LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Trong kinh doanh ngày nay, thanh toán quốc tế đang ngày trở nên phổ
biến. Những phương thức thanh toán truyền thống như tiền mặt đã dần được
thay thế bằng những phương thức thanh toán hiện đại hơn, nhanh chóng hơn.
Hãy thử hình dung nếu bạn có quan hệ đối tác làm ăn với các thương nhân
nước ngoài mà bạn không có các phương thức TTQT thì sẽ như thế nào? Hẳn
là không thể kinh doanh được. Sự phát triển của hoạt động TTQT gắn liền với
sự phát triển của hoạt động ngoại thương của một quốc gia. Mà ngày nay,
kinh doanh ngoại thương không ngừng phát triển. Vì vậy, nghiệp vụ TTQT ở
các NHTM cũng phải phát triển không ngừng. Những phương thức TTQT
ngày nay ngày càng nhiều. Tính tất yếu, những phương thức tiện lợi, an toàn,
nhanh chóng, thích hợp sẽ được các doanh nghiệp lựa chọn ngày càng nhiều.
Thế nên trong những năm gần đây ta thấy có sự chuyển dịch khỏ rừ giữa các
phương thức TTQT. Thông qua hoạt động TTQT, các NHTM có cơ hội
khẳng định vị thế của mỡnh trờn trường quốc tế, tăng thu nhập và phát triển
ổn định trong môi trường cạnh tranh gay gắt. Cùng với sự phát triển của đất
nước và hệ thống các NHTM thì ngân hàng thương mại cổ phần (TMCP) xuất
nhập khẩu Việt Nam - Eximbank cũng đã ra đời và không ngừng phát triển.
Trong những năm qua, hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu của Eximbank đã
được chú trọng phát triển, đóng góp một phần không nhỏ trong kết quả kinh
doanh chung của Ngân hàng. Để phù hợp với xu hướng thay đổi ấy,
Eximbank cũng phải không ngừng thay đổi để cung cấp cho khách hàng
những phương thức thanh toán tốt nhất, phù hợp với nhu cầu của khách hàng
nhất.
Xuất phát từ lý do đó mà em chọn đề tài: “Giải pháp nâng cao hiệu quả của
các phương thức TTQT tại Ngân hàng TMCP xuất nhập khẩu Việt Nam chi
1
nhánh Hà Nội” làm đề tài cho khóa luận tốt nghiệp. Bài này sẽ tập trung phân
tích xu hướng chuyển dịch giữa các phương thức TTQT trong hệ thống
NHTM nói chung và tại Eximbank chi nhánh Hà Nội nói riêng.
phương thức TTQT.
3
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ CÁC
PHƯƠNG THỨC THANH TOÁN QUỐC TẾ
1.1. Khái quát về Thanh Toán Quốc Tế:
1.1.1 Khái niệm:
Hoạt động TTQT được bắt nguồn từ hoạt động ngoại thương, và mục đích
chính của hoạt động TTQT là để hỗ trợ và phục vụ cho hoạt động xuất nhập
khẩu giữa các nước diễn ra một cách trôi chảy và hiệu quả. TTQT là khâu có
ý nghĩa cực kỳ quan trọng và nhiều khi là khâu quyết định đến hiệu quả và
tăng trưởng ngoại thương, bởi vì chỉ khi hoạt động thanh toán an toàn và trôi
chảy thì người bán mới thu được tiền và người mua mới trả được tiền, và đây
lại là cơ sở nền tảng bậc nhất khiến cho hoạt động xuất nhập khẩu tồn tại phát
triển. Quá trình buôn bán đó dẫn đến nhu cầu chi trả, thanh toán giữa các chủ
thể ở các nước khác nhau, từ đó hình thành và phát triển hoạt động TTQT,
trong đó ngân hàng là cầu nối trung gian giữa cỏc bờn.
Từ đó cho thấy: Thanh toán quốc tế là việc thực hiện các nghĩa vụ chi trả và
quyền hưởng lợi về tiền tệ phát sinh trên cơ sở các hoạt động kinh tế và phi
kinh tế giữa các tổ chức, cá nhân nước này với tổ chức, cá nhân nước khác,
hay giữa một quốc gia với tổ chức quốc tế, thông qua quan hệ giữa các ngân
hàng của các nước liên quan.
