Mục lục
Phần I : Mở đầu
I. Lý do chọn đề tài
II. Mục đích nghiên cứu
III. Khách thể và đối tợng nghiên cứu
IV. Giả thiết khoa học
V. Nhiệm vụ nghiên cứu
VI. Giới hạn của đề tài
VII. Phơng pháp nghiên cứu
Phần II: Nội dung nghiên cứu
Chơng I: cơ sở lý luận
I. Cơ sở lý luận của việc giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá
II. Thực tiễn của việc giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ
mẫu giáo
Chơng II: Một số biện pháp giáo dục hành vi giao tiếp
có văn hoá cho trẻ mẫu giáo nhỡ 4 - 5 tuổi
Một số biện pháp nâng cao hiệu quả giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho
trẻ mẫu giáo nhỡ
Chơng III: Thực nghiệm và phân tích thực nghiệm
(kết quả đánh giá thực nghiệm)
Phần III. Kết luận và những kiến nghị
1
Phần I : Mở đầu
I. Lý do chọn đề tài :
Đất nớc ta bớc sang một thiên niên kỷ mới, một thời kỳ đổi mới nền kinh
tế xã hội đòi hỏi phải có con ngời mới xã hội chủ nghĩa - đó là những con ngời
có nhận thức đúng đắn, có quan điểm sống tích cực để điều chỉnh hành vi của
mình cho phù hợp với xã hội.
Giáo dục mầm non là nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân, đối tợng
của giáo dục mầm non là trẻ em từ 0 đến 6 tuổi. Đây là một thực thể tự nhiên, bớc
đầu vào xã hội, dần dần trở thành ngời, trở thành con ngời có ích cho xã hội, chiến
huyện Yên Thuỷ - Hoà Bình
III. khách thể nghiên cứu
1. Khách thể nghiên cứu:
Giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ mầm non
2. Đối tợng nghiên cứu:
Một số biện pháp giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ mẫu giáo
nhỡ.
IV. giả thiết khoa học
Để nâng cao hiệu quả giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ mẫu
giáo nhỡ, giáo viên mầm non cần động viên khuyến khích trẻ tham gia tích cực
vào các hoạt động và giao tiếp bằng cách phối hợp các biện pháp giáo dục dới
nhiều hình thức khác nhau.
V. Nhiệm vụ nghiên cứu:
1. Nghiên cứu cơ sở lý luận.
2. Tìm hiểu thực trạng của việc giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho
trẻ mẫu giáo nhỡ.
3. Đề xuất một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục hành vi
giao tiếp có văn hoá cho trẻ mẫu giáo.
VI. Giới hạn của đề tài
Nghiên cứu biện pháp giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ mẫu
giáo nhỡ ở huyện Yên Thuỷ - Hoà Bình
IV. Phơng pháp nghiên cứu
Chúng tôi tiến hành điều tra và làm thực nghiệm tại một số trờng mầm
non trong địa bàn huyện Yên Thuỷ - Hoà Bình. Trong quá trình nghiên cứu đề
tài này chúng tôi đã sử dụng một số biện pháp sau:
1. phơng pháp điều tra bằng ankét
Chúng tôi điều tra 30 giáo viên ở 2 trờng mầm non trong huyện Yên Thuỷ
- Hoà Bình : trờng mầm non thuộc khu vực huyện Yên Thuỷ - Hoà Bình và tr-
ờng mầm non xã Yên Lạc huyện Yên Thuỷ - Hoà Bình.
Chúng tôi sử dụng phơng pháp này nhằm mục đích tìm hiểu nhận thức và
4
Phần II : Nội dung nghiên cứu
Chơng I :
Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc giáo dục hành vi
giao tiếp có văn hoá cho trẻ mẫu giáo nhỡ.
I. Cơ sở lý luận của việc giáo dục hành vi giao tiếp có văn
hoá cho trẻ mẫu giáo
1.Các khái niệm:
1.1 Văn hoá là gì?
Khi nói đến văn hoá có rất nhiều nhà lý luận văn học đề cập đến và họ đã
định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Nhng nhìn chung văn hoá là toàn bộ
những giá trị vật chất và tinh thần do loài ngời sáng tạo ra trong quá trình lịch
sử của mình.
