồng quản trị,
định hướng chiến lược phương án kinh doanh.
Phó Tổng giám đốc chịu trách nhiệm trước tổng giám đốc về các công
việc được phân công. Chức nắng chính là điều hành, quản lý công tác nội
chính công ty, quản lý chế độ chính sách người lao động, đời sống cán bộ
công nhân viên, quản lý công tác sửa chữa duy tu các hạng mục xây dựng cơ
bản, quản lý giám sát hoạt động sản xuất kinh doanh may.
Giám đốc điều hành kỹ thuật: có chức năng điều hành hệ thống quản lý
sản phẩm mới, quản lý tài liệu kỹ thuật của công ty, lập đề tài nghiên cứu cải
tiến chất lượng sản phẩm.
1.1.5. Đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty
Sản phẩm của công ty chủ yếu là các sản phẩm phục vụ cho các ngành
công nghiệp khác như: sản phẩm vải mành phục vụ ngành sản xuất săm lốp ô
tô, xe máy, xe đạp; vải không dệt phục vụ các ngành xây dựng, giao thông,
thủy lợi, ngành công nghiệp da giầy… nên luôn phải đảm bảo các yêu cầu
cao về chất lượng cũng như những thong số kỹ thuật. Đáp ứng nhu cầu của thị
trường ngày càng cao, công tư đã đầu tư nâng cấp và mua mới các công nghệ
tiên tiến hiện đại của Mỹ và Tây Âu nhằm nâng cao năng suất và chất lượng
sản phẩm. Vì thế, các sản phẩm của công ty không chỉ đáp ứng nhu cầu nội
địa mà còn mở rộng ra thị trường xuất khẩu.Công ty đang l à doanh nghiệp
đầu tiên và duy nhất của Việt nam chuyên sản xuất vải mành làm lốp xe các
loại, vải mành được sản xuất từ sợi Nylon6, Nylon66 hoặc Polyester trên dây
chuyền công nghệ hiện đại được chuyển giao từ Tây Âu và Mỹ, sản phẩm
được chế biến toàn bộ từ khâu xe sợi - dệt vải - nhúng tẩm, được thị trường
trong và ngoài nước tín nhiệm đặt hàng ngày càng tăng. Bên cạnh đó,
Haicatex cũng là nhà sản xuất vải địa kỹ thuật không dệt đầu tiên của Việt
Nam với dây chuyền thiết bị tiên tiến hang đầu thế giới do tập đoàn DILO –
CHLB Đức chuyển giao và hệ thống thiết bị thí nghiệm hoàn chỉnh đạt tiêu
chuẩn VILLAS137.
1.1.6. Kết quả sản xuất kinh doanh năm vừa qua
Hoạt động chính của công ty là sản xuất, doanh thu từ sản xuất công
nghiệp luôn chiếm trên 80% tổng doanh thu, còn lại là doanh thu từ hàng hóa
dịch vụ. Do đó, chúng ta sẽ chỉ xét đến các mặt hàng do công ty sản xuất.
+ Cơ cấu mặt hàng kinh doanh
Các sản phẩm chủ yếu của công ty được chia thành các nhóm cơ bản
sau:
Nhóm 1: Vải mành làm cốt lốp ô tô, xe máy, xe đạp các loại. Vải mảnh
dệt từ bông hoặc tơ sợi hóa học, cấu tạo chủ yếu bằng sợi dọc còn sợi ngang
Năm 2006, tổng doanh thu đạt 206,1 tỷ đồng, tăng 2%, trong đó doanh
tu sản xuất đạt 166,4 tỷ đồng, nộp ngân sách 14,36 tỷ đồng. Lợi nhuân công
ty đạt 2 tỷ đồng, tỷ suất lợi nhuận vốn chủ sở hữu đạt 16,4% . Đây là năm
công ty thực hiện xong cổ phần hóa, cơ cấu lao động được hợp lý hóa nên
doanh thu và lợi nhuận tăng cao so với những năm trước.
