DANH MỤC CHỮ CÁI
GV: giáo viên
HS: học sinh
MT: môi trường
GDMT: giáo dục môi trường
BVMT: bảo vệ môi trường
GDBVMT: giáo dục bảo vệ môi trường
THCS: trung học cơ sở
1
MỤC LỤC
Danh mục chữ cái……………………………………………………1
Mục lục………………………………………………………………2
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ…………………………………………… 3
1. Lý do chọn đề tài ………………………………………………3
2. Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài ………………………………… 3
2.1. Mục tiêu 3
2.2. Nhiệm vụ ………………………………………………… 4
3. Đối tượng nghiên cứu ……………………………………… 4
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu ………………………………… 4
5. Phương pháp nghiên cứu …………………………………… 4
PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ …………………………………5
1. Cơ sở lí luận……………………………………………………….5
2. Thực trạng ……………………………………………………….5
2.1. Thuận lợi: ……………………………………………………. 5
2. 2. Khó khăn: …………………………………………………….6
3. Giải pháp, biện pháp………………………………………………6
3.1. Nâng cao nhận thức và sự hiểu biết về giáo dục môi trường trong
Môi trường là không gian sinh sống của con người và sinh vật, là nơi chứa đựng
và cung cấp các nguồn tài nguyên cần thiết cho đời sống và sản xuất của con
người, do đó Môi trường có vai trò cực kì quan trọng đối với đời sống con
người.
Bảo vệ thiên nhiên và môi trường là vấn đề mang tính toàn cầu. Môi trường là
một vấn đề đã và đang thu hút sự quan tâm của toàn thế giới. Trong mấy chục
năm trở lại đây do sự phát triển kinh tế ồ ạt dưới tác động của các cuộc cách
mạng khoa học kĩ thuật và sự gia tăng dân số quá nhanh làm cho môi trường bị
biến đổi chưa từng thấy. Môi trường lâm vào khủng hoảng với quy mô toàn cầu,
trở thành nguy cơ thực sự đối với cuộc sống hiện đại và sự tồn vong của xã hội
trong tương lai.
Trong những năm gần đây chúng ta nghe nói rất nhiều về vấn đề môi trường. Vì
sao con người lại quan tâm đến môi trường nhiều như vậy? Như chúng ta biết,
sự phát triển của nền công nghiệp hiện đại, sự gia tăng dân số quá nhanh và việc
chặt phá rừng bừa bãi của con người đã làm cho nồng độ CO
2
trong khí quyển
tăng vọt lên cùng với các khí thải từ công nghiệp, động cơ giao thông đã thải
những khí độc hại như CFC, NO
2,
SO
2,
CH
4
…….được gọi là những khí nhà
kính.
“Hiệu ứng nhà kính” làm cho nhiệt độ bề mặt Trái Đất tăng lên, gây ra nhiều
hậu quả xấu như: làm tan băng và dâng cao mực nước biển, gây ngập úng các
vùng sản xuất lương thực trù phú, thành phố ven biển, các đảo thấp; khí hậu Trái
Đất biến đổi, làm xáo động điều kiện sống và các hoạt động sản xuất nông, lâm,
- Từ đó rút ra kết luận và đưa ra các kiến nghị cụ thể nhằm giúp việc giáo dục
bảo vệ môi trường có hiệu quả.
- Thống kê các kết quả đạt được khi thực nghiệm.
3. Đối tượng nghiên cứu:
- Học sinh trường THCS Sơn Lâm.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu:
- Áp dụng cho nhiều bài học Địa lí THCS (lớp 6, 7, 8, 9) chương trình sách giáo
khoa.
- Giới hạn trong nội dung có thể tích hợp được vấn đề bảo vệ môi trường trong
chương trình sách giáo khoa và các hoạt động ngoại khóa có nội dung giáo dục
bảo vệ môi trường.
5. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp đàm thoại.
- Phương pháp sử dụng các phương tiện trực quan.
- Phương pháp thí nghiệm.
- Phương pháp thảo luận.
- Phương pháp đóng vai.
- Phương pháp thực địa.
