Luận văn thạc sỹ: Hoàn thiện nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Bảo hiểm Quân đội - Pdf 26

MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BH Bảo hiểm
DN Doanh nghiệp
DNBH Doanh nghiệp bảo hiểm
TNDN Thu nhập doanh nghiệp
BCTC Báo cáo tài chính
DANH MỤC CÁC BẢNG, SƠ ĐỒ
BẢNG
SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1: Mối quan hệ giữa các chỉ tiêu phản ánh suất sinh lời theo
phương pháp Dupont Error: Reference source not found
Sơ đồ 2.1: Sơ đồ khái quát bộ máy quản lý hoạt động kinh doanh của Công
ty Cổ phần Bảo hiểm Quân đội Error: Reference source not
found
Sơ đồ 2.2: Mô hình tổ chức bộ máy kế toán của Công ty CPBH Quân đội
Error: Reference source not found
Sơ đồ 2.3: Trình tự ghi sổ kế toán theo hình thức chứng từ ghi sổ Error:
Reference source not found
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hệ thống báo cáo tài chính là những báo cáo tổng hợp nhất về tình hình tài
chính của doanh nghiệp, về kết quả kinh doanh của doanh nghiệp sau một chu kỳ
kinh doanh. Thông tin của hệ thống báo cáo tài chính không chỉ cần thiết cho các
nhà quản lý doanh nghiệp mà còn là sự quan tâm của các nhà đầu tư, cơ quan quản
lý nhà nước, người lao động, các đối thủ cạnh tranh… Do đó việc phân tích hệ
thống báo cáo tài chính là công cụ mang tính chất nghiệp vụ trợ giúp đắc lực cho
từng đối tượng quan tâm kể trên. Tuỳ từng đối tượng mà nội dung và phương pháp
phân tích khác nhau cho phù hợp với mục đích.

luận văn còn sử dụng các phương pháp toán học, hệ thống hoá kết hợp với lý luận
cơ bản của khoa học chuyên ngành kế toán tài chính để nghiên cứu đề tài này.
5. Những đóng góp của đề tài
- Hệ thống hoá lý luận về báo cáo tài chính và phân tích báo cáo tài chính
trong các doanh nghiệp.
- Nghiên cứu, đánh giá thực trạng phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ
phần Bảo hiểm Quân đội.
- Đưa ra các phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện phân tích báo cáo tài
chính tại Công ty Cổ phần Bảo hiểm Quân đội nói riêng và các doanh nghiệp khác
nói chung nhằm thực hiện tốt chức năng cung cấp thông tin của các doanh nghiệp
Bảo hiểm trong điều kiện kinh tế thị trường ngày càng phát triển.
6. Kết cấu của đề tài
Ngoài lời mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 3 phần:
Chương 1: Cơ sở lý luận về nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài
chính trong các Công ty Bảo hiểm
Chương 2: Thực trạng nội dung và phương pháp phân tích báo cáo tài chính tại
Công ty Cổ phần Bảo hiểm Quân đội
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện nội dung và phương pháp
phân tích báo cáo tài chính tại Công ty Cổ phần Bảo hiểm Quân đội.
2
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
PHÂN TÍCH BÁO CÁO TÀI CHÍNH TRONG CÁC
CÔNG TY BẢO HIỂM
1.1. Báo cáo tài chính và phân tích báo cáo tài chính
1.1.1. Báo cáo tài chính
Báo cáo tài chính (BCTC) là hệ thống báo cáo được lập theo chuẩn mực và
chế độ kế toán hiện hành phản ánh các thông tin kinh tế, tài chính chủ yếu của đơn
vị. Theo đó, BCTC chứa đựng những thông tin tổng hợp nhất về tình hình tài sản,
nguồn vốn chủ sở hữu và công nợ cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh

thể một số chỉ tiêu, phản ánh tình hình tài chính khác không thể trình bày được.
Như vậy, có thể nói hệ thống BCTC là “bức tranh sinh động nhất”, đầy đủ
nhất, cung cấp toàn bộ những thông tin kế toán hữu ích, giúp cho việc phân tích
thực trạng tài chính của DN. Đồng thời, phản ánh khả năng huy động mọi nguồn
vốn vào quá trình sản xuất kinh doanh của DN trong thời gian tới. Trên cơ sở đánh
giá và nhận định, các nhà quản trị DN có thể căn cứ vào kết quả phân tích tình hình
tài chính của DN để đề ra những quyết định trong kinh doanh, nhằm đạt được kết
quả cao nhất trong hoạt động sản xuất kinh doanh của DN. Đồng thời cũng là quá
trình thực hiện việc kiểm tra, kiểm soát đối với các hoạt động tài chính – khâu trung
tâm của mọi hoạt động, đảm bảo cho mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của DN
đạt kết quả cao, đúng hướng, đúng pháp luật.
BCTC theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS)
Theo chuẩn mực kế toán Việt Nam, BCTC phải phản ánh theo một cấu trúc
chặt chẽ tình hình tài chính, kết quả kinh doanh của một DN. Để hiểu sâu hơn về
BCTC, ta tìm hiểu về mục đích, yêu cầu, nguyên tắc lập, kết cấu và nội dung chủ
yếu của các BCTC theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (chuẩn mực số 21 – VAS 21)
về “Trình bày báo cáo tài chính”.
Mục đích của BCTC là cung cấp các thông tin về tình hình tài chính, tình
hình kinh doanh và các luồng tiền của một DN, đáp ứng nhu cầu hữu ích cho số
đông những người sử dụng trong việc đưa ra các quyết định kinh tế. Để đạt mục
đích này BCTC phải cung cấp những thông tin của một DN về: tài sản, nợ phải trả;
vốn chủ sở hữu; doanh thu, thu nhập khác, chi phí, lãi và lỗ; các luồng tiền. Vì vậy,
theo VAS hệ thống BCTC của DN gồm:
- Bảng cân đối kế toán
- Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Bản thuyết minh BCTC.
Để đảm bảo yêu cầu trung thực và hợp lý các BCTC phải được lập và trình
4
bày trên cơ sở tuân thủ các chuẩn mực kế toán và các quy định có liên quan hiện

Do chế độ kế toán giữa từng quốc gia có nhiều điểm khác nhau nên chế độ
BCTC cũng không giống nhau. Việc hoàn thiện hệ thống BCTC của Việt Nam
nhằm cung cấp các thông tin kịp thời, chính xác cho những đối tượng sử dụng đồng
thời phù hợp với thông lệ kế toán quốc tế trong tiến trình hội nhập vào nền kinh tế
toàn cầu là mục tiêu mà chúng ta luôn hướng tới. Chính vì vậy, nghiên cứu nội dung
5
của BCTC theo chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) nhằm tìm ra những ưu điểm, vận
dụng linh hoạt vào thực tế Việt Nam là một việc làm cần thiết.
Chuẩn mực kế toán quốc tế về trình bày BCTC (Chuẩn mực số 1 – IAS1) mô
tả cơ sở cho việc trình bày các BCTC. Chuẩn mực này thiết lập khuôn khổ và trách
nhiệm của việc trình bày các BCTC, hướng dẫn cấu trúc và yêu cầu nội dung tối
thiểu trên các BCTC và được áp dụng cho tất cả các BCTC trên cơ sở các chuẩn
mực kế toán quốc tế [10,t13]. Một hệ thống đầy đủ các BCTC bao gồm:
- Bảng cân đối kế toán
- Báo cáo kết quả kinh doanh
- Báo cáo khác phản ánh những thay đổi về vốn chủ sở hữu, những thay đổi về
vốn chủ sở hữu ngoài các nghiệp vụ góp vốn và phân chia cho chủ sở hữu
- Báo cáo lưu chuyển tiền tệ
- Các chính sách kế toán và các thuyết minh khác.
Cũng theo IAS 1, các nguyên tắc cơ bản phải tuân thủ khi lập BCTC bao gồm:
nguyên tắc hoạt động liên tục, nguyên tắc nhất quán với năm trước, nguyên tắc dồn
tích, nguyên tắc trọng yếu. Bên cạnh đó, IAS 1 còn quy định các yêu cầu phải tuân
theo khi lập BCTC: tính kịp thời; tính khả dụng của các phương pháp áp dụng; nêu
các chuẩn mực được áp dụng trước kia; cơ sở cho việc lựa chọn một chính sách kế
toán và cách thức trình bày các cơ sở này; quy tắc cho việc bù trừ tài sản và công nợ,
bù trừ chi phí và doanh thu; các chỉ tiêu mang tính so sánh. Từ các nguyên tắc và yêu
cầu lập BCTC trên, nội dung và kết cấu của các BCTC cũng được chỉ ra, tuy nhiên
không bắt buộc phải theo mẫu chuẩn tuyệt đối:
Bảng cân đối kế toán phải bao gồm các khoản mục hàng dọc trình bày các số
liệu bằng tiền sau: các tài sản cố định hữu hình, các tài sản cố định vô hình, các tài