Theo nghĩa rộng, văn hoá bao gồm cả văn hoá vật chất lẫn văn hoá tinh
thần; còn theo nghĩa hẹp văn hoá chỉ liên quan đến đời sống hàng ngày và do
con ngời tạo ra. Văn hoá bao giờ cũng gắn với những xã hội, dân tộc, thời kỳ
lịch sử. Có văn hoá thời cổ đại, văn hoá thời Phục hng, văn hoá thời Trung đại,
văn hoá Việt Nam,văn hoá Trung Quốc Văn hoá là do con ng ời sáng tạo ra,
có thể nói rằng con ngời sinh ra và trởng thành trong xã hội nào thì chịu ảnh h-
ởng sâu sắc bởi nền văn hoá của xã hội đó. Thậm chí cho dù có một thời gian
dài sống tách khỏi xã hội thì con ngời vẫn t duy và hành động theo những
khuôn mẫu, tác phong, nề nếp quen thuộc. Nhân cách của mỗi thành viên trong
một cộng đồng bao giờ cũng mang dấu vết bản sắc văn hoá dân tộc.
1.2 Hành vi:
Những ngời theo chủ nghĩa hành vi quan niệm hành vi chỉ đơn thuần là
tổng các phản ứng máy móc đáp lại kích thích, họ cho rằng cứ có kích thích là
có phản ứng. Họ coi Hành vi chỉ là các cử động bên ngoài hoàn toàn không
liên quan gì tới ý thức đợc coi là cái bên trong. Với họ hành vi đợc thực hiện
không có sự tham gia của chủ thể, của nhân cách, chủ thể không kiểm soát đợc
hành vi của mình.
đạo đức và thẩm mỹ bao trùm lên các hình thức ứng xử ấy. Nếu các chuẩn mực
đạo đức quy định hành vi ấn định cụ thể con ngời cần phải làm gì thì văn hoá
hành vi vạch rõ cụ thể phải làm bằng cách nào. Các yêu cầu đạo đức tồn tại
trong hành vi. Hình thức bên ngoài của hành vi con ngời ra sao, trong phạm vi
nào - các chuẩn mực này hoà nhập một cách hữu cơ tự nhiên và đơng nhiên với
hình ảnh của nó trong cuộc sống để trở thành các quy tắc sống hàng ngày. Vì
thế, văn hoá hành vi còn đợc coi là văn hoá bên ngoài để phân biệt với văn hoá
bên trong của con ngời bao gồm thế giới quan, niềm tin đạo đức, trình độ phát
triển chung, kiến thức, hứng thú, nhu cầu
Giữa văn hoá bên trong và văn hoá bên ngoài của con ngời có mối liên hệ
chặt chẽ, một sự thống nhất xác định. Mối quan hệ đó rất phức tạp và biện
chứng có tính hai chiều. Văn hoá bên trong tuy quan trọng nhng nó cần đợc
biểu hiện ra bằng hành động cụ thể dới những hình thức hành vi nhất định. Văn
hoá bên trong quy định hành vi bên ngoài của con ngời. Hình thức hành vi là sự
6
phản ánh cái bên trong chụi sự quy định của cái bên ngoài nhng đồng thời nó lại
tác động trở lại thế giới bên trong của chủ thể.
Sự luộm thuộm trong sinh hoạt, thô lỗ cục cằn, thiếu tế nhị trong giao tiếp
dần dần sẽ tạo nên những thói quen và phẩm chất cá nhân tơng ứng. Vì vậy, sẽ
là sai lầm nếu cho rằng phẩm chất bên trong mới là phẩm chất thực, còn hành vi
bên ngoài chỉ là lớp vỏ hình thức. Chính quan niệm sai lầm này đã dẫn đến việc
coi thờng tuân thủ các hành vi văn hoá cũng nh dẫn đến việc thiếu quan tâm
giáo dục văn hoá hành vi cho thế hệ trẻ. Đồng thời, chống lại khuynh hớng giáo
dục này sẽ tạo ra một thế hệ con ngời giả dối, tham lam ích kỷ. Những kẻ nh
vậy sẽ tạo ra một xã hội lừa bịp, giả tạo.
