LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
DNVVN được coi “xương sống” của nền kinh tế thị trường hiện nay. Báo
cáo đánh giá khu vực DNVVN đã có những “đóng góp quan trọng vào tốc độ
tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của cả nước, đẩy nhanh chuyển dịch
lao động từ sản xuất nông nghiệp sang sản xuất công nghiệp- tiểu thủ công
nghiệp ở các địa phương, khơi dậy nhiều ngành nghề truyền thống ở nông thôn
và miền núi, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa”. Đáng chú ý là các DNVVN đang
tạo công ăn việc làm cho gần ba triệu lao động, đóng góp hơn 40% GDP, chiếm
tỷ trọng 29% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước, đóng góp gần 15% tổng
thu ngân sách Nhà nước.
Theo cục phát triển doanh nghiệp- Bộ kế hoạch và đầu tư, cả nước hiện
nay có 453.800 DNVVN, chiếm 97% tổng số doanh nghiệp trên cả nước.Các
DNNVV hoạt động trong tất cả các lĩnh vực, ngành nghề kinh tế đồng thời có
những đóng góp quan trọng vào tình hình kinh tế chính trị xã hội của đất nước.
Việc tăng mạnh về số lượng doanh nghiệp cũng kéo theo sự nảy sinh của hàng
loạt các vấn đề khác như nhân công, nguyên vật liệu, thị trường và đặc biệt là
nhu cầu về vốn kinh doanh mà trong đó tín dụng ngân hàng là một kênh rất quan
trọng có ảnh hưởng tiên quyết tới sự tồn tại và phát triển của các doanh
nghiệp.Khó khăn của các DNVVN hiện nay là:
Thứ nhất, DNVVN thường có quy mô nhỏ, địa bàn hoạt động hẹp, có khi
chỉ trong phạm vi vài xã chứ chưa đến một huyện nên kênh lập dự án để thuê đất
của Nhà nước để làm mặt bằng sản xuất cũng không đủ điều kiện để đáp ứng.
Thứ hai,về vốn và chính sách vay. Do tình hình tài chính chung của nước
ta đang khó khăn nên các ngân hàng thương mại đã hạn chế các món vay trung
và dài hạn mà quan tâm nhiều đến món vay ngắn hạn với luận điểm là quay
vòng vốn nhanh hơn và tích lũy được cho xã hội. Trong khi đó, đa phần các
DNVVN không thể vay ngắn hạn được. Rõ ràng điều đó đang làm DNVVN vốn
đã yếu càng thêm khó.
Thứ ba, tính minh bạch của các chính sách chưa cao.
Thứ tư, thời gian chi phí không chính thức cũng là một thách thức. Rất
- Phạm vi nghiên cứu: Chi nhánh Eximbank Long Biên
- Thời gian nghiên cứu: 2007 - 2009
5.Phương pháp nghiên cứu:
Chuyên đề có sử dụng một số biện phương pháp nghiên cứu là: Phương
pháp duy vật biện chứng, duy vật lịch sử kết hợp với phương pháp thống kê,so
sánh, tổng hợp, phân tích.
6.Kết cấu của chuyên đề:
Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, nội dung của chuyên đề gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về DNVVN và vấn đề chung về tín dụng đối với
Doanh nghiệp vừa và nhỏ của Ngân hàng Thương Mại.
Chương 2:Thực trạng chất lượng tín dụng đối với DNVVN tại Chi nhánh
Eximbank Long Biên.
Chương 3: Một số giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng đối với
DNVVN tại Chi nhánh Eximbank Long Biên.
Do kiến thức còn hạn chế, trình độ hiểu biết chưa rộng, thời gian nghiên
cứu còn hạn hẹp nên chuyên đề không thể tránh khỏi những thiếu sót rất mong
thầy, cô thông cảm.