các thông tin bổ sung không được trình bày trong các bảng BCTC khác nhưng lại
cần thiết cho việc trình bày trung thực.
Như vậy, qua nghiên cứu về chuẩn mực kế toán Việt Nam và chuẩn mực kế
toán quốc tế ta thấy về cơ bản chế độ kế toán Việt Nam đã tuân thủ và kế thừa được
những ưu điểm của chuẩn mực kế toán quốc tế. Tuy nhiên, để hệ thống BCTC thực
sự tiết kiệm công sức trong khâu chuẩn bị, minh bạch, dễ hiểu, dễ kiểm tra, kiểm
soát đòi hỏi chúng ta phải sửa đổi và hoàn thiện hơn nữa cho phù hợp với nền kinh
tế thị trường còn nhiều bước phát triển.
1.1.2. Phân tích BCTC
Phân tích BCTC là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về
tài chính trong kỳ hiện tại với các kỳ kinh doanh đã qua. Thông qua việc phân tích
BCTC sẽ cung cấp cho người sử dụng thông tin có thể đánh giá BCTC sẽ cung cấp
cho người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng
như những rủi ro về tài chính trong tương lai của DN. Phân tích BCTC nhằm cung
cấp những thông tin hữu ích không chỉ cho quản trị DN mà còn cung cấp những
thông tin kinh tế - tài chính chủ yếu cho các đối tượng sử dụng thông tin ngoài DN.
Bởi vậy, phân tích BCTC không phải chỉ phản ánh tình hình tài chính của DN tại
một thời điểm nhất định, mà còn cung cấp những thông tin về kết quả hoạt động sản
7
xuất kinh doanh của DN đã đạt được trong một kỳ nhất định. [15,t8]
Phân tích BCTC xét theo nghĩa khái quát đề cập tới nghệ thuật phân tích và
giải thích các BCTC. Để áp dụng hiệu quả nghệ thuật này đòi hỏi phải thiết lập một
quy trình có hệ thống và logic, có thể sử dụng làm cơ sở cho việc ra quyết định.
Trong phân tích cuối cùng, việc ra quyết định là mục đích chủ yếu của phân tích
BCTC. Dù cho đó là nhà đầu tư cổ phần vốn có tiềm năng, một nhà cho vay tiềm
tàng, hay một nhà phân tích tham mưu của một công ty đang được phân tích, thì
mục tiêu cuối cùng đều như nhau - đó là cung cấp cơ sở cho việc ra quyết định hợp
lý. Các quyết định xem nên mua hay bán cổ phần, nên cho vay hay từ chối hoặc nên
lựa chọn giữa cách tiếp tục kiểu trước đây hay là chuyển sang một quy trình mới, tất
cả sẽ phần lớn sẽ phụ thuộc vào các kết quả phân tích tài chính có chất lượng. Loại

mệnh giá, nói cách khác là tại sao lại “can thiệp vào các con số” ngay từ đầu? Câu
trả lời hiển nhiên là, hầu như luôn luôn phải có can thiệp đôi chút để “hiểu rõ các
con số”. Nhìn chung, đòi hỏi phải có sự phân tích nào đó với tư cách là bước đầu
tiên đối với BCTC đã được chuẩn bị nhằm chắt lọc các thông tin từ các số liệu trình
bày trong báo cáo. Thứ hai, hầu hết các quyết định được thực hiện trên cơ sở phân
tích BCTC là khá quan trọng, cho nên việc chấp nhận các số liệu tài chính đã trình
bày lúc đầu thường là một cách làm không tốt. Về mặt tài chính, hầu hết các quyết
định đều đòi hỏi phải sử dụng một kết cấu logic, trong đó, các cảm nghĩ và các kết
luận có thể được phát triển một cách có hệ thống và có ý kiến đánh giá hợp lý.[16]
1.2. Nội dung và phương pháp phân tích BCTC trong các công ty bảo hiểm
1.2.1. Đặc điểm của các công ty bảo hiểm có ảnh hưởng đến nội dung và
phương pháp phân tích BCTC
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm là hoạt động hết sức đặc thù bắt đầu xuất
hiện ở nước ta vào năm 1993 sau khi có sự ra đời của Nghị định 100/1993/NĐ-CP.
Hiện nay, loại hình kinh doanh này chịu sự quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm
số 24/2000/QH10 của Quốc hội và hai nghị định mới nhất: nghị định 45/2007/NĐ-
CP của Chính phủ về việc quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Kinh
doanh bảo hiểm và nghị định 46/2007/NĐ-CP của Chính phủ về việc quy định chế
độ tài chính đối với DNBH và DN môi giới BH. Đối với từng loại hình DN, việc áp
dụng phương pháp và thực hiện nội dung phân tích sẽ có những khác biệt nhất định.
Chính vì vậy, để phục vụ cho việc phân tích BCTC của Công ty Cổ phần Bảo hiểm
Quân đội, trong chương này, ta đi nghiên cứu đặc điểm tổ chức hoạt động kinh
doanh, đặc điểm quản lý tài chính và đặc điểm doanh thu, chi phí, kết quả của các
công ty bảo hiểm nói chung.
Đặc điểm tổ chức hoạt động kinh doanh
Theo điều 60 của Nghị định số 46/2007/NĐ-CP ngày 27/03/2007 của Chính
phủ về việc Quy định chế độ tài chính đối với DN bảo hiểm (BH) và DN môi giới
BH, ho t ng c a ạ độ ủ DNBH bao g m:ồ
- Kinh doanh BH, kinh doanh tái BH;
- phòng, h n ch r i ro, t n th t;Đề ạ ế ủ ổ ấ