5
PHẦN II: GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ
1. Cơ sở lí luận
Giáo dục môi trường là quá trình giáo dục nhằm giúp cho mỗi học sinh có nhận
thức về môi trường thông qua kiến thức về môi trường (khái niệm, mối liên hệ,
quy luật ) tạo cho học sinh có ý thức, thái độ đối với môi trường; trang bị các kĩ
năng thực hành. Kết quả là học sinh có ý thức trách nhiệm với môi trường và
biết cách hành động thích hợp để bảo vệ môi trường, ứng xử thích nghi thông
minh với môi trường.
- Thực hiện công văn số 7120/ BGDĐT-GDTrH ngày 07/8/2008 của Bộ
GD&ĐT về tích hợp nội dung giáo dục bảo vệ môi trường (GDBVMT) vào các
môn học ở cấp THCS và cấp THPT từ năm học 2008 – 2009.
- Được Bộ GDĐT ban hành tài liệu hướng dẫn thực hiện việc tích hợp GDMT
thông qua bộ môn địa lí.
- Hiện nay với sự hỗ trợ của hệ thống thông tin đại chúng, nhất là Internet, giúp
cho giáo viên và học sinh dễ dàng tìm kiếm hình ảnh, tra cứu văn bản pháp luật
và thông tin có liên quan đến vấn đề môi trường.
2.2. Khó khăn:
- Do nhiều lí do mà Nhà trường chưa có điều kiện cho học sinh đi thực tế các
miền địa hình khác nhau, các cơ sản xuất công nghiệp …từ đó làm cho việc giáo
dục môi trường đạt hiệu quả chưa cao.
- Đối với việc giáo dục bảo vệ môi trường trong chương trình nội khóa thì một
số bài chỉ có một số địa chỉ để tích hợp nên giáo viên không có nhiều thời gian
để phân tích sâu, cũng chưa có nhiều bài tập dành cho chuyên đề giáo dục môi
trường.
- Từ những kiến thức trong các bài học có liên quan đến vấn đề giáo dục môi
trường , các em chưa phát huy được tối đa để vận dụng những kiến thức đó mà
các em chỉ mới hiểu và nắm được kiến thức sách giáo khoa, còn phần mở rộng
thì hạn chế rất nhiều. Điều đó rất khó khăn cho giáo viên dạy môn Địa lí nói
riêng và các bộ môn có liên quan đến môi trường nói chung vì vậy quá trình lĩnh
hội kiến thức của các em còn hạn chế nhiều trong khi yêu cầu của các môn học
ngày càng cao.
- Vì vậy, hiện nay trong quá trình dạy học Địa lí ở các trường THCS vấn đề rèn
luyện kĩ năng, kiến thức và hình thành thái độ cho học sinh trong giáo dục bảo
vệ môi trường ở các bài học hiệu quả chưa thật như ý muốn.
3. Giải pháp, biện pháp
3.1. Nâng cao nhận thức và sự hiểu biết về giáo dục môi trường trong dạy
học Địa lí:
- Tuyên truyền cho các em về ý nghĩa của môi trường đối với cuộc sống. Tác
động của con người, đặc biệt trong thời đại khoa học kĩ thuật phát triển đã ảnh
hưởng tiêu cực đến môi trường sống trên Trái Đất, tài nguyên thiên nhiên ngày
một cạn kiệt, ô nhiễm môi trường ngày càng trở nên trầm trọng đang đe dọa sức
lực và sự sáng tạo của HS, câu hỏi đòi hỏi HS gắn kiến thức môn học đã biết với
kiến thức MT mà có thể HS chưa biết, phải tìm tòi, suy nghĩ, vận dụng nhiều
thao tác tư duy mới tìm ra câu trả lời.
Ví dụ 1: Bài 23: Sông và hồ (Địa lí lớp 6)
Khi dạy, GV có thể đặt ra các câu hỏi để HS có thể liên hệ với thực tế MT như:
1- Bằng hiểu biết thực tế, em hãy cho ví dụ về những lợi ích mà sông mang
đến cho con người?
2- Theo em ảnh hưởng tiêu cực của sông đối với con người là do những
nguyên nhân nào? Làm cách nào để hạn chế những tiêu cực đó?