Năm 2007, tổng doanh thu đạt 267,7 tỷ đồng, tăng 32,8% so với năm
2006.Doanh thu sản xuất công nghiệp đạt 234,6 tỷ đồng, tăng 40,9% so với
năm 2006. Mức nộp ngân sách đạt 18,7 tỷ đồng. Lợi nhuận đạt 3 tỷ đồng,
tăng 50% so với năm 2006. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu là 17,6%.
Đây là năm Việt Nam chính thức là thành viên của tổ chức thương mại thế
giới WTO nên thuế quan nhập khẩu nguyên vật liệu sản xuất giảm, đồng thời
thuế xuất khẩu giảm, hoạt động xuất khẩu được đẩy mạnh, doanh thu từ xuất
khẩu tăng lên. Những điều kiện này đã giúp cho hoạt động sản xuất kinh
doanh của công ty gặp nhiều thuận lợi, doanh thu và lợi nhuận tăng cao.
Năm 2008, tổng doanh thu đạt 304,7 tỷ đồng, tăng 13,8% so với năm
2007, nộp ngân sách 21,02 tỷ. Lợi nhuận đạt 3,2 tỷ đồng, tăng 10,67% so với
năm 2007. Tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu là 18,8%.
- Năm 2008 là năm kinh tế thế giới đứng trước cuộc khủng hoảng tài
chính, giá các nguyên vật liệu đầu vào như dầu mỏ, thép tăng cao kéo theo
giá của các nguyên liệu đầu vào của công ty bị ảnh hưởng không nhỏ. Đây là
một trong những nguyên nhân dẫn đến mức tăng doanh thu và lợi nhuận của
công ty giảm
Năm 2009, tổng doanh thu đạt 320,2 tỷ, tăng 5.1% so với năm 2008.
Lợi nhuận đạt 4.2 tỷ VND, tăng 32.2% so với năm 2008
1.2. Thực trạng hoạt động xuất khẩu tại Haicatex
1.2.1. Thuận lợi và khó khăn trong hoạt động xuất khẩu của công ty
Trong điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế như hiện nay luôn tồn tại
những cơ hội cũng như thách thức đối với Việt Nam nói chung và các doanh
nghiệp nói riêng. Đối với hoạt động xuất khẩu của Haicatex cũng vậy, luôn
tồn tại những cơ hội và thách thức chung của Việt Nam và riêng của bản thân
- Không chủ động được nguồn nguyên vật liệu, phải nhập khẩu từ Trung
quốc nên đối mặt với vấn đề về tốc độ giao hàng, chất lượng sợi và xơ
PP của Trung Quốc không ổn định dẫn đến khó khăn trong phân luồng
sợi sản xuất đối với các đơn hàng có yêu cầu chất lượng cao và ổn định
- Khó khăn về vốn dẫn đến khó khăn trong điều độ sản xuất và tiêu thụ
của công ty.
1.2.2. Tình hình xuất khẩu của công ty qua các năm
1.2.2.1. Kim ngạch xuất khẩu qua các năm
Trong những năm gần đây, hoạt động xuất khẩu của công ty Haicatex
ngày càng được mở rộng, các sản phẩm xuất khẩu của công ty, đặc biệt là mặt
hàng vải không dệt đang ngày càng tạo được uy tín với các đối tác nước ngoài
như: Úc, Newzealand, Malaysia… Điều đó được thể hiện qua việc kim ngạch
xuất khẩu của công ty ngày càng tăng qua các năm.
Đơn vị: nghìn USD
Hình 1.3: Kim ngạch xuất khẩu qua các năm
Nguồn: báo cáo kết quả kinh doanh
Qua biểu đồ trên ta thấy:
Năm 2006, là một năm nhiều biến động với hoạt động xuất khẩu của
công ty. Sản phẩm vải mành của công ty chịu ảnh hưởng trực tiếp của thị
trường ngành cao su suy giảm do cơn sốt giá cao su tăng mạnh và tình hình
nguyên vật liệu đầu vào không ổn định nên 8 tháng đầu năm công ty chủ yếu
chỉ hoạt động cầm chừng theo từng đơn hàng. Tuy nhiên, mặt hàng vải không
dệt của công ty ngày càng khẳng định được vị trí trên thị trường trong nước
và nước ngoài. Vì thế, kim ngạch xuất khẩu của công ty vẫn đạt 850,1 nghìn
USD, tăng 111% so với năm 2005.