sung tương xứng với nội dung, phạm vi và địa bàn hoạt động kinh doanh của DN.
Nếu trong trường hợp thay đổi vốn điều lệ, DNBH, DN môi giới BH phải có đơn đề
nghị và văn bản giải trình gửi Bộ Tài chính. Đối với trường hợp DNBH được thành
lập, tổ chức và hoạt động trước ngày Nghị định này có hiệu lực, có số vốn điều lệ
thấp hơn mức vốn pháp định quy định như trên thì trong thời hạn 3 năm, kể từ ngày
Nghị định này có hiệu lực, DNBH phải bổ sung đủ vốn điều lệ theo quy định.
Hoạt động kinh doanh BH là hoạt động kinh doanh hết sức đặc thù: kinh
doanh rủi ro, chính vì vậy, Nhà nước mà cụ thể là Bộ tài chính rất quan tâm, bảo vệ
10
đối tượng mua bảo hiểm thể hiện ở việc DN kinh doanh BH phi nhân thọ và nhân
thọ phải trích lập dự phòng nghiệp vụ theo từng nghiệp vụ BH đối với phần trách
nhiệm giữ lại của DN. Đối với DN kinh doanh BH phi nhân thọ, dự phòng nghiệp
vụ bao gồm: dự phòng phí, dự phòng bồi thường và dự phòng dao động lớn. Trong
đó nội dung của các khoản dự phòng được quy định như sau:
+ Dự phòng phí chưa được hưởng, được sử dụng để bồi thường cho trách nhiệm
sẽ phát sinh trong thời gian còn hiệu lực của hợp đồng BH trong năm tiếp theo;
+ Dự phòng bồi thường cho khiếu nại chưa giải quyết, được sử dụng để bồi
thường cho các tổn thất đã phát sinh thuộc trách nhiệm BH chưa khiếu nại hoặc đã
khiếu nại nhưng đến cuối năm tài chính chưa được giải quyết;
+ Dự phòng bồi thường cho các dao động lớn về tổn thất, được sử dụng để bồi
thường khi có dao động lớn về tổn thất hoặc tổn thất lớn xảy ra mà tổng phí BH giữ
lại trong năm tài chính sau khi đã trích lập dự phòng phí chưa được hưởng và dự
phòng bồi thường cho khiếu nại chưa giải quyết không đủ để chi trả tiền bồi thường
đối với phần trách nhiệm giữ lại của DNBH.
Trong khi đó, đối với DN kinh doanh BH nhân thọ ngoài ba khoản dự phòng
được trích lập giống DN kinh doanh bảo hiểm nhân thọ còn bao gồm thêm hai
khoản dự phòng sau đây:
+ Dự phòng toán học là khoản chênh lệch giữa giá trị hiện tại của số tiền BH
và giá trị hiện tại của phí BH sẽ thu được trong tương lai, được sử dụng để trả tiền
BH đối với những trách nhiệm đã cam kết khi xảy ra sự kiện BH;