Ví dụ 2: Bài 33: Đặc điểm sông ngòi Việt Nam (Địa lí lớp 8)
Khi dạy phân tích đặc điểm chung sông ngòi nước ta, GV cũng có thể đặt một
số câu hỏi để GDMT như:
1- Đặc điểm của sông ngòi nước ta đã tạo cho nước ta những thuận lợi và khó
khăn gì trong hoạt động phát triển kinh tế?
2- Để khắc phục những khó khăn do sông ngòi đem lại thì biện pháp tích cực
và tối ưu nhất là gì?
Hoặc: Khi dạy phần khai thác kinh tế và bảo vệ sự trong sạch của các dòng
sông, GV đặt một số câu hỏi như sau:
1- Có những nguyên nhân nào làm cho nước sông bị ô nhiễm? Liên hệ ở địa
phương em.
2- Để nước sông không bị ô nhiễm chúng ta phải làm gì?
8
Ví dụ 3: Bài 2: Dân số và gia tăng dân số (Địa lí lớp 9)
Khi dạy phần này GV cũng dễ dàng đặt một số câu hỏi liên hệ đến vấn đề
GDMT có liên quan đến dân số như:
1- Tình hình gia tăng dân số của nước ta có ảnh hưởng gì đến môi trường?
2- Để bảo vệ tài nguyên và môi trường, ta phải làm gì trong vấn đề dân số?
3- Hãy liên hệ đến tình hình gia tăng dân số ở địa phương em và cho biết địa
phương em đã có những biện pháp gì để thực hiện chính sách về dân số?
3.2.2. Phương pháp thảo luận:
- GV chọn một số phiếu học tập đã hoàn thành dán lên bảng cho cả lớp theo dõi
và xác định đúng sai để bổ sung ý kiến (nếu có). Các phiếu học tập còn lại GV thu
phiếu để kiểm tra kết quả bài làm của các em.
- Sau đó GV chuẩn xác kiến thức theo bảng sau:
10
* Nguyên nhân, hậu quả và biện pháp khắc phục của ô nhiễm không khí
* Nguyên nhân, tác hại và biện pháp khắc phục của ô nhiễm nguồn nước
Ô nhiễm nước sông Ô nhiễm nước biển
Nguyên
nhân
- Hóa chất từ các nhà máy, xí
nghiệp thải ra.
- Lượng phân bón hóa học và
thuốc trừ sâu dư thừa trên đồng
ruộng, cùng với các chất thải
nông nghiệp, sinh hoạt của con
người ………
- Do váng dầu từ hoạt động
khai thác và vận chuyển dầu.
- Các chất độc hại từ sông ngòi
chảy ra biển……
Hậu quả
- Làm chết ngạt các sinh vật
sống ở trong nước, thiếu nước
sạch cho sản xuất và đời sống.
- Làm chết ngạt các sinh vật
sống ở trong nước biển.
- Gây ra hiện tượng thủy triều
đen, thủy triều đỏ…
Biện pháp
- Nhóm 2, 4: Để giải quyết những vấn đề xã hội trong các đô thị, cần có những
giải pháp gì để giảm áp lực dân số ở các siêu đô thị?
+ GV treo lên bảng câu hỏi đã ghi sẵn vào bảng phụ
+ HS ghi câu trả lời vào bảng phụ. Sau đó đại diện nhóm báo cáo kết quả, các
nhóm khác bổ sung (nếu có).
- GV chuẩn xác kiến thức như sau:
* Thực trạng:
- Việc dân cư tập trung đông vào sống trong các đô thị lớn đã phát sinh nhiều vấn
đề nan giải: ô nhiễm môi trường, ùn tắc giao thông, diện tích canh tác bị thu hẹp
nhanh…
* Một số giải pháp tiến hành giải quyết:
- Nhiều nước tiến hành quy hoạch lại đô thị theo hướng “Phi tập trung”.
13
- Xây dựng nhiều thành phố vệ tinh
- Chuyển dịch các hoạt động công nghiệp, dịch vụ đến các vùng mới.