Đồng tiền được sử dụng trong TTQT thông thường là ngoại tệ mạnh, được tự
do chuyển đổi như đụla Mỹ, bảng Anh. Hiện nay, phần lớn việc chi trả trong
TTQT được thực hiện qua mạng SWIFT hoặc thông qua nhờ thu giữa các
ngân hàng, tỷ lệ chi trả bằng tiền mặt chiếm tỷ trọng không đáng kể.
1.1.2 Đặc điểm của hoạt động TTQT của NHTM:
4
- TTQT dung hòa và giải quyết các mâu thuẫn giữa các chủ thể tham gia vào
quá trình thanh toán. Tham gia vào TTQT các chủ thể bao gồm: người XK,
người NK, các ngân hàng có liên quan có nhiều mâu thuẫn cần được giải
nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ, đầu tư nước ngoài, thu hút kiều hối và các
quan hệ tài chính, tín dụng quốc tế khác. Hoạt động TTQT ngày càng được
khẳng định trong hoạt động kinh tế quốc dân nói chung và hoạt động kinh tế
đối ngoại nói riêng. TTQT là khâu quan trọng trong quá trình mua bán hàng
hóa, dịch vụ giữa các tổ chức, các cá nhân thuộc các quốc gia khác nhau. Nếu
không có hoạt động TTQT thì hoạt động kinh tế đối ngoại khó tồn tại và phát
triển được. Nếu hoạt động TTQT được nhanh chóng, an toàn, chính xác sẽ
giải quyết được mối quan hệ lưu thông hàng hóa – tiền tệ giữa người mua và
người bán một cách trôi chảy và hiệu quả.
Tóm lại hoạt động TTQT có vai trò quan trọng đối với phát triển kinh tế của
mỗi quốc gia; được thể hiện chủ yếu trờn cỏc mặt sau:
- Bôi trơn và thúc đẩy hoạt động XNK của nền kinh tế như một tổng thể.
- Bôi trơn và thúc đẩy hoạt động đầu tư nước ngoài trực tiếp và gián tiếp.
- Thúc đẩy hoạt động dịch vụ như du lịch, hợp tác quốc tế.
- Tăng cường thu hút kiều hối và các nguồn lực tài chính khác.
- Thúc đẩy thị trường tài chính quốc gia hội nhập quốc tế.
b. Đối với ngân hàng thương mại:
Trong hoạt động TTQT, các ngân hàng thương mại trở thành cầu nối trung
gian thanh toán giữa hai bên mua bán. Với vai trò trung gian thanh toán, các
ngân hàng tiến hành thanh toán theo yêu cầu của khách hàng nhằm đảm bảo
quyền lợi cho cả khách hàng và ngân hàng. Các ngân hàng sẽ tư vấn hướng
dẫn khách hàng những biện pháp kỹ thuật nghiệp vụ TTQT nhằm hạn chế rủi
ro, tạo sự tin tưởng cho khách hàng trong quan hệ giao dịch mua bán với nước
ngoài. Nếu ngân hàng cung cấp dịch vụ TTQT tốt thì sẽ tăng uy tín cho ngân
6
hàng cả với các doanh nghiệp trong nước và với nước ngoài. Từ đó, ngân
hàng sẽ có thể phát triển cả các dịch vụ kinh doanh khác của mình như: ngoại
hối, tín dụng…Trong quá trình TTQT, khách hàng không đủ năng lực về vốn
sẽ cần đến sự tài trợ của ngân hàng, ngân hàng sẽ thực hiện tài trợ XNK cho
khách hàng một cách chủ động và tích cực. Từ đó ngân hàng sẽ thu được các
người khỏc(người hưởng lợi) theo một địa chỉ nhất định và trong một thời
gian nhất định.
Có thể nói, chuyển tiền là phương thức đơn giản nhưng tiềm ẩn nhiều rủi ro.