+ Đối với hợp đồng BH nhân thọ có thời hạn trên 5 năm bằng tổng của 4% dự
phòng nghiệp vụ BH và 0,3% số tiền BH chịu rủi ro.
Sau khi đã tính biên khả năng thanh toán tối thiểu, DNBH tính biên khả năng
thanh toán của DNBH để tiến hành so sánh. Biên khả năng thanh toán của DNBH là
phần chênh lệch giữa giá trị tài sản và các khoản nợ phải trả của DNBH tại thời
điểm tính biên khả năng thanh toán. Tuy nhiên, các tài sản tính biên khả năng thanh
toán của DNBH phải bảo đảm tính thanh khoản (tức là phải tính đến các tài sản bị
loại trừ toàn bộ hoặc một phần thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Tài chính). DNBH
bị coi là có nguy cơ mất khả năng thanh toán khi biên khả năng thanh toán của
DNBH thấp hơn biên khả năng thanh toán tối thiểu. Khi đó, DNBH phải chủ động
thực hiện ngay các biện pháp tự khôi phục khả năng thanh toán đồng thời báo cáo
Bộ Tài chính về thực trạng tài chính, nguyên nhân dẫn đến nguy cơ mất khả năng
thanh toán và phương án khôi phục khả năng thanh toán. Trong trường hợp DNBH
không tự khôi phục được khả năng thanh toán thì Bộ Tài chính có quyền yêu cầu
DNBH thực hiện khôi phục khả năng thanh toán, gồm những biện pháp sau: bổ
sung nguồn vốn chủ sở hữu; Tái BH; thu hẹp nội dung, phạm vi và địa bàn hoạt
động; đình chỉ một phần hoặc toàn bộ hoạt động; củng cố tổ chức bộ máy và thay
đổi người quản trị, điều hành của DN; yêu cầu chuyển giao hợp đồng BH; các biện
pháp khác. Trong trường hợp DNBH không khôi phục được khả năng thanh toán
theo yêu cầu của Bộ Tài chính, DNBH sẽ bị đặt vào tình trạng kiểm soát đặc biệt.
Một phần rất quan trọng trong đặc điểm quản lý tài chính của DNBH là chế độ
12
kế toán, kiểm toán, thống kê và BCTC. Về chế độ kế toán: DNBH, DN môi giới BH
phải thực hiện ghi chép đầy đủ chứng từ ban đầu, cập nhật sổ kế toán và phản ánh
đầy đủ, kịp thời, trung thực, chính xác, khách quan các hoạt động kinh tế, tài chính.
Cũng giống như tất cả các hoạt động kinh doanh khác, năm tài chính của DNBH,
DN môi giới BH bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12
cùng năm dương lịch. Cũng theo nghị định này thì DNBH, DN môi giới BH có
trách nhiệm lập và gửi các BCTC, báo cáo thống kê, báo cáo nghiệp vụ định kỳ, đột
xuất theo quy định của pháp luật hiện hành và hướng dẫn của Bộ Tài chính. Riêng

chi, phải trích phát sinh trong kỳ bao gồm: chi phí hoạt động kinh doanh BH, chi
phí hoạt động tài chính và chi phí hoạt động khác.
Trong đó chi phí hoạt động kinh doanh bảo hiểm là số tiền phải chi, phải trích
phát sinh trong kỳ sau khi đã trừ các khoản phải thu để giảm chi phát sinh trong kỳ:
+ Số tiền phải chi, phải trích phát sinh trong kỳ bao gồm: bồi thường BH gốc
đối với BH phi nhân thọ; trả tiền BH đối với BH nhân thọ; chi bồi thường nhận tái
BH; trích lập dự phòng nghiệp vụ; chi hoa hồng BH; chi giám định tổn thất; chi phí
về dịch vụ đại lý bao gồm giám định tổn thất, xét giải quyết bồi thường, yêu cầu
người thứ ba bồi hoàn; chi xử lý hàng bồi thường 100%; chi quản lý đại lý BH; chi
đề phòng, hạn chế rủi ro, tổn thất; chi đánh giá rủi ro của đối tượng BH; các khoản
chi, trích khác theo quy định của pháp luật.
+ Các khoản phải thu để giảm chi phát sinh trong kỳ bao gồm: thu bồi thường
nhượng tái BH; thu đòi người thứ ba bồi hoàn; thu hàng đã xử lý, bồi thường 100%.
Chi phí hoạt động tài chính: chi phí hoạt động tài chính của DNBH bao gồm 5
loại chi phí sau: chi phí hoạt động đầu tư; thu nhập đầu tư phải trả cho bên mua BH
theo cam kết tại hợp đồng BH nhân thọ; chi phí cho thuê tài sản; chi thủ tục phí
ngân hàng, trả lãi tiền vay; chi, trích khác theo quy định của pháp luật.
Chi phí hoạt động khác: chi nhượng bán, thanh lý tài sản cố định; chi phí cho
việc thu hồi khoản nợ phải thu khó đòi đã xoá nay thu hồi được; chi, trích khác theo
quy định của pháp luật.
Căn cứ vào đặc điểm doanh thu và chi phí của DNBH, kết quả kinh doanh của
DNBH bao gồm kết quả của ba hoạt động trên: lợi nhuận hoạt động kinh doanh BH,
lợi nhuận hoạt động tài chính và lợi nhuận hoạt động khác. Sau khi tính được kết
quả kinh doanh BH, DNBH, DN môi giới BH phải làm đầy đủ nghĩa vụ với ngân
sách nhà nước theo quy định của pháp luật như: nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp
(TNDN) theo luật định, trích lập quỹ dự trữ bắt buộc (được tính bằng 5% lợi nhuận
sau thuế, tối đa có thể bằng 10% mức vốn điều lệ của DN), sau đó DNBH, DN môi
giới BH mới được phân phối lợi nhuận còn lại theo quy định của pháp luật.
1.2.2. Nội dung phân tích BCTC
Phân tích BCTC là việc sử dụng các phương pháp nhằm đánh giá tình hình