- Đẩy mạnh đô thị hóa nông thôn
3.2.3. Phương pháp trực quan
Là phương pháp mà GV sử dụng các phương tiện trực quan như: bản đồ,
biểu đồ, sơ đồ, tranh ảnh, băng hình….để dạy học và GDMT. Phương tiện trực
quan bao giờ cũng có hai chức năng: nguồn tri thức và đồ dùng minh hoạ. Hiệu
quả của phương pháp này phụ thuộc vào mục đích và chức năng sử dụng của GV
trong quá trình dạy học. Để liên hệ kiến thức bài học chính với kiến thức MT thì
việc sử dụng phương tiện trực quan cũng mang lại hiệu quả cao. Có hai cách sử
dụng phương tiện trực quan để liên hệ và GDMT:
- GV hướng dẫn HS khai thác kiến thức về môi trường và GDMT từ phương tiện
trực quan thông qua hệ thống câu hỏi gợi mở.
- GV dùng phương tiện trực quan để minh hoạ và chứng minh cho một hiện
tượng, một hậu quả về MT cần phải giáo dục.
Ví dụ 1: Bài 38: Bảo vệ tài nguyên sinh vật Việt Nam (Địa lí lớp 8)
Sau khi HS nhận thức được vai trò của rừng, và cũng biết được hiện nay rừng
kiến thức trong SGK chưa đủ và mang tính cập nhật nên việc thu thập và xử lí
thông tin là rất cần thiết.
Ví dụ : Khi dạy bài “Đặc điểm khí hậu Việt Nam” sau khi học xong bài này, GV
có thể cho HS về nhà(lên mạng, sách, báo, tivi…. ) tìm các sự kiện, số liệu nói lên
tính thất thất thường của khí hậu nước ta (các tư liệu, số liệu về các trận hạn hán,
lũ lụt, sương muối……). Hoặc khi dạy về những vấn đề kinh tế GV cũng có thể
liên hệ đến vấn đề MT thông qua việc yêu cầu HS thư thập những thông tin, số
liệu về môi trường như ô nhiễm dầu khí ở Vũng Tàu và ở một số nơi trên thế
giới…
3.2.5. Phương pháp dạy học giải quyết vấn đề
Là phương pháp trong đó GV đặt ra trước HS một hay một hệ thống vấn đề
nhận thức, đưa HS vào tình huống có vấn đề, sau đó GV phối hợp cùng HS
(hướng dẫn HS) giải quyết vấn đề, đi đến những kết luận cần thiết trong nội dung
học tập. Trong chương trình dạy học Địa lí có thể giáo dục môi trường cho HS
qua phương pháp này cụ thể qua ví dụ sau.
Ví dụ: Khi dạy bài “Các hệ thống sông lớn ở nước ta” Địa lí 8, đến phần những
thuận lợi và khó khăn do lũ mang lại ở đồng bằng sông Cửu Long, sau khi GV
cho HS nêu những thuận lợi và khó khăn do lũ mang lại ở đồng bằng sông Cửu
Long, GV có thể nêu câu hỏi sau: Lũ mang lại rất nhiều khó khăn cho đồng bằng
sông Cửu Long, nhưng tại sao ở đồng bằng sông Cửu Long lại có chủ trương
“sống chung với lũ?”. Sau khi HS giải quyết được vấn đề vừa nêu, GV đặt tiếp
câu hỏi: “Chúng ta cần có những biện pháp nào để hạn chế những khó khăn do lũ
gây ra?”
Trên đây là một số phương pháp để có thể áp dụng trong dạy học nội khóa
để GDMT cho HS, ngoài ra còn có nhiều phương pháp khác yêu cầu người giáo
viên trong quá trình giảng dạy cần có sự phối hợp linh hoạt nhiều phương pháp để
đạt hiệu quả cao nhất.
3.3. Giáo dục môi trường thông qua hoạt động ngoại khoá:
Trước tiên chúng ta cần hiểu khái niệm, tầm quan trọng của hoạt động ngoại
khóa trong dạy học Địa lí nói chung và đặc biệt là trong giáo dục môi trường qua
* Cho học sinh làm thí nghiệm: Cây giữ đất
- Thời gian: 2 tuần.