Trong phương thức này, cỏc bờn tiến hành thanh toán trực tiếp với nhau, còn
ngân hàng chỉ đóng vai trò trung gian thanh toán theo ủy nhiệm để hưởng hoa
hồng và không bị ràng buộc trách nhiệm gì với người chuyển tiền và người
thụ hưởng.
Có hai hình thức chuyển tiền là:
- Chuyển tiền bằng thư: là hình thức chuyển tiền, trong đó lệnh thanh toán của
ngân hàng chuyển tiền được chuyển bằng thư cho ngân hàng trả tiền.
- Chuyển tiền bằng điện: là hình thức chuyển tiền, trong đó lệnh thanh toán
của ngân hàng chuyển tiền được thể hiện trong nội dung một bức điện gửi cho
ngân hàng trả tiền bằng telex hay mạng swift.
b. Các bên tham gia thanh toán:
- Người chuyển tiền hay người trả tiền(Remitter): Thường là nhà NK, người
mua, người nợ, nhà đầu tư…Người trả tiền là người yêu cầu ngân hàng
chuyển tiền ra nước ngoài.
- Người thụ hưởng(Beneficiary): là người XK, chủ nợ, người nhận vốn đầu
tư…do người chuyển tiền chỉ định.
- Ngân hàng chuyển tiền(Remitting bank): Là ngân hàng phục vụ người
chuyển tiền.
8
Ngân hàng trả tiền
(Paying bank)
Ngân hàng chuyển
tiền (Remitting
bank)
Người thụ hưởng
(Beneficiary)
Người chuyển
khõu thanh toán, giảm cỏc khõu giấy tờ phức tạp, việc thanh toán diễn ra
nhanh hơn, thúc đẩy quá trình thương mại quốc tế. Phương thức thanh toán
chuyển tiền chủ yếu được thực hiện dựa trên niềm tin vào đối tác. Vì vậy khi
phương thức thanh toán này được sử dụng nhiều chứng tỏ uy tín của các
doanh nghiệp tăng cao(cả uy tín thương mại và uy tín thanh toán).
e. Nhược điểm của phương thức thanh toán chuyển tiền:
Tuy đây là phương thức thanh toán rất đơn giản nhưng nó lại chứa ẩn nhiều
rủi ro nhất. Ngân hàng tham gia vào phương thức này chỉ với vai trò là trung
gian, không có nghĩa vụ gì đối với nhà NK và XK, việc có trả tiền hay không
phụ thuộc vào thiện chí của người mua. Mà người mua thỡ luụn muốn trì
hoãn việc thanh toán, chiếm dụng vốn. Người mua sau khi nhận hàng có thể
không tiến hành chuyển tiền hoặc cố tình dây dưa, kéo dài thời hạn chuyển
tiền nhằm chiếm dụng vốn của người bán, do đó, làm cho quyền lợi của người
bán không được đảm bảo. Nếu trong trường hợp người mua sẵn sàng trả tiền
nhưng do điều kiện về tình hình tài chính, phỏ sản…thỡ người bán sẽ bị mất
tiền mà không có nguồn thanh toán nào khác. Đây là một phương thức có lợi
hơn cho người mua nhưng lại bất lợi cho người bán.
1.2.2. Phương thức thanh toán nhờ thu:
a. Khái niệm:
10
Nhờ thu là phương thức thanh toán, theo đó, bên bán (nhà XK) sau khi giao
hàng hay cung ứng dịch vụ, ủy thác cho ngân hàng phục vụ mình xuất trình
bộ chứng từ thông qua ngân hàng đại lý cho bên mua( nhà NK) để được thanh
toán, chấp nhận hối phiếu hay chấp nhận các điều kiện và điều khoản khác.
Trong thương mại quốc tế, nhờ thu thực chất là quy trình thu hộ tiền từ người
mua trả cho người bán. Với sự giúp đỡ cần thiết, ngân hàng kiểm tra toàn bộ
các chứng từ để bảo đảm rằng các chứng từ là đầy đủ, nhưng không vì thế mà
ngân hàng phải chịu trách nhiệm về bất cứ một lỗi hay sai sót nào của chứng
từ. Sau khi nhà NK thanh toán hay chấp nhận thanh toán thì bộ chứng từ mới
được trao cho nhà NK để đi nhận hàng, nên phương thức nhờ thu mang nhiều
cho người NK không thông qua ngân hàng.