+ Phân tích bản thân từng BCTC
Như vậy, có thể nói về cơ bản, việc thực hiện phân tích BCTC theo những
nội dung khá giống nhau. Trong khuôn khổ bài luận văn này, nhận thức được tầm
quan trọng của mục đích phân tích BCTC, kế thừa những nội dung phân tích BCTC
ở trên, theo tác giả, nội dung phân tích BCTC sẽ bao gồm những nội dung sau:
+ Đánh giá khái quát tình hình tài chính và phân tích cấu trúc tài chính.
+ Phân tích tình hình bảo đảm vốn cho hoạt động kinh doanh
+ Phân tích tình hình và khả năng thanh toán
+ Phân tích hiệu quả kinh doanh
15
+ Phân tích rủi ro tài chính
+ Phân tích giá trị DN
+ Dự báo nhu cầu tài chính
Đánh giá khái quát tình hình tài chính và phân tích cấu trúc tài chính.
Hoạt động tài chính là những hoạt động gắn với sự vận động và chuyển hoá
các nguồn lực tài chính, tạo ra sự chuyển dịch giá trị trong quá trình kinh doanh và
làm biến động vốn cũng như thay đổi cấu trúc vốn của DN. Nói cách khác, hoạt
động tài chính là những hoạt động gắn với việc xác định nhu cầu, tạo lập, tìm kiếm,
tổ chức, huy động và sử dụng với một cách hợp lý, có hiệu quả. Hoạt động tài chính
là một trong những nội dung cơ bản thuộc hoạt động kinh doanh của DN và có vai
trò hết sức quan trọng đối với hoạt động kinh doanh. Hoạt động tài chính tốt sẽ có
tác động thúc đẩy sự phát triển của hoạt động kinh doanh và ngược lại; hoạt động
kinh doanh có hiệu quả thì mới bảo đảm cho hoạt động tài chính được vận hành trôi
chảy; từ đó thúc đẩy được sản xuất – kinh doanh phát triển, nâng cao được hiệu quả
kinh doanh. Bằng việc xem xét hoạt động tài chính, các nhà quản lý có thể đánh giá
chính xác thực trạng tài chính DN. Có thể khái quát vai trò của hoạt động tài chính
trên các điểm sau: [15,t167]
+ Đáp ứng đủ vốn cho hoạt động và phát triển của DN
+ Huy động vốn với chi phí thấp nhất
+ Sử dụng hiệu quả các nguồn vốn