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI
DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ
1.1. Khái quát về doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.1. Khái niệm về doanh nghiệp vừa và nhỏ
Theo luật Doanh nghiệp Việt Nam 2005, doanh nghiệp là tổ chức kinh tế
có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh
theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh
doanh
Các loại hình doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường rất đa dạng và
phong phú, có thể phân loại các doanh nghiệp theo các tiêu chí sau :
Thứ nhất: dựa vào quan hệ sở hữa về vốn và tài sản, các doanh nghiệp
được chia thành Doanh nghiệp Nhà nước, Doanh nghiệp tư nhân, Doanh nghiệp
điều kiện kinh tế xã hội cụ thể của từng nước và nó cũng thay đổi theo từng thời
kỳ, từng giai đoạn phát triển kinh tế. Cụ thể, trong hơn 10 năm qua, Việt Nam đã
có 3 lần thay đổi tiêu chí về Doanh nghiệp nhỏ và vừa để có các chính sách hỗ
trợ phù hợp hơn cho các đối tượng doanh nghiệp này. Ngày 20/6/1998, theo
công văn số 681/CP – KTN của Chính phủ v/v định hướng chiến lược và chính
sách phát triển các Doanh nghiệp vừa và nhỏ thì doanh nghiệp vừa và nhỏ là
doanh nghiệp có số công nhân dưới 200 người và vốn kinh doanh dưới 5 tỉ
đồng.
Tới ngày 23/11/2001, theo Nghị định số 90/2001/NĐ – CP, tiêu chí
doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký theo
pháp luật hiện hành, có vốn đăng ký không quá 10 tỉ đồng, hoặc số lao động
trung bình hằng năm không quá 300 người”.
Ngày 30/6/2009 vừa qua, Chính phủ đã ban hành Nghị định số
56/2009/NĐ-CP về trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nghị định số
56/2009/NĐ-CP được ban hành để trợ giúp phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Nghị Định này đã nêu: “Doanh nghiệp nhỏ và vừa là cơ sở kinh doanh đã đăng
ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành ba cấp: siêu nhỏ, nhỏ,
vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản
được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động
bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên).
Bảng 1.1: Tiêu chí phân chia DNVVN theo qui mô và khu vực ở nước
ta theo Nghị định số 56/2009/NĐ-CP
Quy môKhu vực
Doanh
nghiệp siêu nhỏ
Doanh nghiệp
xây dựng
10 người trở
xuống
20 tỷ
đồng trở
xuống
Từ trên 10
người đến
200 người
Từ trên 20
tỷ đồng đến
100 tỷ đồng
Từ trên 200
người đến
300 người
III. Thương
mại và dịch
vụ
10 người trở
xuống
10 tỷ
đồng trở
xuống
Từ trên 10
người đến
50 người
Từ trên 10
tỷ đồng đến
50 tỷ đồng
Từ trên 50
DNNVV có khả năng chuyển hướng kinh doanh và chuyển hướng mặt hàng
nhanh. Mặt khác, do DNNVV tồn tại ở mọi thành phần kinh tế. Sản phẩm của
các DNNVV đa dạng phong phú nhưng số lượng không lớn nên chỉ cần không
thích ứng được với nhu cầu của thị trường, với loại hình kinh tế - xã hội này thì
nó sẽ dễ dàng hơn các doanh nghiệp có quy mô vốn lớn trong việc chuyển
hướng sang loại hình khác cho phù hợp với thị trường.
- Năng lực kinh doanh còn hạn chế. Do quy mô vốn nhỏ nên các
DNNVV không có điều kiện đầu tư quá nhiều vào nâng cấp, đổi mới máy móc,
mua sắm thiết bị công nghệ tiên tiến, hiện đại. Việc sử dụng các công nghệ lạc
hậu dẫn đến chất lượng sản phẩm không cao, tính cạnh tranh trên thị trường
kém. DNNVV cũng gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm, thâm nhập thị
trường và phân phối sản phẩm do thiếu thông tin về thị trường, công tác
marketing còn kém hiệu quả. Điều đó làm cho các mặt hàng của DNNVV khó
tiêu thụ trên thị trường.
- Năng lực quản lý còn thấp: Đây là loại hình kinh tế còn non trẻ nên
trình độ, kỹ năng của nhà lãnh đạo doanh nghiệp cũng như của người lao động
còn hạn chế. Số lượng DNNVV có chủ doanh nghiệp, giám đốc giỏi, trình độ
chuyên môn cao và năng lực quản lý tốt chưa nhiều. Mặt khác, DNVVN ít có
khả năng thu hút được những nhà quản lý và lao động có trình độ, tay nghề cao
do khó có thể trả lương cao và có các chính sách đãi ngộ hấp dẫn để thu hút và
giữ chân họ.