Năm 2007, kim ngạch xuất khẩu của công ty là 1758.850 nghìn USD,
tăng tuyệt đối là 908.75 nghìn USD, tăng 106,9% so với năm 2006.
Năm 2008, kim ngạch xuất khẩu của công ty tăng mạnh lên mức 3250
nghìn USD, tăng 84,8% so với năm 2007. Đạt được kết quả này là do công ty
Theo biểu đổ trên ta thấy, kim ngạch vải mành xuất khẩu có xu hướng tăng
theo các năm. Năm 2007, giá trị xuất khẩu vải mành đạt 10.653 nghìn USD.
Năm 2008, đạt 17.586 nghìn USD, tăng tương đương 65.1%. Đến năm 2009,
kim ngạch xuất khẩu vải mành tăng mạnh đat mức 78.127 nghìn USD, tăng
344.3% so với năm 2008. Đạt được kết quả này là do sản phẩm vải mành của
công ty đã tạo được chỗ đứng trên thị trường trong nước, bên cạnh đó, công
tác nghiên cứu thị trường của công ty được thực hiện tốt hơn, cộng với điều
kiện nền kinh tế thế giới đang phục hồi sau khủng hoảng tài chính đã tạo thêm
nhiều cơ hội mới cho công ty.
* Nhóm vải không dệt
HAICATEX tự hào trở thành nhà sản xuất vải địa kỹ thuật không
dệt đầu tiên của Việt nam, với dây chuyền thiết bị tiên tiến hàng đầu thế giới
do Tập đoàn DILO - CHLB Đức chuyển giao và hệ thống thiết bị thí nghiệm
hoàn chỉnh đạt tiêu chuẩn VILAS137. Năm 2006, vải không dệt của Haicatex
được chọn sản phẩm chủ lực của thành phố Hà Nội và được coi là sản phẩm
xuất khẩu chủ lực của công ty trong thời gian tới.
Hình 1.5: Kim ngạch xuất khẩu vải không dệt
Nguồn: Báo cáo kết quả kinh doanh
Qua biểu trên ta thấy, tình hình xuất khẩu vải không dệt của công ty
trong thời gian qua không ổn định.
Năm 2007, giá trị xuất khẩu vải không dệt đạt 605.463 nghìn USD. Năm
2008, giá trị xuất khẩu vải không dệt tăng mạnh, đạt mức 1168.1 nghìn USD,
tăng 92.9% so với năm 2007. Đạt được kết quả này là do công tác thị trường
đã được công ty hết sức quan tâm, đã có những chính sách quyết liệt để giữ
vững thị phần và không ngừng phát triển thêm. Bên cạnh đó, công ty đã đăng
ký được độc quyền nhãn hiệu vải địa kỹ thuật DUX và tham gia vào hiệp hội
vải địa quốc tế IGS đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc mở rộng thị trường
xuất khẩu sang các nước thành viên. Đến năm 2009, giá trị vải không dệt xuất
khẩu giảm xuống còn 613.362 nghìn USD do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế
Mạng lưới phân phối của Haicatex là kênh phân phối hỗn hợp, bao gồm
cả phân phối qua các đại lý trung gian lẫn phân phối trực tiếp cho các nhà sản
xuất có nhu cầu về sản phẩm. Đối với hoạt động xuất khẩu, công ty có chính
sách cụ thể thâm nhập thị trường và lựa chọn kênh phân phối là đại lý tiêu thụ
cho công ty. Trong đó, chủ yếu là đại lý độc quyền vì sản phẩm vải địa kỹ
thuật xuất khẩu có tính ứng dụng cao và là sản phẩm được sử dụng cho các
ngành công nghiệp giao thông, xây dựng… nên thông qua kênh bán buôn là
hợp lý nhất. Haicatex hiện có những chính sách cụ thể và phù hợp để xúc tiến
thương mại trực tiếp tại đại lý hoặc thị trường tiềm năng, cũng như thị trường
hiện có. Nhờ vậy mà các đại lý của Haicatex luôn phát huy tốt hiệu quả của
mình, SGS( với mạng lưới phân phối tại Melbourne và Sydney) năm 2008
doanh thu đạt gần 1 triệu USD tăng 35% so với năm 2007, JPS ( mạng lưới
tiêu thụ tại Đông Nam Á và Châu phi) năm 2008 doanh thu đạt 715 nghìn
USD tăng 28% so với năm 2007. Hiện tại, công ty đang nghiên cứu và có
những xúc tiến tích cực đẻ thiết lập các đại lý tại châu Âu nhằm mở rộng thị
trường.