- Địa điểm: Ngoài trời (sân trường) hoặc trong phòng rộng.
- Dụng cụ:
+ 2 khay bằng gỗ kích thước 60cm x 30cm x 8cm (dùng gỗ tận dụng)
+ 2 chậu nước.
+ 2 bình phun nước (dùng chai nhựa rồi đục nhiều lỗ nhỏ)
+ Hạt giống (lúa, đậu, lạc….)
- Mục tiêu: Thông qua thí nghiệm này, học sinh hiểu được vai trò quan trọng của
cây, rừng trong việc giữ đất và chống xói mòn đất.
- Hoạt động:
16
+ Mỗi tổ HS chuẩn bị hai khay như trên, phía dưới đáy lót ni lông để nước không
bị thấm. Ở một cạnh (30 cm) dùng dao, cưa cắt một hình chữ V sâu 5 cm để nước
có thể chảy được.
+ Chuẩn bị thí nghiệm này trước 10 – 12 ngày. Dùng đất vườn đổ đầy vào mỗi
khay: nửa dưới là đất thường, nửa trên là đất màu. Một khay để không còn khay
kia dùng ươm các hạt giống như lúa, đậu, lạc… (càng nhiều loại càng tốt). Tưới
nước đều đặn 1 tuần cho khay có hạt giống nảy mầm cho tới khi cây cao khoảng 8
– 10 cm.
+ Đến thời gian qui định, HS các tổ đưa khay của mình đến lớp. GV nói rõ cho
HS biết khay không có cây tượng trưng cho vùng rừng đã bị phá trụi (đồi trọc),
khay có cây tượng trưng cho rừng còn xanh tốt.
+ GV yêu cầu HS quạt mạnh vào từng khay và cho nhận xét. (Đất ở khay không
có cây bị khô sẽ bay thành bụi rất nhiều)
+ Tiếp tục để hai khay nằm nghiêng ở 10 – 15
0
. Đặt hai chậu không ở phía dưới
gần vết xẻ hình chữ V ở mỗi khay, dùng hai bình đầy nước như nhau ( > 0,5 lít)
phun từ từ xuống hai khay và quan sát lượng nước thu được ở mỗi chậu hứng.
thơ sống trong một
thiên nhiên
hoang dã, giàu có.
Than phiền hiện
nay cây rừng,
chim, thú ngày
càng mất dần
6. Đề xuất: cần
phải khai phá
nhưng có mức độ
để các loài còn
sinh sôi, nảy nở
2. Lý giải: vì
người càng ngày
càng đông thì phải
thi nhau phá rừng
lấy gỗ, củi, săn bắt
các loại, chim,
thú
4.Phân trần: không
làm vậy thì lấy
tiền đâu nuôi cả
nhà và nuôi con ăn
học?
8. Tại sao nói khai
thác mà còn phải
bảo vệ, phải để
dành, phải có mức
độ?
18
- Địa điểm: Vườn trường.
- Hỗ trợ: cần có sự hỗ trợ của nhà trường (hoạt động trồng cây xanh này rất dễ
thực hiện ở khối 9, vì trước khi các em ra trường các em thường có món quà tặng
lưu niệm cho nhà trường nên kinh phí sẽ dễ dàng hơn)
- Hoạt động: (nên làm vào ngày chủ nhật)
+ Đào hố, bỏ phân vào hố, trồng cây, rào bảo vệ, tưới nước
+ Sau khi trồng xong, cần phân công cụ thể tổ, nhóm, lớp nào phụ trách việc tưới
nước, chăm sóc, bảo vệ vào các ngày nào trong tuần, đến khi cây bén rễ, bắt
đầu phát triển.
+ Bàn giao các cây trồng cho nhà trường.
* Thi hùng biện về bảo vệ môi trường (có thể kết hợp trong các tiết, buổi hoạt
động ngoài giờ lên lớp)
- Mục tiêu: Qua phần thi này học sinh có cơ hội biết, hiểu nhiều vấn đề mang tính
thời sự như bảo vệ rừng, bảo vệ tài nguyên và môi trường biển và đảo Việt Nam,
sự gia tăng dân số và sức ép của dân số đến môi trường Qua đó giáo dục cho
học sinh thấy được tầm quan trọng của bảo vệ môi trường hiện nay.