Quy trình nhờ thu trơn
(4)
(7)
(3) (8) (6) (5)
(1)
(2)
Bước 1: Ký kết hợp đồng mua bán, trong đó điều khoản thanh toán quy định
áp dụng phương thức nhờ thu phiếu trơn.
Bước 2: Người ủy thác (nhà XK) gửi hàng hóa và bộ chứng từ thương mại
trực tiếp cho người trả tiền (nhà NK).
Bước 3: Nhà XK gửi đơn yêu cầu nhờ thu cùng chứng từ thương mại cho
NHNT để thu tiền từ nhà NK.
12
NHNT
(Remitting bank)
NHTH
(Colleting bank)
Bước 4: NHNT lập và gửi lệnh nhờ thu cùng chứng từ tài chính tới NHTH để
thu tiền từ nhà NK.
Bước 5: NHTH thông báo lệnh nhờ thu để nhà NK:
- Trả tiền ngay (séc, kỳ phiếu hay hối phiếu trả ngay) hoặc
- Ký chấp nhận hối phiếu (hối phiếu kỳ hạn) hoặc
- Chấp nhận các điều kiện và điều khoản khác.
Bước 6: Nhà NK trả tiền ngay, hoặc chấp nhận trả tiền.
Bước 7: NHNT chuyển tiền nhờ thu, hoặc hối phiếu kỳ hạn đã chấp nhận cho
nhà XK.
Ưu điểm của nhờ thu phiếu trơn:
Đây cũng là một phương thức thanh toán khá đơn giản, không tốn nhiều chi
phí thanh toán. NHTM cũng chỉ đóng vai trò làm dịch vụ nhờ thu. Sử dụng
nhờ thu bao gồm:
Hoặc chứng từ thương mại cùng chứng từ tài chính; hoặc
Chỉ chứng từ thương mại (không có chứng từ tài chính).
NHTH chỉ trao bộ chứng từ cho nguời trả tiền khi người này đã trả tiền, chấp
nhận thanh toán hoặc thực hiện các điều kiện khác quy định trong Lệnh nhờ
thu.
Quy trình nhờ thu kèm chứng từ
(4)
(8)
(3) (9) (7) (6) (5)
(1)
(2)
Bước 1: Ký kết hợp đồng mua bán, trong đó điều khoản thanh toán quy định
áp dụng phương thức “Nhờ thu kèm chứng từ”.
Bước 2: Nhà XK gửi hàng hóa cho nhà NK.
Bước 3: Nhà XK lập Đơn yêu cầu nhờ thu gửi cùng bộ chứng từ (bao gồm
chứng từ thương mại cùng chứng từ tài chính, nếu có) tới NHNT.
14
Bước 4: NHNT lập Lệnh nhờ thu và gửi cùng bộ chứng từ tới NHTH.
Bước 5: NHTH thông báo Lệnh nhờ thu và xuất trình bộ chứng từ cho nhà
NK.
Bước 6: Nhà NK chấp hành Lệnh nhờ thu bằng cách:
- thanh toán ngay (hối phiếu trả ngay, séc hoặc kỳ phiếu); hoặc
- chấp nhận hối phiếu (hối phiếu kỳ hạn); hoặc
- ký phát hành kỳ phiếu hoặc giấy nhận nợ.
Bước 7: NHTH trao bộ chứng từ thương mại cho nhà NK.
Bước 8: NHTH chuyển tiền nhờ thu, hoặc hối phiếu chấp nhận, hoặc kỳ
phiếu hay giấy nhận nợ cho nhà XK.
