Luận văn tốt nghiệp: Nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu - Pdf 26

LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian được học tập và nghiên cứu chuyên ngành Kinh tế tài
chính Ngân hàng tại trường Đại học Kinh tế Quốc dân, đến nay tôi đã hoàn
thành bản luận văn tốt nghiệp. Để có được kết quả này, trước hết là nhờ sự
giúp đỡ, chỉ bảo tận tình, chu đáo và hiệu quả của PGS.TS. Nguyễn Hữu Tài-
giáo viên trực tiếp hướng dẫn tôi thực hiện đề tài. Tôi xin được bày tỏ lòng
cảm ơn sâu sắc của mình tới thầy giáo PGS.TS. Nguyễn Hữu tài.
Tôi cũng xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo đã tham gia giảng dạy
lớp cao học Tài chính Ngân hàng khoá 15 nói chung và các thầy cô giáo trong
khoa Tài chính Ngân hàng nói riêng, những người đã cung cấp, truyền thụ
cho tôi nhiều kiến thức lý luận quý báu, để từ đó giúp ích rất nhiều cho tôi
trong quá trình học tập, nghiên cứu cũng như trong thực tiễn công tác.
Và cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn sự đóng góp, hỗ trợ, chia sẻ
động viên từ phía gia đình, bạn bè, đồng nghiệp cơ quan trong suốt quá trình
học tập và hoàn thành bản luận văn này.
Học viên cao học
Nguyễn Văn Hồng
MỤC LỤC
Là một ngân hàng mới, GP.Bank có những thế mạnh cũng như lợi thế nhất định: cơ cấu
gọn nhẹ, tính chuyên nghiệp hóa và chuyên môn hóa cao, đội ngũ cán bộ nhân viên năng
động, sáng tạo, kinh nghiệm, chuyên môn đào tạo tốt, GP.Bank hứa hẹn là một trong
những NHTM cổ phần đầy tiềm năng. GP.Bank đã đặt ra định hướng phát triển cho mình
trong giai đoạn 2010-2012 với tầm nhìn và chiến lược như sau: 64
Tầm nhìn hoạt động: 64
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
NHTW : Ngân hàng Trung ương
NHNN : Ngân hàng Nhà nước
NHTM : Ngân hàng thương mại
TMCP : Thương mại cổ phần
TCKT : Tổ chức kinh tế
TCKT-XH : Tổ chức kinh tế- xã hội

Error: Reference source not found
Biểu 2.4. Biểu đồ cơ cấu dư nợ tín dụng của GP.Bank theo đối tượng.
Error: Reference source not found
Biểu 2.5. Biểu đồ tình hình nợ xấu của GP.BankError: Reference source
not found
Biểu 2.6. Biểu đồ huy động tiền gửi của GP.Bank qua các năm Error:
Reference source not found
Biểu 2.7. Biểu đồ so sánh giữa tổng huy động và tổng cho vay Error:
Reference source not found
Biểu 2.8. Biểu đồ tỷ trọng huy động vốn theo đối tượng huy động.Error:
Reference source not found
Biểu 2.9. Biểu đồ cơ cấu huy động tiền gửi có kỳ hạn và không kỳ hạn
của GP.Bank Error: Reference source not found
Biểu 2.10. Biểu đồ cơ cấu vốn huy động theo độ dài kỳ hạn Error:
Reference source not found
Biểu 2.11. Biểu đồ huy động tiền gửi theo loại tiền Error: Reference
source not found

TÓM TẮT LUẬN VĂN
Ngân hàng là một trung gian tài chính quan trọng bậc nhất, là một mắt
xích không thể thiếu để nền kinh tế của các quốc gia có thể vận hành ổn định,
hiệu quả. Vì đây không chỉ là một kênh dẫn vốn hiệu quả mà còn cung cấp
nhiều sản phẩm dịch vụ đáp ứng nhiều nhu cầu khác trong quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế.
Để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình thì
một trong những nhân tố không thể thiếu đó là vốn. Vốn là một trong những
yếu tố đầu vào cơ bản của sản xuất. Nếu không có vốn thì cũng sẽ không có
hoạt động sản xuất kinh doanh. Với các ngân hàng vốn lại càng là nhu cầu cấp
thiết vì ngân hàng là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ. Như vậy, huy động vốn
được coi là vấn đề cốt lõi trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước,