- Hoạt động:
+ Giáo viên: Lựa chọn chủ đề cho học sinh tham gia thi hùng biện, câu hỏi cụ thể
để các tổ, nhóm, lớp chuẩn bị trước.
+ Phải có giám khảo, ban cố vấn (có thể là những học sinh khá, giỏi hoặc giáo
viên chuyên trách bộ môn Địa lí)
3.4. Đánh giá trong giáo dục môi trường:
- Bất cứ một hoạt động, việc làm nào muốn biết kết quả đạt được ra sao đều cần
phải có sự đánh giá, việc đánh giá không chỉ nhằm mục đích ghi nhận thực trạng
mà còn làm cơ sở cho các hoạt động tiếp theo, đề xuất những giải pháp nhằm làm
thay đổi thực trạng. Do vậy, việc đánh giá phải khách quan, chính xác. Trên cơ sở
đó làm sáng tỏ thực trạng để điều chỉnh quá trình dạy học hợp lí. Như vậy việc
đánh giá người học phải đảm bảo các yêu cầu sau: Khách quan, chính xác, toàn
diện, có hệ thống, công khai kịp thời, vừa sức, bám sát yêu cầu của chương trình.
nội dung giáo dục và bảo vệ môi trường vào chương trình Địa lí và các môn
học khác ở bậc THCS cũng như các bậc học khác là một vấn đề hết sức cần
thiết vì giáo dục môi trường sẽ đem lại cho người học các vấn đề sau:
+ Hiểu biết bản chất của các vấn đề môi trường, tính phức tạp, quan hệ
nhiều mặt, nhiều chiều, tính hữu hạn của tài nguyên thiên nhiên và khả năng
chịu tải của môi trường, quan hệ chặt chẽ giữa môi trường và phát triển, giữa
môi trường địa phương, vùng, quốc gia với môi trường khu vực và toàn cầu.
+ Nhận thức được ý nghĩa, tầm quan trọng của các vấn đề môi trường như một
nguồn lực để sinh sống, lao động và phát triển của mỗi cá nhân, cộng đồng,
quốc gia và quốc tế. Từ đó có thái độ, cách ứng xử đúng đắn trước các vấn đề
về môi trường, xây dựng quan niệm đúng về ý thức trách nhiệm; có tri thức, kĩ
năng, phương pháp hành động để nâng cao năng lực lựa chọn phong cách
sống, thích hợp với việc sử dụng hợp lí và khôn ngoan các nguồn tài nguyên
thiên nhiên, có thể tham gia có hiệu quả vào việc phòng ngừa và giải quyết các
vấn đề môi trường cụ thể nơi sinh sống và làm việc.
Trên thế giới trẻ em chiếm tới gần một nửa dân số do đó các em có vai trò
tích cực trong việc bảo vệ môi trường. Cũng vì lẽ đó việc giáo dục môi trường
trong trường học nói chung và môn Địa lý nói riêng đã trở nên cấp bách hơn
bao giờ hết. Nội dung quan trọng nhất, thiết thực nhất là vấn đề “xanh hoá nhà
trường” và hiểu đầy đủ đó là xanh –sạch -đẹp trong nhà trường phổ thông: vận
20
động các em tham gia xây dựng bảo vệ trường lớp, vườn trường, vườn hoa,
công viên, cảnh quan nơi các em ở; có ý thức bảo vệ và vận động mọi người
cùng bảo vệ môi trường; đồng thời hình thành ở các em lòng yêu quê hương,
đất nước, yêu thích thiên nhiên, có ý thức bảo vệ thiên nhiên môi trường và
dần dần ý thức đó trở thành phong cách và nề nếp sống của học sinh.
2. Kiến nghị
- Nhà trường cần tạo điều kiện để tổ chức nhiều hoạt động ngoại khóa, có thể
cho tham quan thực tế, vì khi HS thấy được tận mắt thực trạng của môi trường
hiện nay thì tính giáo dục mang lại hiệu quả cao hơn.