Trong thực tiễn có thể xảy ra trờng hợp một ngời có bản chất xã hội tốt
nhng trong giao tiếp hàng ngày lại vụng về, nếu là lãnh đạo thì thiếu quan tâm
đến ngời khác. ở đây bản chất xã hội của con ngời với các hành vi không có sự
kết hợp chặt chẽ với nhau. Nếu ngời đó đợc giáo dục tốt tất sẽ có những kỹ
năng giao tiếp tốt.
biết lắng nghe ý kiến của ngời khác.
Hành vi giao tiếp có văn hoá đòi hỏi con ngời phải biết vận dụng các quy
tắc giao tiếp chung một cách đúng đắn linh hoạt và sáng tạo, phù hợp với những
tình huống giao tiếp rất cụ thể trong đời sống hàng ngày với các đối tợng giao
tiếp khác nhau.
Hành vi giao tiếp có văn hoá đòi hỏi con ngời phải biết lựa chọn và sử
dụng các phơng tiện giao tiếp một cách có văn hoá phù hợp với hoàn cảnh giao
tiếp, mục đích giao tiếp, đề tài và đối tợng giao tiếp. Ngôn ngữ giao tiếp không
dài dòng, lôi thôi luộm thuộm, không rờm rà, sáo rỗng mà trớc hết phải ngắn
gọn, giản dị, rõ ràng và dễ hiểu, có nội dung t tởng và tình cảm đúng đắn. ngôn
ngữ giao tiếp còn biểu hiện ở cách phát âm không nói ngọng, nói lắp, nói tục
mà phải nhẹ nhàng ân cần cởi mở, thân mật với những ngời ít tuổi hoặc cùng
tuổi; tôn trọng lễ phép với ngời lớn.
2. Hành vi giao tiếp văn hoá
2.1 ý nghĩa của việc giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ mẫu giáo.
Văn hoá giao tiếp của trẻ mầm non là thể hiện hành vi của trẻ thực hiện
các quy định về giao tiếp với bạn bè, với em nhỏ, ngời lớn trên cơ sở tôn trọng
và thiện chí kết hợp với khả năng sử dụng vốn từ, các hình thức đối xử phù hợp.
Giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ có ý nghĩa rất to lớn, nó
giúp trẻ giao tiếp nhẹ nhàng, dễ chịu, lịch sự giúp các thành viên trong gia
đình và xã hội xích lại gần nhau hơn, hiểu nhau hơn. Con ngời hơn động vật ở
chỗ là có ngôn ngữ nói với nhau. Qua giao tiếp trẻ hiểu nhau, thông cảm cho
nhau và biết cách giúp đỡ nhau. Đông thời cũng chính bằng ngôn ngữ giao tiếp
trẻ lĩnh hội đợc những tinh hoa của dân tộc, lĩnh hội đợc kinh nghiệm sống, biết
trao đổi những suy nghĩ, tâm t và tình cảm với nhau.
Nếu sinh ra một đứa trẻ khuyết tật không nói đợc thì sẽ không hiểu đợc
những gì đã, đang và sẽ xảy ra xung quanh.
8
Ngày nay nền kinh tế thị trờng có nhiều biến động dễ tạo ra những ngời
có lối sống ích kỷ, tham lam chỉ biết có bản thân mình mà không nghĩ tới ngời
2.2.3 Hình thành ở trẻ các kỹ năng.
- Biết đánh giá hành vi của mình và những ngời xung quanh.
- Thực hiện các chuẩn mực và quy tắc hành vi giao tiếp có văn hoá trong
tình huống giao tiếp hàng ngày.
9
3. Đặc điểm và quá trình hình thành phát triển hành vi giao tiếp có văn
hoá cho trẻ mầm non.
3.1 Đặc điểm phát triển của trẻ mầm non nói chung và phát triển hành vi
giao tiếp có văn hoá nói riêng.
Trẻ em ở thời kỳ này có đặc điểm rất dễ uốn nắn về chuẩn mực hành vi
giao tiếp có văn hoá và có nhịp độ phát triển nhanh về ngôn ngữ, nhịp độ phát
triển nhanh nh vậy không còn thấy ở những năm tháng về sau. ở giai đoạn này,
trẻ em có những đặc điểm, những quy luật phát triển độc đáo, không giống bất
cứ một giai đoạn phát triển nào sau này, giáo dục trẻ ở lứa tuổi này là giúp cho
việc xây dựng những cơ sở ban đầu của nhân cách trẻ.