1.1.3. Vai trò của các Doanh nghiệp vừa và nhỏ trong nền kinh tế thị trường
1.1.3.1. DNVVN đóng góp đáng kể vào GDP của nước ta, có vai trò thu hút
lượng lao động lớn
Theo Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI), hiện nay
Việt Nam có gần 453.800 doanh nghiệp, 97% trong số đó là DNVVN, hàng năm
đóng góp khoảng 40% GDP của cả nước, thu hút 50% tổng số lao động.Như vậy
do sự phân bố rộng rãi và đa dạng trong các ngành nghề kinh doanh thương mai,
dịch vụ, sản xuất hàng hóa , DNVVN đã thu hút số lượng lao động lớn, tạo
công ăn việc làm cho xã hội với chi phí đầu tư thấp, tăng thu nhập đảm bảo đời
này sẽ giúp các DN lớn giảm được các chi phí do biến động thị trường,tiết kiệm
chi phí vận chuyển, bảo quản hàng hóa, nhờ đó tập trung vào sản xuất.
1.1.3.5. DNVVN ra đời và phát triển đã làm nền kinh tế phát triển năng động
hơn, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế của đất nước
Các DNNN không còn đảm nhiệm hầu hết các lĩnh vực kinh tế, ngành
nghề kinh doanh nữa mà thay vào đó là DNVVN xuất hiện trên mọi ngành nghề,
lĩnh vực sản xuất, thương mại, dịch vụ.Đặc biệt có một số lĩnh vực mà DNVVN
đã chiếm tỉ trọng lớn như:sản xuất lương thực thực phẩm,nuôi trồng thủy sản,
sản xuất hàng thủ công truyền thống. Ngoài ra các DNVVN còn thúc đẩy quá
trình đô thị hóa, tập trung dân cư vào các vùng trọng điểm.Từ đó thúc đẩy sự
cạnh tranh làm cho nền kinh tế trở nên năng động hơn, buộc các DN nói chung
phải đổi mới,nhạy bén để đáp ứng nhu cầu trên thị trường và góp phần chuyển
dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá hiện đại hoá của đất nước.
Như vậy, có thể khẳng định vị trí và vai trò to lớncủa các DNVVN, đồng
thời việc chú trọng phát triển các DNVVN là một trong những hướng chiến lược
quan trọng trong quá trình đất nước CNH-HĐH.Tuy nhiên vấn đề thiếu vốn để
thực hiện SXKD, mở rộng qui mô đang là vấn đề khó khăn của DNVVN nên
trong thời gian này Chính phủ, cũng như các tổ chức tài chính trung gian cần có
những chính sách ưu đãi hợp lí để vốn tín dụng đến được với các DNVVN.
1.2. Tín dụng ngân hàng đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.2.1. Khái niệm tín dụng ngân hàng
Tín dụng “credit” xuất phát từ chữ la tinh là “credo” có nghĩa là tin
tưởng, tín nhiệm.Trong thực tế thì tín dụng được hiểu theo nhiều nghĩa khác
nhau,tùy theo từng bối cảnh cụ thể mà tín dụng có nội dung riêng.
Nếu xem xét tín dụng như là một chức năng cơ bản của ngân hàng thì
Tín dụng ngân hàng được hiểu là một giao dịch về tài sản(tiền hoặc hàng
hóa) giữa bên cho vay là ngân hàng và bên đi vay là cá nhân,doanh nghiệp,
các chủ thể khác, trong đó ngân hàng chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử
dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách
nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn.
- Cho thuê: gồm 2 loại là cho thuê vận hành và cho thuê tài chính.Tài sản
cho thuê bao gồm bất động sản và động sản.
1.2.3.2. Phân loại theo thời hạn tín dụng
- Tín dụng ngắn hạn: là khoản tín dụng có thời hạn đến 12 tháng và
được sử dụng để bổ sung sự thiếu hụt tạm thời vốn lưu động của doanh nghiệp,
nó có thể được vay cho những sinh hoạt cá nhân.
- Tín dụng trung hạn: là khoản tín dụng có thời hạn từ trên 12 tháng
đến 5 năm. loại tín dụng này thường dùng để cung cấp, mua sắm tài sản cố định,
cải tiến và biến đổi kỹ thuật, mở rộng và xây dựng công trình nhỏ có thời hạn
thu hồi vốn nhanh.Ngoài ra, cho vay trung hạn còn là nguồn hình thành vốn lưu
động thường xuyên cho các doanh nghiệp.