Trong nhờ thu kèm chứng từ có hai loại chủ yếu là:
Nhờ thu D/P (Documents against payment): là điều kiện thanh toán trả tiền
- Đối với nhà xuất khẩu:
Trái với lệnh nhờ thu, NHTH trao bộ chứng từ hàng hóa cho nhà NK
trước khi người này thanh toán hay chấp nhận thanh toán. Điều này có thể xảy
ra nếu NHTH đặt mối quan hệ với khách hàng trong nước lên trên trách
nhiệm và nghĩa vụ của họ đối với khách hàng nước ngoài. Nếu điều này xảy
ra, thì nhà XK gặp rất nhiều khó khăn trong việc khiếu nại NHTH.
Nếu NHTH sai sót trong việc thực hiện Lệnh nhờ thu, thì hậu quả phát
sinh do nhà XK chịu, thậm chí ngay cả trong trường hợp nhà XK không liên
quan đến việc chỉ định NHTH.
Hàng hóa chỉ có thể được giao cho NHTH với sự đồng ý trước của
ngân hàng này. Ngoài ra, NHTH không chịu bất cứ trách nhiệm nào về việc
nhận hàng, lưu kho, mua bảo hiểm hay dỡ hàng hóa.
16
Nhà XK chịu mọi chi phí liên quan đến việc bảo vệ hàng hóa của ngân
hàng.
Nhà NK khước từ thanh toán hay chấp nhận thanh toán, trong khi hàng
hóa đã được gửi đi từ trước. Cho dù, nhà XK có thể kiện nhà NK theo các hợp
đồng đã ký, nhưng hành động này có thể kiện nhà NK theo các hợp đồng đã
ký, nhưng hành động này lại mất nhiều thời gian, trong khi đó, hàng hóa có
thể đã bốc dỡ và lưu kho.
Các ngân hàng chịu trách nhiệm về bất kỳ sự chậm trễ hay thất lạc
chứng từ nào.
- Đối với nhà NK:
Nhà NK có thể đứng trước rủi ro khi nhà XK lập bộ chứng từ giả hay cố tình
gian lận thương mại. Các ngân hàng không chịu trách nhiệm khi chứng từ là
giả mạo hay có sai sót, hoặc hàng hóa hay phương tiện vận tải không khớp
với chứng từ.
Sau khi ký chấp nhận thanh toán hối phiếu kỳ hạn, nhà NK có thể bị nhà XK
kiện ra tòa nếu không thanh toán khi hối phiếu đến hạn. Thậm chí nhà NK
không thể dùng các lý do chính đáng để bào chữa cho việc không thanh toán
điều kiện của L/C, bao gồm số loại, số lượng mỗi loại và nội dung chứng từ
phải đáp ứng được chức năng của chứng từ yêu cầu.
c. Các chủ thể tham gia thanh toán TDCT:
- Người yêu cầu mở L/C (Applicant): là người viết đơn yêu cầu mở L/C.
Thông thường là nhà NK, trách nhiệm của Applicant là hoàn trả ngân hàng
phát hành số tiền mà NHPH đã thanh toán khi tiếp nhận bộ chứng từ hoàn
hảo.
- Người hưởng (Beneficiary): là người hưởng giá trị L/C, Ben thường là nhà
XK, trách nhiệm của Ben là giao hàng theo L/C, Ben thường là nhà XK, trách
18
nhim ca Ben l giao hng theo L/C, xut trỡnh chng t theo quy nh ca
L/C.
- NHPH L/C: (Issuing Bank): l ngõn hng theo yờu cu ca ngi lm n
m L/C phỏt hnh th tớn dng.
- NHTB (Advising Bank): l ngõn hng tin hng thụng bỏo tớn dng theo yờu
cu ca ngan hng phỏt hng. Trỏch nhim ca NHTB l xỏc minh tớnh chõn
tht b ngoi ca th tớn dng.
- NHC (Negotiated Bank): l ngõn hng m ti ú L/C cú giỏ tr thanh
toỏn hoc chit khu. i vi L/C cú giỏ tr t do, thỡ bt k ngõn hng no
u cú th tr thnh NHC. Trỏch nhim kim tra chng t ca NHC l
ging nh NHPH khi nhn c b chng t.