Tuy nhiên, mỗi em bé sẽ trở thành ngời theo một con đờng riêng và sống
cuộc đời riêng của mình với những đặc điểm mà chỉ riêng mình mới có. Những
đặc điểm riêng này có ngay từ khi sinh ra và đợc phát triển theo thời gian để trở
thành nhân cách không giống bất cứ một ai khác. Vì vậy, chúng ta tránh lối
giáo dục áp đặt, dập khuôn, máy móc.
Với trẻ mẫu giáo kinh nghiệm sống còn quá ít cho nên chúng dễ dàng
chấp nhận mọi chuẩn mực và quy tắc của ngời giáo viên đề ra, và dần dần trở
thành thói quen, nếu hàng ngày trẻ đợc thực hiện và đợc lặp đi, lặp lại nhiều
lần, ở giai đoạn này nếu nhà giáo dục không quan tâm đến chúng từ nhỏ thì sau
này sẽ gặp rất nhiều khó khăn trong việc giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá.
Trẻ ở lứa tuổi này dễ xúc cảm với nhân vật có đức tính hiền lành, nhân
hậu nh cô Tấm, công chúa và trẻ căm ghét những nhân vật độc ác gian dối nh
mụ dì ghẻ, mụ phù thuỷ Các em rất hào hứng thích thú khi đ ợc nhập vai anh
gà trống, thỏ nâu rất dễ th ơng, dũng cảm biết giúp đỡ bạn khi gặp khó khăn.
Nếu ta dùng hình thức nhẹ nhàng nh đóng kịch hoặc kể chuyện thì sẽ gây cho
- Hình thành giao tiếp công việc - tình huống: Thời gian xuất hiện hình
thức này là lúc trẻ bắt đầu để ý và tìm kiếm các đồ vật để thực hiện các hành
động đơn giản đối với chúng. Hình thức giao tiếp này đợc thể hiện rõ nhất giai
đoạn 6 tháng đến 3 tuổi. Tuy nhiên, có thể gặp hình thức giao tiếp này ở cuối
giai đoạn mẫu giáo, hình thức giao tiếp này đã đa hoạt động có đối tợng đến với
hoạt động với đồ vật trở thành hình thái hoạt động chủ đạo ở lứa tuổi này và có
ý nghĩa lớn đối với sự phát triển tâm lý của trẻ.
- Hình thức giao tiếp nhận thức ngoài tình huống:
Hình thức giao tiếp này xuất hiện nhờ sự phát triển ngôn ngữ của trẻ ở
giai đoạn đầu tuổi mẫu giáo (3 - 5 tuổi). Nội dung giao tiếp là những sự vật,
hiện tợng không thể nhìn thấy trong những hoàn cảnh cụ thể. Nó thể hiện tính
ham hiểu biết, sự tò mò của trẻ về những sự vật, hiện tợng xung quanh, trẻ đặt
ra nhiều câu hỏi nh tại sao, từ đâu, nh thế nào Nếu ng ời lớn giải thích ngắn
gọn, dễ hiểu và có cơ sở khoa học nhất định thì trẻ càng tôn trọng ngời lớn, sự
hợp tác trí tuệ đầu tiên giữa trẻ và ngời lớn rất quan trọng . Ngời lớn phải thể
hiện thái độ tôn trọng xu hớng nhận thức của trẻ bằng lời nói, hành động, điệu
bộ, nét mặt
11
- Giao tiếp nhân cách ngoài tình huống: Xuất hiện vào cuối giai đoạn mẫu
giáo, khác với lứa tuổi trớc trẻ giao tiếp với ngời lớn không phải chỉ đợc khen
ngợi mà còn muốn xây dựng quan điểm chung vơí ngời lớn trong đánh gía,
quan niệm, suy nghĩ, hành động, hành vi
Tóm lại: Sự phát triển các hành vi giao tiếp của trẻ với ngời lớn chứng tỏ
rằng ngời lớn giữa vai trò quan trọng trong việc hình thành và phát triển nhân
cách trẻ. Vì vậy, ngời lớn cần biết rõ nhu cầu giao tiếp của trẻ và từ đó tổ chức
quá trình giao tiếp với trẻ, tạo điều kiện cho trẻ phát triển đến một mức cao hơn.