Khi xem xét cơ cấu tài sản, ngoài việc so sánh tổng số tài sản cũng như từng
loại tài sản cuối năm so với đầu năm còn phải xem xét tỷ trọng từng loại tài sản
chiếm trong tổng số và xu hướng biến động của chúng để thấy được mức độ hợp lý
của việc phân bổ. Tỷ trọng này được tính như sau:
Tỷ trọng của từng bộ phận TS = Giá trị của từng bộ phận TS
Tổng số tài sản
Việc đánh giá mức độ hợp lý trong việc phân bổ tài sản phải căn cứ trên tính
chất của lĩnh vực, ngành nghề hoạt động sản xuất kinh doanh, tính thời vụ hoặc
chính sách đầu tư của DN. Có thể kể ra những điểm cần lưu ý khi đánh giá sau đây:
+ Về tiền và các khoản tương đương tiền: Để khắc phục những nhược điểm
mà chỉ tiêu “Tiền và các khoản tương đương tiền” trên bảng cân đối kế toán có thể
đem lại do tính thời điểm của chỉ tiêu này, khi xem xét cần liên hệ với tình hình
biến động của chỉ tiêu “Hệ số khả năng thanh toán nợ ngắn hạn của tiền và các
khoản tương đương tiền” đồng thời căn cứ vào nhu cầu thực tế về tiền của DN trong
từng giai đoạn để nhận xét. Khoản mục này có thể (tăng hoặc giảm) không phải do
ứ đọng (hay thiếu tiền) mà có thể do DN đang có kế hoạch tập trung tiền để chuẩn
bị đầu tư mua sắm vật tư, tài sản, … hay do DN vừa đầu tư vào một số lĩnh vực
kinh doanh,…[15,t182]
+ Về đầu tư tài chính: Khi xem xét khoản đầu tư này, cần liên hệ với chính
sách của DN cũng như môi trường đầu tư trong từng thời kỳ; bởi vì, không phải DN
nào cũng có điều kiện đầu tư tài chính. Hơn nữa, môi trường đầu tư cũng ảnh hưởng
nhiều đến tỉ trọng của khoản đầu tư này. Một điều có thể khẳng định rằng, trong
17
điều kiện hội nhập của nền kinh tế, đầu tư tài chính là cơ hội cần thiết để giúp DN
sử dụng vốn dôi thừa có hiệu quả; đồng thời tạo cho DN có nhiều cơ hội để nắm
bắt, học hỏi được kinh nghiệm và kiến thức quản lý kinh tế tiên tiến, góp phần thức
đẩy tăng trưởng kinh tế cũng như có điều kiện để ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật vào
sản xuất. [15,t182-t183]
+ Về các khoản phải thu: Đối với khoản phải thu khách hàng, tỷ trọng của loại
tài sản này phụ thuộc vào phương thức bán hàng, chính sách bán hàng, khả năng

Phân tích cơ cấu nguồn vốn được thực hiện nhằm đánh giá tình hình huy động
vốn của DN. Việc phân tích cơ cấu nguồn vốn cũng tiến hành tương tự với việc
phân tích cơ cấu tài sản. Ngoài ra việc so sánh sự biến động trên tổng số nguồn vốn
cũng như từng nguồn vốn cuối kỳ so với đầu năm, các nhà phân tích còn phải xem
xét tỷ trọng từng loại nguồn vốn chiếm trong tổng số và xu hướng biến động của
chúng nhằm đánh giá được khả năng tự chủ về mặt tài chính của DN cũng như mức
độ tự chủ, chủ động trong kinh doanh.
Tỷ trọng của từng bộ phận nguồn vốn trong tổng số nguồn vốn được xác định
như sau:
Tỷ trọng của từng bộ phận NV = Giá trị của từng bộ phận NV
Tổng số nguồn vốn
Nếu nguồn vốn chủ sở hữu chiếm tỷ trọng cao trong tổng số NV thì DN đủ
khả năng tự đảm bảo về mặt tài chính và mức độ độc lập của DN đối với các chủ nợ
là cao và ngược lại. Qua việc xem xét cơ cấu nguồn vốn và sự biến động về cơ cấu
nguồn vốn của nhiều kỳ kinh doanh, gắn với điều kiện kinh doanh cụ thể các nhà
quản lý sẽ có quyết định huy động nguồn vốn nào với mức độ bao nhiêu là hợp lý,
bảo đảm hiệu quả kinh doanh cao nhất.
Cơ cấu nguồn vốn được xem là tối ưu là cơ cấu nguồn vốn với mục tiêu tối
thiểu hoá chi phí sử dụng vốn. Vì vậy, các nhà phân tích thường kết hợp phân tích chỉ
tiêu “chi phí sử dụng vốn bình quân”. Chỉ tiêu này được xác định bằng công thức:
CP
=
cfi
NV
nvi
n
i

