Sáng kiến kinh nghiệm
1
PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO KHÁNH SƠN
TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN TÔ HẠP
MỘT SỐ BIỆN PHÁP
GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT PHẦN SO SÁNH PHÂN SỐ
LỚP 4C TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN TÔ HẠP
Người thực hiện : Trần Thị Tuyết Dung
Sáng kiến kinh nghiệm
Mục lục :
Trang
Phần I: Đặt vấn đề
Phần II: Nội dung
1. Thực trạng ban đầu của vấn đề.
2. Các biện pháp đã tiến hành để giải quyết vấn đề.
3. Những kết quả đạt được.
4. Phương pháp thực hiện sáng kiến kinh nghiệm:
5. Khả năng ứng dụng, triển khai kết quả SKKN
Phần III. Kết luận
1. Kết quả của việc ứng dụng SKKN
2. Kết luận
3. Kiến nghị đề xuất
Tài liệu tham khảo.
2
Sáng kiến kinh nghiệm
MỘT SỐ BIỆN PHÁP
GIÚP HỌC SINH HỌC TỐT PHẦN SO SÁNH PHÂN SỐ LỚP 4C
TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN TÔ HẠP
Phần I: Đặt vấn đề
Đặc điểm chương trình toán ở tiểu học là:
Tôi thử áp dụng và cũng đem lại hiệu quả đáng kể.
3
Sáng kiến kinh nghiệm
Phần II: Nội dung
1. Thực trạng ban đầu của vấn đề:
Trên thực tế, trình độ kiến thức của các học sinh trong một lớp không đều
nhau: giỏi, khá, trung bình, yếu kém đều có. Đặc biệt phân môn toán, từ lớp 1 đến
lớp 3 và học kì I của lớp 4 học sinh chủ yếu là học thực hành bốn phép tính cộng,
trừ, nhân, chia về số tự nhiên. Bước vào học kì II của lớp 4, các em mới được học
về phân số.
- Một số bài toán so sánh phân số không được quy đồng. Một số bài toán so
sánh phân số phức tạp mà việc so sánh bằng cách quy đồng mẫu số sẽ gặp khó
khăn. Một số bài toán yêu cầu học sinh so sánh bằng nhiều cách. Một số bài toán
cần so sánh nhiều phân số. Một số bài toán yêu cầu lựa chọn cách làm hợp lí
nhất…các em đều làm rất chậm.
- Khi so sánh phân số, học sinh hay nhầm trường hợp so sánh các phân số có
cùng tử số (phân số nào có mẫu số lớn hơn thì phân số đó lớn hơn các em kết luận
sai)….
- Việc thực hiện các phép tính giữa phân số với phân số, phối hợp giữa phân
số với số tự nhiên còn nhiều nhầm lẫn và dài dòng.
- Việc lựa chọn phương pháp nào để giải học sinh còn rất lúng túng.
- Một số GV cảm thấy ngại và thấy khó dạy ngay từ bài đầu tiên : Khái niệm
phân số. Chưa thấy rõ được mối quan hệ giữa phân số và số tự nhiên, quan hệ giữa
phân số và phép chia số tự nhiên, một điều quan trọng khi giảng dạy phần này.
Chưa biết khai thác triệt đề các bài tập có trong chương trình để xây dựng bài mới
để học sinh tiếp thu một cách tự nhiên và hiệu quả nhất. Một số giáo viên chưa biết
cách chọn lựa cách giải nào nhanh, gọn, hợp lí mà giúp nhiều học sinh có thể làm
được để phát triển tư duy cho các em. Từ đó, tôi cảm thấy cần nâng cao chất lượng
môn toán và tìm ra “Một số phương pháp so sánh phân số” là một vấn đề cần thiết.
Trong những năm trước, học sinh được học phân số,phân số và phép chia số
4
>
5
2
;
8
7
>
8
5
Nhưng đối với những em tiếp thu chậm,chưa nắm vững kiến thức,mau quên các em
có thể so sánh ngược lại.
4
Sáng kiến kinh nghiệm
7
3
>
7
5
;
5
4
<
5
2
;
8
7
5
3
. Từ đó cho các
em rút ra kết luận: Hai phân số có cùng mẫu số, phân số nào có tử số lớn hơn thì
phân số đó lớn hơn và ngược lại. Cho học sinh học thuộc và thực hành. Sau đó tôi
hướng cho học sinh cách thực hiện chung như sau:
b
a
và
b
c
( b ≠ 0); Nếu a > c
⇒
b
a
>
b
c
;
Nếu a < c
⇒
b
a
<
b
c
; Nếu a = c
⇒
b
a
=
15
10
;
5
4
=
35
34
×
×
=
15
12
Vì
15
12
>
15
10
nên
5
4
>
3
2
b) Vì 15 : 5 = 3 nên
5
3
=
9
5
>
11
5
Cho học sinh rút ra kết luận: Hai phân số cùng tử số, phân số nào có mẫu số
bé hơn thì phân số đó lớn hơn và ngược lại. Từ ví dụ trên tôi hướng cho học sinh
cách thực hiện chung như sau:
b
a
và
d
a
( b,d ≠ 0 ): Nếu b < d
⇒
b
a
>
d
a
; Nếu b > d
⇒
b
a
<
d
a
Nếu b = d
⇒
b
=
35
20
;
8
5
=
48
45
×
×
=
32
20
Vì
35
20
<
32
20
nên
7
4
<
8
5
b.