3,3 Quá trình phát triển giao tiếp của trẻ em với trẻ em.
Sự tiếp xúc trẻ em với môi trờng xung quanh không chỉ giới hạn trong
phạm vi động tác qua lại với ngời lớn, đến một thời điểm nào đó trẻ sẽ chú ý
nhiều đến bạn bè xung quanh chúng. Các kết quả giao tiếp với bạn (MI. Lixina)
nét mặt, lời nói, hành động. Thái độ cuả bạn có thể khích lệ những hành vi tích
cực, ngợc lại có thể gây ra những hành vi tiêu cực cho nên cần có sự quan tâm
định hớng của ngời lớn trong quá trình tổ chức các hoạt động cùng nhau của trẻ.
Chính giao tiếp các công việc đã tập hợp trẻ thành một nhóm chơi cùng tuổi
hoặc khác tuổi, thể hiện rõ trong trò chơi đóng vai, chủ đề. Sự tham gia vào
công việc chung đã tạo ra những phẩm chất đặc biệt ở trẻ mà A.UXOVA gọi là
tính xã hội. Đó là năng lực tham gia vào trò chơi chung, hành động phù hợp
trong xã hội đó, thiết lập quan hệ với trẻ khác, phục tùng những yêu cầu của thế
giới trẻ em. Đây là những phẩm chất nhân cách cần thiết của con ngời lao động
trong tơng lai.
Tóm lại: giáo dục hành vi giao tiếp có văn hoá cho trẻ mẫu giáo có vai trò
rất quan trọng và giao tiếp với ngời lớn là cơ sở, tiền đề cho quá trình giao tiếp
của trẻ sau này. Do đó, ngời giáo viên phải có những biện pháp, phơng tiện
nhằm mở rộng quan hệ giao tiếp cho trẻ, Đồng thời giáo viên cũng phải gần gũi
với trẻ, giúp trẻ tự tin hơn, mạnh dạn hơn trong cuộc sống và trong giao tiếp sau
này.
4. Phơng tiện giao tiếp của trẻ mầm non.
Giao tiếp là sự trao đổi thông tin giữa hai hay nhiều ngời. Nó bao gồm sự
gửi thông tin phản hồi để sử dụng trong giao tiếp hàng ngày, các thông tin gửi
đi cần có nghĩa và phải hiểu đợc các thông tin của đối tợng giao tiếp có thể lĩnh
hội đợc qua hành vi giao tiếp thực của họ với các phơng tiện lời nói và hành
động thể hiện bằng nét mặt, cử chỉ, giọng nói, nhịp độ và không gian giao tiếp.
Đó là các phơng tiện giao tiếp, giao tiếp đợc thực hiện bằng phơng tiện ngôn
ngữ và phi ngôn ngữ.
4.1 Giao tiếp bằng phơng tiện ngôn ngữ :
Ngôn ngữ là phơng tiện giao tiếp đặc thù quan trọng, theo tâm lý học Xô
Viết ngôn ngữ có nhiều chức năng : chức năng thông báo, chức năng truyền đạt
thông tin, chức năng biểu cảm qua giọng điệu cấu âm và các biện pháp tu từ, từ
đó biểu lộ tình cảm nhu cầu, thái độ của mình; chức năng tác động: sự tác động
bằng ngôn ngữ có thể làm thay đổi trạng thái tâm lý, tình cảm và động cơ hành
Việc tiếp thu ngôn ngữ của trẻ không biểu hiện một cách riêng rẽ mà gắn
liền với sự phát triển khác nh năng lực cảm thụ, trí nhớ, tởng tợng, t duy do
đó, cần taọ mối quan hệ thờng xuyên giữa các điều mà trẻ em thấy đợc và từ
ngữ các em nghe đợc giữa hệ thống tín hiệu I và hệ thống tín hiệu II. Hơn nữa
trong quá trình thích ứng với thế giới bên ngoài trẻ luôn đòi hỏi sự hiểu biết
những gì các em nghe nhìn và tự thể nghiệm. Cho nên cần có kế hoạch cho trẻ
tiếp xúc với môi trờng bên ngoài để mở rộng tầm nhìn, nhận thức. Đồng thời,
14