huy động vốn. Lợi nhuận của ngân hàng phụ thuộc vào yếu tố qui mô nguồn
vốn và sử dụng vốn, chênh lệch giữa lợi tức thu được và chi phí bỏ ra bình
quân trên một đồng vốn. Vì vậy, một trong những điều kiện để NHTM hoạt
động hiệu quả và phát triển thì nguồn vốn huy động của ngân hàng phải lớn
và không ngừng phát triển với tốc độ phù hợp với khả năng quản lý nguồn
vốn, nhu cầu sử dụng vốn và thực trạng nguồn vốn của ngân hàng.
2. Cơ cấu vốn huy động
Nguồn vốn huy động của NHTM lớn và tốc độ tăng trưởng cao chưa đủ
để đánh giá hiệu quả của hoạt động huy động vốn. Danh mục đầu tư của
NHTM khá đa dạng mà mỗi loại đầu tư lại có những đặc điểm riêng, trong đó,
ii
kì hạn đầu tư hay loại tiền là những đặc điểm quan trọng nhất gắn chặt với cơ
cấu nguồn vốn.
Nguồn vốn của NHTM có xuất xứ từ nhiều nguồn gốc với các kì hạn
khác nhau như vốn huy động từ nghiệp vụ nhận tiền gửi, vốn đi vay…Nguồn
vốn có nhiều xuất xứ và các kì hạn khác nhau là cơ sở về tính đa dạng của
nguồn vốn. Song nhìn chung tính tự chủ của NHTM đối với mỗi nguồn vốn
lại có quan hệ tỷ lệ thuận với chi phí trả lãi để có được quyền sử dụng vốn đó.
Để có lợi nhuận cao, NHTM luôn mong muốn dùng nguồn vốn có chi phí
thấp để đầu tư hay cho vay đối với các lĩnh vực có lợi tức cao; như dùng vốn
ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn. Tuy nhiên, NHTM không thể vì mục
tiêu lợi nhuận mà làm như vậy, bởi điều đó sẽ đưa ngân hàng vào rủi ro khi
thanh toán cho khách hàng. Những nguồn vốn với chi phí thấp ngân hàng
thường ít được chủ động bởi tính lỏng của nó đối với khách hàng lớn; khách
hàng chủ động trong việc rút tiền. Trong khi đó, những khoản đầu tư hay cho
vay có lợi tức cao của NHTM thường là những tài sản có tính lỏng thấp –
NHTM sẽ khó khăn trong việc chuyển những tài sản đó thành tiền mặt. Hơn
nữa, khi cấu trúc kì hạn của nguồn vốn không phù hợp với cấu trúc kì hạn của
danh mục đầu tư hay cho vay, ngân hàng cũng có thể gặp rủi ro khi thay đổi
lãi suất. Chẳng hạn khi NHTM dùng nguồn ngắn hạn là tài sản nợ nhạy cảm