1.3. Đánh giá chung về hoạt động xuất khẩu của Haicatex
1.3.1. Kết quả đạt được
Trong xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế quốc tế như hiện nay, đặc biệt
là từ khi đất nước gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, đã đặt ra nhiều
cơ hội cũng như thách thức đối với tất cả các doanh nghiệp. Muốn tồn tại và
phát triển trong điều kiện đó, mỗi doanh nghiệp đều phải phát huy tối đa các
tiềm năng thế mạnh của mình để tận dụng tất cả các cơ hội của nền kinh tế
toàn cầu mang lại. Để đạt được điều đó, bản than mỗi doanh nghiệp đều phải
đáp ứng được các yêu cầu về cơ sở vật chất kỹ thuật và đặc biệt là đáp ứng về
trình độ con người và trình độ quản lý. Cũng như mọi doanh nghiệp khác,
Công ty Cổ phần Dệt Công nghiệp Hà Nội ( Haicatex) luôn phải nỗ lực thay
đổi để thích ứng với điều kiện thị trường, tìm cách đáp ứng tốt nhất yêu cầu
của khách hàng. Đặc biệt là việc nâng cao hiệu quả hoạt động xuất khẩu ngày
càng được công ty chú trọng phát triển. Vì thế, trong những năm vừa qua,
nguyên liệu sợi giảm còn 5% tạo điều kiện giảm giá thành sản xuất. Thuế xuất
khẩu giảm cũng góp phần khiến lượng xuất khẩu tăng mạnh và đem lại doanh
thu đáng kể
+ Tỷ giá hối đoái tăng (đồng VND giảm giá) cũng là một nhân tố góp
phần thúc đẩy hoạt động xuất khẩu của công ty.
+ Nhu cầu thị trường ngày càng lớn, đặc biệt là nhu cầu vải không dệt
phục vụ các công trình xây dựng liên tục tăng.
1.3.2. Hạn chế
Bên cạnh những thành tựu đáng kể trên, công ty vẫn còn tồn tại một số
hạn chế sau:
Khả năng cạnh tranh về mặt chất lượng của công ty chưa cao. Nếu như
đối với thị trường trong nước, chất lượng sản phẩm của công ty cơ bản là đáp
ứng được nhu cầu, thì đối với thị trường nước ngoài, khả năng cạnh tranh về
mặt chất lượng của công ty là chưa cao.
Hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty còn phụ thuộc nhiều vào
giá nguyên vật liệu chính ngoại nhập. Sự biến động của thị trường nguyên vật
liệu đầu vào khiến công ty rơi vào thế bị động, giá thành sản phẩm tăng
nhưng giá bán không thể tăng cùng mức.
Trình độ tay nghề của công nhân còn chưa cao, còn thiếu vốn đầu tư
nâng cấp dây chuyền.
Thị trường của công ty là rất lớn nhưng khả năng quản lý kênh phân
phối của công ty còn thấp, khả năng kiểm soát hoạt động giá đại lý của công
ty còn kém.
1.3.3. Nguyên nhân
1.3.3.1. Nguyên nhân chủ quan
Những nguyên nhân xuất phát từ phía bản thân công ty có thể kể đến
như sau:
- Biện pháp xúc tiến còn mờ nhạt, khó nâng cao được vị thế của công
ty trong điều kiện cạnh tranh ngày càng khốc liệt
- Công tác nghiên cứu thị trường còn yếu: hoạt động nghiên cứu thị