- Tín dụng dài hạn: là khoản tín dung có thời gian từ 5 năm trở lên và
thời hạn tối đa có thể lên đến 20-30 năm,cá biệt có thể lên đến 40 năm. Loại tín
dụng này dùng để cung cấp vốn cho xây dựng cơ bản như: Đầu tư xây dựng các
xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng, cải tiến và mở rộng sản xuất
có quy mô lớn
1.2.3.3. Phân loại theo mức độ tín nhiệm đối với khách hàng
- Cho vay không bảo đảm: là loại cho vay không cần tài sản thế chấp,
cầm cố hoặc sự bảo lãnh của người thứ ba. Việc cho vay chỉ dựa trên uy tín. Đối
với những khách hàng tốt, trung thực trong kinh doanh, có khả năng tài chính
mạnh, quản trị có hiệu quả thì Ngân hàng có thể cấp tín dụng mà không đòi hỏi
nguồn thu nợ bổ xung.
- Cho vay có bảo đảm: là loại cho vay được Ngân hàng cung cấp với điều
kiện phải có tài sản thế chấp hoặc cần có bảo lãnh của bên thứ ba.Sự bảo đảm
này căn cứ pháp lý để Ngân hàng có thêm một nguồn thứ hai, bổ xung cho
nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn nhằm bù lại khoản tiền vay trong trường
hợp người vay không có khả năng trả nợ.
1.2.3.4. Phân loại theo phương thức hoàn trả tiền vay
- Cho vay có thời hạn: là loại vay có thỏa thuận thời hạn trả nợ cụ thể theo
hợp đồng như: cho vay phi trả góp, cho vay trả góp, cho vay hoàn trả nợ nhiều
Nguồn vốn bên trong thể hiện khả năng tự tài trợ của DN bao gồm vốn chủ sở
hữu bỏ ra đầu tư ban đầu và một phần nguồn vốn từ chính hoạt động của bản
thân DN. Ưu điểm cơ bản của nguồn vốn này là chi phí huy động vốn thấp, vốn
thuộc sở hữu của doanh nghiệp nên chủ đầu tư có toàn quyền chủ động quyết
định sử dụng chúng mà không gặp phải bất cứ một sự cản trở nào, chi phí cơ hội
thấp do đó an toàn hơn cho chủ đầu tư trong quá trình đầu tư. Tuy nhiên nếu gia
tăng quá lớn tỷ lệ tài trợ từ nguồn nội bộ thì có thể dẫn đến một số bất lợi cơ bản
sau đây: làm suy giảm khả năng tài chính hiện tại của công ty do đó có thể sẽ
ảnh hưởng đến toàn bộ các hoạt động khác của công ty. Tiếp theo nó sẽ làm
giảm tỷ suất sinh lợi vốn tự có của doanh nghiệp, vì nếu sử dụng đầu tư vào dự
án trong hiện tại thì thu được lợi nhuận trong tương lai với thời gian khá dài, do
đó làm giảm tỷ suất sinh lợi, điều này trực tiếp ảnh hưởng đến tỷ suất lợi nhuận
trên cổ phần của cổ đông…
Điều đó đòi hỏi các DNVVN phải huy động tìm kiếm nguồn vốn từ bên
ngoài DN có thể là vay vốn Ngân hàng, thuê tài chính, vay của bạn bè người
thân hay đối tác, gọi vốn liên doanh liên kết, phát hành chứng khoán hoặc thu
hút vốn thông qua sáp nhập DN, cổ phần hoá DN.Trong vòng 2 năm gần
đây,nhiều DN niêm yết đã khá thành công trong việc tăng vốn và phát hành trái
phiếu chuyển đổi. Sang năm 2010, thị trường chứng khoán (TTCK) sẽ tiếp tục
đóng góp vai trò cơ bản là kênh huy động vốn hiệu quả cho DN.Tuy nhiên do
mức độ phức tạp của thị trường này,với một quy mô quá nhỏ và vốn hóa thị
trường thấp như vậy, đã tạo cơ hội cho một nhóm nhà đầu tư tập trung mua bán
và làm giá trên cổ phiếu đó làm cho một môi trường đầu tư không được an toàn,
tiềm ẩn rủi ro cho những nhà đầu tư thiếu kinh nghiệm, không tạo niềm tin cho
nhà đầu tư bỏ vốn vào TTCK cho các DNVVN…
Do đó, trong các kênh huy động vốn thì vốn tín dụng từ các NHTM là
dễ dàng tiếp cận đối với DNVVN hơn cả.Với tư cách là trung tâm tín dụng,các
NHTM thu hút, tập trung mọi nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong xã hội để đáp
ứng yêu cầu vốn cho các doanh nghiệp thực hiện tái sản xuất mở rộng và bù đắp
thiếu hụt vốn tự có trong chu kì sản xuất kinh doanh liên tục của DN.
doanh của NHTM.