phí huy động chúng ta không so sánh chi phí huy động vốn giữa các thời kì
mà chúng ta chúng ta nên đánh giá qua các chỉ tiêu sau:
- Chênh lệch giữa lãi suất cho vay bình quân và lãi suất huy động
bình quân.
Chỉ tiêu này cho biết nếu mức chênh lệch lãi suất cao hơn so với thị
trường thì nguồn vốn huy động có hiệu quả cao và ngược lại.
iv
- Lãi suất huy động vốn bình quân = Chi phí huy động vốn/Tổng vốn
huy động
Nếu lãi suất huy động vốn bình quân của ngân hàng càng nhỏ so với thị
trường thì nguồn vốn huy động càng có hiệu quả cao và ngược lại nếu cao
hơn so với thị trường thì hiệu quả huy động là không cao. Vì vậy, như ở trên
đã nói chi phí trả lãi là thành phần quan trọng nhất của chi phí huy động vốn nên
hoạt động huy động vốn chỉ đạt được hiệu quả về chi phí khi lãi suất huy
động thấp hơn lãi suất huy động bình quân trên thị trường.
Như vậy, để hoạt động huy động vốn đạt hiệu quả thì qui mô huy động
vốn phải lớn và tăng trưởng đều đặn qua các năm đáp ứng nhu cầu sử dụng
vốn có hiệu quả, qui mô và cơ cấu huy động phải phù hợp với qui mô sử dụng
vốn, chi phí huy động vốn thấp.
Chương 2. Thực trạng hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng Thương
mại Cổ phần Dầu khí Toàn Cầu
1. Giới thiệu về Ngân hàng Dầu khí Toàn Cầu
Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu (GP.Bank), tiền thân là ngân hàng
thương mại nông thôn Ninh Bình được thành lập và hoạt động tại Việt Nam
theo Quyết định số 216/QĐ-NH5 ngày 13 tháng 11 năm 1993 của Thống đốc
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và giấy phép hoạt động số 0043/NH-GP ngày
13 tháng11 năm 1993 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam. Ngày
07/11/2005, ngân hàng thương mại nông thôn Ninh Bình đã chính thức
chuyển đổi mô hình hoạt động từ một ngân hàng nông thôn sang ngân hàng
đô thị, đánh dấu một bước ngoặt mới trong quá trình phát triển của mình.

vốn huy động và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sử dụng vốn.
Nguồn vốn huy động được không những đáp ứng được nhu cầu cho vay
vi
về quy mô mà còn đáp ứng về cơ cấu kỳ hạn góp phần hạn chế rủi ro thanh
khoản và rủi ro lãi suất.
- Về chi phí huy động tiền gửi:
Về chi phí huy động, tuy thị trường tài chính Việt Nam trong những
năm qua có những diễn biến rất bất ngờ gây khó khăn cho việc xác định lãi
suất huy động, nhưng GP.Bank đã luôn bám sát được tình hình lãi suất huy
động trên thị trường để huy động vốn với chi phí phù hợp.
* Những tồn tại cần khắc phục.
- Về quy mô và tốc động tăng trưởng:
Nguồn vốn huy động của GP.Bank tăng đều qua các năm nhưng tốc độ
tăng trưởng không đều. Mặt khác, quy mô vốn huy động về cơ bản tuy đáp
ứng nhu cầu sử dụng vốn nhưng so với các ngân hàng khác trong hệ thống
ngân hàng thương mại Việt Nam thì còn rất khiêm tốn và nằm ở tốp các ngân
hàng thương mại nhỏ.
- Về cơ cấu huy động tiền gửi:
+ Cơ cấu của nguồn vốn về kỳ hạn còn nhiều bất cập, chưa hợp lý. Trong
tổng huy động thì kỳ hạn ngắn chiếm tỷ trọng rất lớn, kỳ hạn trung và dài hạn
chiếm tỷ lệ nhỏ nên rất bị động trong việc sử dụng vốn, hiệu quả sử dụng vốn sẽ
không cao.
+ Tiền gửi từ tổ chức kinh tế trong các năm qua của GP.Bank có nhiều
biến động và tăng trưởng không đều kéo theo tổng nguồn vốn huy động
không ổn định, gây bất lợi cho hoạt động sử dụng vốn.
+ Công tác huy động vốn chưa thực sự gắn với việc sử dụng vốn. Tốc độ
tăng trưởng giữa huy động và cho vay tăng trưởng không đồng đều nhau và
tổng dư nợ cho vay luôn nhỏ hơn tổng huy động làm giảm hiệu quả sử dụng
vốn huy động. Trong những năm qua, việc huy động vốn và cho vay của
Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu chưa được cân đối tốt về kỳ hạn.