7
4
b)
2
9
c)
5
5
Tương tự cho học sinh nhận xét các phân số, cho học sinh suy nghĩ làm thế
nào để so sánh các phân số trên với 1, phân số nào lớn hơn 1, phân số nào bé hơn
1… từ đó tối hướng cho các em cách giải như sau:
Bài giải:
a) Ta thấy :
7
4
<
7
7
mà
7
7
= 1 nên
7
4
< 1
b) Ta có :
2
9
>
2
2
mà
a
= 1
4. Giải pháp thứ tư: So sánh các phân số dựa vào các tính chất cơ bản
của phân số.
Tương tự cho học sinh nhận xét các phân số, cho học sinh suy nghĩ làm thế
nào để tìm được phân số nào lớn nhất, phân số nào nhỏ nhất trong dãy các phân số
đã cho… từ đó tôi hướng cho các em cách giải như sau:
Ví dụ 6: Trong các phân số sau, phân số nào lớn nhất, phân số nào nhỏ
nhất :
507
307
;
507507
307307
;
507507507
307307307
Ta thấy :
507507
307307
=
1001507
1001307
×
×
=
507
307
nào để tìm được các cặp phân số bằng nhau trong dãy các phân số đã cho bằng cách
nhanh nhất… từ đó tôi hướng cho các em cách giải như sau:
Ví dụ 7: So sánh các cặp số sau bằng cách nhanh nhất:
a)
27
16
và
29
15
; b)
9
2
và
12
5
; c)
9
7
và
10
13
- Cách 1:
Ta có :
27
16
>
29
16
và
29
9
2
và
12
5
- Cách 1:
9
2
<
9
3
và
12
5
>
12
4
mà
9
3
=
12
4
=
3
1
Vậy :
9
;
12
3
<
12
5
nên
9
2
<
12
5
Câu c.
9
7
và
10
13
Ta có :
9
7
< 1 và
10
13
> 1 Vậy :
9
7
< 1 <
10
nào để so sánh hai phân số đã cho dưới đây bằng cách nhanh nhất… từ đó tôi
hướng cho các em cách giải như sau:
Ví dụ 8: So sánh hai phân số :
1999
1998
và
2000
1999
Ta thấy : 1-
1999
1998
=
1999
1
; 1 -
2000
1999
=
2000
1
Mà
1999
1
>
2000
1
nên
1999
1998
<
phân số cùng lớn hơn tử số hai phân số một lượng như nhau.
9
Sáng kiến kinh nghiệm
7. Giải pháp thứ bảy: Dùng cách nhân tử số của phân số này với mẫu số
của phân số kia, rồi so sánh hai tích.
Tương tự cho học sinh nhận xét các phân số, cho học sinh suy nghĩ làm thế
nào để so sánh hai phân số đã cho dưới đây bằng cách nhanh nhất… từ đó tôi
hướng cho các em cách giải như sau:
Ví dụ 9: So sánh hai phân số :
139
5
và
201
7
Ta thấy : 5
×
201 = 1005
7
×
139 = 973
Mà 973 < 1005 nên
139
5
>
201
7
Cho các em nhận xét và rút ra kết luận: Cách so sánh này xây dựng trên cơ
sở của việc so sánh 2 phân số bằng cách quy đồng mẫu số. Cách làm này áp dụng
với những bài so sánh phân số mà việc nhân hai mẫu số gặp phức tạp nhưng tử số
của hai phân số nó sẽ làm cho ta giảm đi một bước là nhân hai mẫu số với nhau.
Giữa học kì II 26 9 11 4 2
Cuối học kì II 26 15 9 2 /
*Bài học kinh nghiệm:
Thông qua kết quả học tập và rèn luyện của học sinh,kiểm tra thường
xuyên,kiểm tra định kì,tôi nhận thấy học sinh tôi đã có phần tiến bộ rõ rệt.Theo
cách này,có thể tạo điều kiện cho nhiều đối tượng học sinh tham gia giải toán mà
không ngần ngại (nhất là các học sinh yếu ,kém).Chất lượng cuối học kì II tăng lên
so với giữa học kì II.Đây cũng là một trong những vấn đề khuyến khích tôi có hứng
thú dạy toán hơn nhất là phần so sánh phân số Toán 4.GVcần phải nhiệt tình,tận
tâm khi giảng dạy. Còn về phía học sinh,các em cũng cảm thấy thích thú hơn khi
học phần toán mới mẻ này.
Mặt khác các em phát huy triệt để tính tích cực học tập, hăng say khi giải
các bài toán về so sánh phân số.Các em có nhu cầu tự tìm tòi, tự phát hiện cách giải
(căn cứ vào cách phân dạng và phương pháp GV cung cấp) và nhờ đó tư duy sáng
tạo phát triển rõ rệt. Bên cạnh đó còn giúp cho nhiều đối tượng học sinh giải quyết
được các vấn đề đặt ra của các bài toán về so sánh phân số.
4. Phương pháp thực hiện SKKN:
Để hình thành và viết chuyên đề nghiên cứu, tôi đã sử dụng những phương
pháp sau :
- Phương pháp tra cứu tập hồ sơ, tài liệu.
- Phương pháp tổng hợp so sánh, phân tích kết quả.
- Phương pháp thực nghiệm.
5. Khả năng ứng dụng, triển khai kết quả của SKKN:
Khi áp dụng giải pháp trên vào thực tế ít nhiều đã mang lại những kết quả
từng bước khắc phục những khó khăn mà học sinh lớp 4 thường vấp phải khi học
nội dung trên.
11
Sáng kiến kinh nghiệm
*Tồn tại :
GV mất nhiều thời gian để tìm tòi,nghiên cứu,lựa chọn phương pháp sao cho
- Một số tạp chí giáo dục…
13