=1
=

đáp ứng đủ nhu cầu về vốn cho kinh doanh, DN được phép đi vay để bổ sung vốn
kinh doanh. Loại trừ các khoản vay quá hạn thì các khoản vay ngắn hạn, trung hạn và
dài hạn (của Ngân hàng hay của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước) chưa đến
hạn trả, dùng cho mục đích kinh doanh đều được coi là nguồn vốn vay hợp pháp (vay
hợp pháp). Nếu số vốn chủ sở hữu và vốn vay hợp pháp hiện có của DN lớn hơn số
tài sản ban đầu, tức là không sử dụng hết số vốn hiện có, số vốn dư thừa của DN sẽ bị
chiếm dụng. Nếu lượng tài sản ban đầu phục vụ cho hoạt động kinh doanh của DN
lớn hơn số vốn chủ sở hữu và vốn vay hợp pháp, để có đủ tài sản phục vụ cho nhu
cầu kinh doanh, DN buộc phải đi chiếm dụng vốn trong thanh toán (chiếm dụng hợp
pháp và bất hợp pháp). Mặt khác, do tính chất cân bằng của Bảng cân đối kế toán,
tổng số tài sản luôn luôn bằng tổng số nguồn vốn nên ta có cân đối sau đây:
Vốn chủ sở hữu + Vốn vay hợp pháp + Nguồn vốn thanh toán = Tài sản ngắn
hạn + Tài sản dài hạn + Tài sản thanh toán
Cân đối này cho thấy: số vốn mà DN bị chiếm dụng (phần chênh lệch giữa
vốn chủ sở hữu và vốn vay hợp pháp lớn hơn số tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn
tương ứng) đúng bằng số chênh lệch giữa số tài sản phát sinh trong quá trình thanh
toán (nợ phải thu ngắn hạn và nợ phải thu dài hạn) với nguồn vốn chiếm dụng trong
thanh toán (nợ phải trả ngắn hạn và dài hạn) và ngược lại; số vốn mà DN đi chiếm
dụng (phần chênh lệch giữa số tài sản ngắn hạn và tài sản dài hạn lớn hơn số vốn
chủ sở hữu và vốn vay hợp pháp) đúng bằng số chênh lệch giữa nguồn vốn chiếm
dụng trong thanh toán (công nợ phải trả) với số tài sản phát sinh trong quá trình
thanh toán (nợ phải thu ngắn hạn và dài hạn). Cân đối này thể hiện cân đối giữa tài
sản và nguồn tài trợ tài sản của DN.[15,t200]
Phân tích tình hình đảm bảo vốn theo tính ổn định của nguồn tài trợ được
thực hiện dựa trên cơ sở phân chia nguồn hình thành nên tài sản sử dụng trong quá
trình hoạt động của DN thành hai loại tương ứng với thời gian luân chuyển tài sản
20
là nguồn vốn ngắn hạn và nguồn vốn dài hạn. Trong đó, nguồn vốn ngắn hạn là
nguồn tài trợ mà DN sử dụng tạm thời vào hoạt động trong một thời gian ngắn nên
còn gọi là nguồn tài trợ tạm thời. Nguồn vốn dài hạn là nguồn vốn mà DN được sử

hạn hay Tài sản ngắn hạn với Nguồn vốn tạm thời.
Ngoài ra, để có nhận xét xác đáng và chính xác về tình hình bảo đảm vốn cho
hoạt động kinh doanh, các nhà phân tích còn quan tâm tới các chỉ tiêu sau:[15,t205]
• Hệ số tài trợ thường xuyên:
Hệ số tài trợ thường xuyên =
Nguồn tài trợ thường xuyên
[1.4]
Tổng nguồn vốn
Hệ số cho biết so với tổng nguồn tài trợ tài sản của DN (nguồn vốn), nguồn
21
tài trợ thường xuyên chiếm mấy phần. Trị số của chỉ tiêu này càng lớn, tính ổn định
và cân bằng tài chính của DN càng cao và ngược lại.
• Hệ số tài trợ tạm thời:
Hệ số tài trợ tạm thời =
Nguồn tài trợ tạm thời
[1.5]
Tổng nguồn vốn
Hệ số cho biết so với tổng nguồn tài trợ tài sản của DN (nguồn vốn), nguồn
tài trợ tạm thời chiếm mấy phần. Trị số của chỉ tiêu này càng nhỏ, tính ổn định và
cân bằng tài chính của DN càng cao và ngược lại.
• Hệ số vốn chủ sở hữu so với nguồn tài trợ thường xuyên:
Hệ số VCSH so với
=
Vốn chủ sở hữu
[1.6]
Nguồn vốn tài trợ thường xuyên
Hệ số cho biết trong tổng số nguồn tài trợ thường xuyên, số vốn chủ sở hữu
chiếm mấy phần. Trị số của chỉ tiêu này càng lớn, tính tự chủ và độc lập về tài
chính của DN càng cao và ngược lại.
• Hệ số giữa nguồn tài trợ thường xuyên so với tài sản dài hạn:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status