ổn định và chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng nguồn vốn của các ngân hàng
thương mại, là điều kiện, cơ sở cho các khoản cho vay. Do đó, tăng trưởng
huy động tiền gửi cao và ổn định với cơ cấu và chi phí hợp lý luôn là một
trong những mục tiêu quan trọng hàng đầu của các ngân hàng trong mảng huy
động vốn trong đó có Ngân hàng TMCP Dầu Khí Toàn Cầu.
Trên cơ sở những lý luận về hiệu quả hoạt động huy động vốn, luận văn
đã phân tích và đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động huy động vốn của
Ngân hàng Dầu Khí Toàn Cầu, từ đó đưa ra một số giải pháp có tính thực tiễn
nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn tại Ngân hàng TMCP Dầu
Khí Toàn Cầu.
ix
LỜI MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngân hàng là một trung gian tài chính quan trọng bậc nhất, là một mắt
xích không thể thiếu để nền kinh tế của các quốc gia có thể vận hành ổn định,
hiệu quả. Vì đây không chỉ là một kênh dẫn vốn hiệu quả mà còn cung cấp
nhiều sản phẩm dịch vụ đáp ứng nhiều nhu cầu khác trong quá trình hoạt
động sản xuất kinh doanh của các chủ thể kinh tế.
Để ngân hàng có thể thực hiện các hoạt động kinh doanh của mình thì
một trong những nhân tố không thể thiếu đó là vốn. Vốn là một trong những
yếu tố đầu vào cơ bản của sản xuất. Nếu không có vốn thì cũng sẽ không có
hoạt động sản xuất kinh doanh. Với các ngân hàng vốn lại càng là nhu cầu cấp
thiết vì ngân hàng là doanh nghiệp kinh doanh tiền tệ. Như vậy, huy động vốn
được coi là vấn đề cốt lõi trong chiến lược phát triển kinh tế của đất nước,
đồng thời cũng là vấn đề sống còn của các NHTM vì kết quả huy động vốn
của NHTM ảnh hưởng trực tiếp tới sự tồn tại và phát triển của các NHTM và
tác động đến toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt là đối với một nền kinh tế đang
trong quá trình hội nhập và phát triển như Việt Nam hiện nay.
Xuất phát từ nhận định trên và trong thời gian làm việc tại Ngân hàng
TMCP Dầu Khí Toàn Cầu tác giả nhận thấy công tác huy động vốn trong

2
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG
VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Những vấn đề lý luận cơ bản về Ngân hàng Thương mại
1.1.1. Khái niệm ngân hàng
Ngân hàng là một loại hình tổ chức quan trọng đối với nền kinh tế. Các
ngân hàng có thể được định nghĩa qua chức năng, các dịch vụ hoặc vai trò mà
chúng thực hiện trong nền kinh tế. Vấn đề là ở chỗ các yếu tố trên đang không
ngừng thay đổi. Trên thực tế, rất nhiều các tổ tài chính bao gồm cả các công ty
chứng khoán, công ty môi giới chứng khoán, quỹ tương hỗ và công ty bảo
hiểm hàng đầu đều đang cố gắng cung cấp các dịch vụ của ngân hàng. Ngược
lại, ngân hàng đang đối phó với đối thủ cạnh tranh (các tổ chức phi ngân hàng)
bằng cách mở rộng phạm vi cung cấp dịch vụ về bất động sản và môi giới
chứng khoán, tham gia hoạt động bảo hiểm, đầu tư vào quỹ tương hỗ và thực
hiện nhều dịch vụ môi giới khác. Cách tiếp cận thận trọng nhất là có thể xem
xét ngân hàng trên phương diện những loại hình dịch vụ mà chúng cung cấp.
Ngân hàng là loại hình tổ chức tài chính cung cấp một danh mục các
dịch vụ tài chính đa dạng nhất- đặc biệt là tín dụng, tiết kiệm và dịch vụ
thanh toán và thực hiện nhiều chức năng tài chính nhất so với bất kì một tổ
chức kinh doanh nào trong nền kinh tế.
1.1.2. Các hoạt động của ngân hàng trong nền kinh tế
Ngân hàng là một doanh nghiệp cung cấp dịch vụ cho công chúng và
doanh nghiệp. Thành công của ngân hàng phụ thuộc vào năng lực xác định
các dịch vụ tài chính mà xã hội có nhu cầu và thực hiện các dịch vụ đó một
cách có hiệu quả. Sâu đây là các hoạt động của ngân hàng trong nền kinh tế:
3
* Nhận tiền gửi:
Ngân hàng là một tổ chức kinh doanh tiền tệ, vốn là nguyên liệu đầu vào
cho hoạt động của ngân hàng, trong khi vốn chủ sở hữu của NHTM thì chiếm