- NHXN (Confirming Bank): l ngõn hng b sung s xỏc nhn ca mỡnh vo
L/C theo yờu cu hoc s y quyn ca NHPH.
- NHHT (Reimbursement Bank): l ngõn hng c ngõn hng phỏt hnh y
nhim thc hin thanh toỏn giỏ tr th tớn dng cho NHC thanh toỏn hay
chit khu. Ngõn hng bi hon thng tham gia trong trng hp gia
NHPH v NHC khụng cú quan h ti khon trc tip vi nhau.
d. Quy trỡnh thanh toỏn bng phng thc tớn dng chng t:
Quy trỡnh thanh toỏn L/C
(3)
đồng. Nếu không họ sẽ yêu cầu Ngân hàng chỉnh sửa theo đúng yêu cầu của
mình rồi mới tiến hành giao hàng.
Bước 6: Sau khi chuyển giao hàng hoá, người xuÊt khẩu tiến hành lập bộ
chứng từ thanh toán theo quy định của L/C và gửi đến Ngân hàng phát hành
thông qua Ngân hàng thông báo để yêu cầu được thanh toán. Ngoài ra, người
xuất khẩu cũng có thể xuất trình bộ chứng từ thanh toán cho Ngân hàng được
chỉ định thanh toán được xác định trong L/C.
Bước 7: Ngân hàng phát hành kiểm tra bộ chứng từ thanh toán nếu thấy phù
hợp với quy định trong L/C thì tiến hành thanh toán hoặc chấp nhận thanh
toán. Nếu Ngân hàng thấy không phù hợp thì sẽ từ chối thanh toán và trả hồ
sơ cho người xuất khẩu.
20
Bước 8: Ngân hàng phát hành giao lại bộ chứng từ thanh toán cho người xuất
khẩu và yêu cầu thanh toán.
Bước 9: Người phát hành kiểm tra lại bộ chứng từ và tiến hành hoàn trả tiền
cho ngân hàng.
đ. Các loại thư tín dụng: bao gồm L/C cơ bản và L/C đặc biệt.
L/C cơ bản gồm:
- Thư tín dụng có thể hủy ngang (Revocable L/C).
- Thư tín dụng không thể hủy ngang (Irrevocable L/C).
Các loại L/C đặc biệt:
- Thư tín dụng không hủy ngang có xác nhận (confirming Irrevocable L/C)
- Thư tín dụng không thể hủy ngang miễn truy đòi (Irrevocable without
recourse L/C)
- Thư tín dụng chuyển nhượng (Transferable L/C).
- Thư tín dụng tuần hoàn (Revoling L/C)
- Thư tín dụng giáp lưng (Back to back L/C)
- Thư tín dụng đối ứng (Reciprocal L/C)
- Thư tín dụng dự phòng (Stand by L/C)
- Thư tín dụng thanh toán dần (Defered payment L/C)
toàn đúng như ghi trên chứng từ. Như vậy, việc thanh toán L/C không hề căn
cứ vào tình hình thực tế của hàng hóa. Vì vậy trong thực tiễn thương mại
quốc tế, do diễn biến của thị trường, giá cả… mà L/C có thể bị lạm dụng trở
thành công cụ để từ chối nhận hàng, từ chối thanh toán và là công cụ để gian
lận và lừa đảo.
Ngoài ra, cũng do tính chất độc lập của L/C với hợp đồng nên bọn lừa đảo có
thể lợi dụng không giao hàng hoặc giao hàng không đúng, nhưng vẫn lập bộ
chứng từ phù hợp để thanh toán. Thực tế trên thế giới đã xảy ra không ít
trường hợp như thế.