Khi nghiên cứu chất lượng tín dụng đối với DNVVN, khách hàng của
NHTM trong quan hệ tín dụng. Chất lượng tín dụng đối với DNVVN là một khái
niệm phản ánh khả năng mở rộng tài trợ ( cho vay, thuê mua ) của Ngân hàng
phù hợp với nhu cầu của các DNVVN, đảm bảo sự tồn tại và phát triển của
Ngân hàng cũng như đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế xã hội. Khi các khoản
tài trợ được khách hàng sử dụng đúng mục đích, khách hàng trả được đầy đủ nợ
gốc và lãi đúng hạn cho Ngân hàng còn khách hàng bù đắp được chi phí và có
lợi nhuận thì khoản tín dụng đó được xem là có chất lượng tốt. Như vậy, Ngân
hàng không những tạo hiệu quả kinh tế cho các DN, cho mình mà còn đem lại
hiệu quả xã hội.
1.3.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng đối với các DNVVN
1.3.2.1. Các chỉ tiêu định tính
* Nguyên tắc vay vốn
-Sử dụng vốn vay đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng
-Vốn vay phải được hoàn trả cả gốc và lãi đúng thời hạn đã cam kết trong
hợp đồng
* Các điều kiện để khách hàng được vay vốn tại ngân hàng
-Khách hàng phải có đủ tư cách pháp lý
-Vốn vay phải được sử dụng hợp pháp
-Khách hàng có năng lực tài chính lành mạnh đủ để đảm bảo hoàn trả tiền
vay đúng hạn đã cam kết.
- Khách hàng phải có phương án, dự án khả thi và hiệu quả
-Khách hàng phải thực hiện đảm bảo tiền vay theo qui định
* Qui trình thẩm định
Qui trình thẩm định là chỉ tiêu định tính quan trọng quyết định chất lượng
khoản vay vì thông qua quá trình thẩm định, ngân hàng có thể nắm bắt được
thông tin về tình hình tài chính, khả năng trả nợ…của khách hàng từ đó đưa ra
quyết định cho vay cuối cùng hay là không cho vay.
* Mức độ thỏa mãn nhu cầu của khách hàng
trong một khoảng thời gian nhất định.Doanh số cho vay lớn cần đi cùng với
doanh số thu nợ cao thì khả năng thu hồi vồn và thu lãi của ngân hàng mới
cao,tức chất lượng tín dụng là tốt.
-Mức tăng DSTN DNVVN phản ánh việc tổ chức, quản lí khoản vay cũng
như công tác thu nợ của ngân hàng là tốt hay không
Mức tăng DSTN DNVVN = Tổng DSTN DNVVN năm(t) – năm(t-1)
-Tỷ lệ tăng DSTN đối với DNVVN phản ánh tốc độ thay đổi của doanh số
thu nợ đối với DNVVN năm nay so với năm trước là bao nhiêu
Mức tăng DSTN đối với DNVVN
Tỷ lệ tăng DSTN = x100%
DNVVN Tổng DSTN đối với DNVVN năm(t-1)
- Tỷ trọng DSTN đối với DNVVN phản ánh sự thay đổi của doanh số thu
nợ đối với DNVVN trên tổng doanh số thu nợ của hoạt động tín dụng
Tổng DSTN đối với DNVVN
Tỷ trọng DSTN DNVVN = x100%
Tổng DSTN của hoạt động tín dụng
* Chỉ tiêu về dư nợ của DNVVN
Dư nợ của DNVVN là số tiền mà Ngân hàng hiện đang còn cho DN vay
tại một thời điểm nhất định, thường xem xét ở thời điểm cuối kỳ. Đây là số tuyệt
đối thể hiện quy mô cho vay tới các DN tại một thời điểm nhất định
-Tỷ trọng dư nợ cho vay DNVVN cho biết dư nợ cho vay DNVVN chiếm
bao nhiêu phần trăm trên tổng dư nợ cho vay.