triển như ủy nhiệm chi, nhờ thu, L/C, thanh toán bằng điện, thẻ….
* Mua bán ngoại tệ:
Một trong những dịch vụ ngân hàng đầu tiên được thực hiện là trao đổi
(mua bán) ngoại tệ- một ngân hàng đứng ra mua bán một loại tiền này lấy một
loại tiền khác và hưởng phí dịch vụ. Trong thị trường tài chính ngày nay, hoạt
động mua bán ngoại tệ có độ rủi ro rất cao, vì vậy đòi hỏi ngân hàng thực hiện
phải có trình độ chuyên môn cao, quản trị rủi ro tốt.
*Hoạt động đầu tư
Ngân hàng có thể đem vốn để đầu tư vào chứng khoán Chính phủ hoặc
chứng khoán công ty, ngoài ra ngân hàng còn có thể đầu tư góp vốn liên doanh
liên kết với các tổ chức kinh tế khác nhằm mang lợi lợi nhuận cho ngân hàng.
*Nghiệp vụ quản lý ngân quỹ
Các ngân hàng mở tài khoản và giữ tiền của phần lớn các doanh nghiệp và
nhiều cá nhân. Nhờ đó, ngân hàng có mối liên hệ chặt chẽ với nhiều khách
hàng. Do có kinh nghiệm trong quản lý ngân quỹ và khả năng trong việc thu
ngân, nhiều ngân hàng đã cung cấp cho khách hàng dịch vụ quản lý ngân quỹ,
trong đó ngân hàng chấp nhận quản lý việc thu và chi cho một công ty kinh
doanh và tiến hành đầu tư phần thặng dư tiền mặt tạm thời vào các chứng
khoán sinh lợi và tín dụng ngắn hạn cho đến khi khách hàng cần tiền mặt để
thanh toán.
*Bảo quản vật có giá
Các ngân hàng thực hiện việc lưu giữ vàng và các vật có giá khác cho
5
khách hàng. Ngân hàng giữ vàng, vật có giá khác và giao cho khách hàng tờ
biên nhận, khách hàng phải trả phí bảo quản cho ngân hàng.
*Tài trợ các hoạt đông của Chính phủ
Ngày nay, Chính phủ dành quyền cấp phép hoạt động và kiểm soát các
ngân hàng. Các ngân hàng được cấp giấy phép thành lập với điều kiện là họ
phải cam kết thực hiện với mức độ nào đó các chính sách của Chính phủ và
tài trợ cho Chính phủ. Các ngân hàng phải mua trái phiếu Chính phủ theo một

* Môi giới và đầu tư chứng khoán:
Hiện nay ngân hàng có thể cung cấp đầy đủ các dịch vụ tài chính thỏa
mãn mọi nhu cầu của khách hàng. Một trong những dịch vụ tài chính đó là
dịch vụ môi giới đầu tư chứng khoán, cung cấp cho khách cơ hội mua cổ
phiếu, trái phiếu và các chứng khoán khác mà không cần đến những người
kinh doanh chứng khoán.
1.2. Vốn trong hoạt động của ngân hàng thương mại
1.2.1. Khái niệm vốn của ngân hàng thương mại
Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trong lĩnh
vực tiền tệ, là tổ chức cung ứng vốn chủ yếu và hữu hiệu cho nền kinh tế.
Việc tạo lập và quản lý vốn của ngân hàng thương mại là một trong những
vấn đề được quan tâm hàng đầu của ngân hàng thương mại và các cơ quan
quản lí về kinh tế.
Vốn của ngân hàng thương mại là toàn bộ các nguồn tiền tệ mà ngân
hàng tạo lập, huy động được để cho vay, đầu tư và thực thi các dịch vụ ngân
hàng. Vốn của ngân hàng thương mại gồm: Vốn chủ sở hữu, vốn huy động từ
nguồn tiền gửi và các khoản vay của ngân hàng Trung ương, của các tổ chức
tín dụng, vay trên thị trường vốn và các nguồn vốn khác.
7
1.2.2. Các nguồn vốn của ngân hàng thương mại và phương thức huy động
vốn của ngân hàng thương mại
1.2.2.1. Vốn chủ sở hữu
Để bắt đầu hoạt động ngân hàng, chủ ngân hàng phải có một lượng vốn
nhất định. Đây là lượng vốn ngân hàng có thể sử dụng lâu dài, hình thành nên
trang thiết bị, cơ sở vật chất cho ngân hàng. Nguồn hình thành và nghiệp vụ
hình thành vốn này rất đa dạng theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính của
chủ ngân hàng, yêu cầu và sự phát triển của thị trường. Vốn chủ sở hữu bao
gồm các loại sau đây:
- Vốn hình thành ban đầu: Tùy theo tính chất của mỗi ngân hàng mà
nguồn gốc hình thành vốn ban đầu khác nhau. Nếu là nguồn vốn thuộc sở hữu