22
1.3: Các nhân tố ảnh hưởng tới việc sử dụng các phương thức
thanh toán quốc tế tại NHTM:
1.3.1 Nhóm nhân tố khách quan:
a. Các chính sách vĩ mô của Nhà nước: Hoạt động TTQT của các ngân
hàng liên quan đến hoạt động ngoại thương nên tất yếu việc sử dựng cỏc
phương thức TTQT chịu ảnh hưởng của môi trường kinh tế trong nước. Các
chính sách vĩ mô của Nhà nước thể hiện ở sự lựa chọn chính sách đối ngoại
của quốc gia, nếu thiên về xu hướng bảo hộ mậu dịch sẽ gây khó khăn cản trở
hoạt động ngoại thương, ngược lại nếu thiên về xu hướng tự do hóa mậu dịch
sẽ tạo điều kiện cho ngoại thương phát triển, từ đó có ảnh hưởng rất lớn đến
hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, đến hoạt động TTQT của các
NHTM.
b. Sự phát triển của các doanh nghiệp XNK: Thanh toán quốc tế là một
dịch vụ đáp ứng nhu cầu kinh doanh của khách hàng, vì vậy yếu tố khách
hàng có ý nghĩa quan trọng đối với TTQT. Sự phát triển của hoạt động TTQT
gắn liền với sự phát triển của các doanh nghiệp XNK.
Uy tín, năng lực kinh doanh của doanh nghiệp cũng ảnh hưởng tới việc lựa
chọn các phương thức TTQT. Nếu một doanh nghiệp có tiềm lực tài chính, có
uy tín trên trường quốc tế thì sẽ sử dụng nhiều phương thức thanh toán
chuyển tiền hoặc nhờ thu hơn là phương thức thanh toán TDCT, và ngược lại.
c. Chính sách đối ngoại và chính sách phát triển dịch vụ của ngân hàng
thương mại:
Trong hoạt đông TTQT, sự hiểu biết, tin tưởng lẫn nhau giữa ngân hàng và
khách hàng là rất quan trọng, từ sự tin tưởng đó mà hoạt động TTQT diễn ra
thuận lợi hơn. Mà để có sự tin tưởng đó đòi hỏi ngân hàng phải có một chính
24
sách đối ngoại linh hoạt kịp thời, điều đó giúp ngân hàng có những mối quan
hệ tốt với khách hàng cũng như với các ngân hàng khác. Nếu một NHTM có
uy tín, hoạt động đa dạng và phong phú cả về quy mô lẫn chất lượng, sẽ thu
hút một số lượng lớn khách hàng đến với ngân hàng (cả trong nước và nước
ngoài) trong thực hiện các nghiệp vụ bảo lãnh thanh toán cho khách hàng,
đồng thời các ngân hàng và đối tác nước ngoài sẽ tin tưởng lựa chọn ngân
hàng để giao dịch.
d. Mạng lưới ngân hàng đại lý:
Mạng lưới ngân hàng đại lý rộng khắp trên thế giới giúp cho việc giao dịch và
thanh toán ra nước ngoài được thực hiện nhanh chóng, đúng địa chỉ, giảm bớt
chi phí và giảm thiểu rủi ro, thuận tiện trong việc liên lạc, tra soỏt cỏc giao
dịch TTQT. Hệ thống ngân hàng đại lý và chọn ngân hàng nào làm ngân hàng
đại lý cũng ảnh hưởng tới việc lựa chọn phương thức thanh toán nào cho phù
hợp. Nhờ việc thiết lập mạng lưới ngân hàng đại lý, các giao dịch TTQT của
ngân hàng không phải qua trung gian, giúp khách hàng tiết giảm chi phí và
thời gian, nhờ đó đảm bảo được hiệu quả kinh doanh của khách hàng.
e. Chính sách tỷ giá của NHTM:
Mỗi ngân hàng đều xây dựng cho mình một chính sách tỷ giá dựa trên chính
sách tỷ giá của NHNN. Hiện nay, chính sách tỷ giá cũng là một công cụ cạnh
tranh được trong TTQT. Thị trường tỷ giá không ngừng biến đổi, trong
TTQT, một sự thay đổi nhỏ của tỷ giá cũng sẽ ảnh hưởng tới các doanh
nghiệp XNK. Tùy tình hình kinh doanh của ngân hàng mà mỗi ngân hàng sẽ
có chính sách tỷ giá phù hợp. Ngân hàng nào có chính sách tỷ giá ổn định, có
lợi cho khách hàng thì sẽ được khách hàng lựa chọn nhiều. Sử dụng các