Dư nợ cho vay DNVVN
Tỷ trọng dư nợ cho vay
DNVVN = x100%
Tổng dư nợ cho vay
-Tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng phản ánh mức độ thay đổi dư nợ tín
dụng đối với DNVVN năm nay so với năm trước là bao nhiêu
Mức tăng dư nợ đối với DNVVN
Tổng lợi nhuận
Chương 2
THỰC TRẠNG CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG ĐỐI VỚI DOANH
NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NHTM CỔ PHẦN XUẤT NHẬP KHẨU
VIỆT NAM CHI NHÁNH LONG BIÊN
2.1.Khái quát về chi nhánh NHTM cổ phần xuất nhập khẩu Việt Nam Long
Biên
2.1.1.Lịch sử hình thành và hoạt động của chi nhánh NHTM cổ phần xuất
nhập khẩu Việt Nam Long Biên
Eximbank được thành lập vào ngày 24/05/1989 theo quyết định số
140/CT của Chủ Tịch Hội Đồng Bộ Trưởng với tên gọi đầu tiên là Ngân hàng
Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Vietnam Export Import Bank), là một trong những
Ngân hàng thương mại cổ phần đầu tiên của Việt Nam.
Ngân hàng đã chính thức đi vào hoạt động ngày 17/01/1990. Ngày
06/04/1992, Thống Đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ký giấy phép số 11/NH-
GP cho phép Ngân hàng hoạt động trong thời hạn 50 năm với số vốn điều lệ đăng
ký là 50 tỷ đồng VN tương đương 12.5 triệu USD với tên mới là Ngân hàng
Thương Mại Cổ Phần Xuất Nhập Khẩu Việt Nam (Vietnam Export Import
Commercial Joint - Stock Bank), gọi tắt là Vietnam Eximbank. Đến nay vốn điều
lệ của Eximbank đạt 8.800 tỷ đồng. Vốn chủ sở hữu đạt 13.627 tỷ đồng.
Eximbank hiện là một trong những Ngân hàng có vốn chủ sở hữu lớn nhất trong
khối Ngân hàng TMCP tại Việt Nam. Ngân hàng TMCP Xuất Nhập Khẩu Việt
Nam có địa bàn hoạt động rộng khắp cả nước với Trụ Sở Chính đặt tại TP. Hồ
Chí Minh và 124 Chi nhánh, phòng giao dịch được đặt tại Hà Nội, Đà Nẵng, Nha
Trang, Cần Thơ, Quảng Ngãi, Vinh, Hải Phòng, Quảng Ninh, Đồng Nai, Bình
Dương, Tiền Giang, An Giang, Bà Rịa- Vũng Tàu, Đắc Lắc, Lâm Đồng và
TP.HCM. Đã thiết lập quan hệ đại lý với hơn 750 Ngân hàng ở tại 72 quốc gia
trên thế giới.
Eximbank Long Biên được được thành lập ngày 13/8/2004 với một chi
Dịch vụ tài chính trọn gói hỗ trợ du học.Tư vấn đầu tư-tài chính-tiền tệ
Dịch vụ đa dạng về Địa ốc
Các dịch vụ khác: Bồi hoàn chi phiếu bị mất cắp đối với trường hợp
Thomas Cook Traveller' Cheques, thu tiền làm thủ tục xuất cảnh…
2.1.3.Cơ cấu tổ chức của chi nhánh Eximbank Long Biên
Sơ đồ 2.1: Cơ cấu tổ chức của chi nhánh Eximbank Long Biên
(Nguồn: Phòng tín dụng tổng hợp chi nhánh Eximbank Long Biên)
2.1.4.Khái quát tình hình hoạt động kinh doanh tại chi nhánh Eximbank
Long Biên
2.1.4.1.Hoạt động huy động vốn
Bảng 2.1: Hoạt động huy động vốn của Eximbank Long Biên
Hoạt động huy động vốn luôn là một hoạt động quan trọng của các ngân
hàng thương mại.Nó đảm bảo nguồn vốn thường xuyên, liên tục hoạt động của
ngân hàng, cung cấp nguồn cho hoạt động tín dụng và là một hoạt động không
GIÁM ĐỐC
PHÓ GIÁM ĐỐC
Phòng
ngân quỹ
hành
Phó Phòng Trưởng Phòng Trưởng Phòng Trưởng Phòng Phó Phòng quyền
Trưởng phòng
Kiểm soát
viên(2)
(1)
Phó Phòng (1) Phó Phòng (1) Phó Phòng (1)
Kiểm soát
viên(1)
Kiểm soát
viên(2)
(2)
Tỷ
trọng
(
%)
Số
tiền
Tỷ
trọng
Số
tiền
Tỷ
trọng
2008/2007 2009/2008
Số tiền %
Số
tiền %
Tổng
nguồn
vốn huy
động 479.79 100 461.3 100 683.6 100 -18.49 -3.853 222.3 48.19
1.Theo
thời hạn
-TG
không
kì han 81.7
17.0
3 95.3
20.6
6 137.93