1.2.2.2. Nguồn tiền gửi và các nghiệp vụ huy động tiền gửi
Tiền gửi của khách hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của ngân
hàng thương mại. Khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động, nghiệp vụ đầu tiên là
mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng
cách đó ngân hàng huy động tiền gửi của các doanh nghiệp, các tổ chức và
của dân cư.
Tiền gửi là nguồn tiền quan trọng, chiếm tỷ trọng lớn trong tổng nguồn
tiền của ngân hàng. Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có
được nguồn tiền có chất lượng ngày càng cao, các ngân hàng đã đưa ra và
thực hiện nhiều hình thức huy động khác nhau.
* Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch):
Đây là tiền gửi của doanh nghiệp hoặc cá nhân gửi vào ngân hàng để nhờ
ngân hàng giữ và thanh toán hộ. Trong phạm vi số dư cho phép, các nhu cầu
9
chi trả của doanh nghiệp và cá nhân đều được ngân hàng thực hiện. Các
khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và cá nhân đều có thể được nhập vào
tiền gửi thanh toán theo yêu cầu. Nhìn chung, lãi suất của khoản tiền này rất
thấp, thay vào đó chủ tài khoản có thể được hưởng các dịch vụ ngân hàng với
mức phí thấp. Ngân hàng mở tài khoản tiền gửi thanh toán cho khách hàng,
yêu cầu của ngân hàng là khách hàng phải có tiền và chỉ thanh toán trong
phạm vi số dư. Một số ngân hàng kết hợp tiền gửi thanh toán với tài khoản
cho vay (cho vay thấu chi).
* Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội.
Nhiều khoản thu bằng tiền của doanh nghiệp và các tổ chức xã hội sẽ
được chi trả sau một thời gian nhất định. Tiền gửi thanh toán tuy rất thuận
tiện cho hoạt động thanh toán nhưng lãi suất lại thấp. Để đáp ứng nhu cầu
tăng thu của người gửi tiền, ngân hàng đã đưa ra hình thức tiền gửi có kỳ hạn.
Người gửi không được sử dụng các hình thức thanh toán đối với tiền gửi
thanh toán để áp dụng đối với loại tiền gửi này. Tuy không thuận lợi cho tiêu
dùng bằng hình thức gửi tiền thanh toán, song tiền gửi có kỳ hạn được hưởng

vay mượn này một cách chặt chẽ; ngân hàng thương mại phải thực hiện các
điều kiện đảm bảo và kiểm soát nhất định. Thông thường, ngân hàng Nhà
nước chỉ tái chiết khấu cho những thương phiếu có chất lượng (thời gian đáo
hạn ngắn, khả năng trả nợ cao) và phù hợp với mục tiêu của ngân hàng Nhà
nước trong từng thời kỳ. Trong điều kiện chưa có thương phiếu, ngân hàng
Nhà nước cho ngân hàng thương mại vay dưới hình thức tái cấp vốn theo hạn
mức tín dụng nhất định.
* Vay các tổ chức tín dụng khác
Đây là nguồn các ngân hàng vay mượn lẫn nhau và vay của các tổ chức
tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng. Các ngân hàng đang có dự trữ
11

Trích đoạn Xây dựng chính sách lãi suất hợp lý, hấp dẫn và linh hoạt Mở rộng các dịch vụ phục vụ khách hàng Phát triển hoạt động Marketing Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Đối với Chính Phủ
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status