MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, trên thế giới, du lịch đã và đang trở thành một ngành kinh tế
dịch vụ phát triển, nó được ví như “con gà đẻ trứng vàng” của nhiều quốc gia.
Ở Việt Nam, du lịch còn là một ngành công nghiệp non trẻ và đầy tiềm năng,
hứa hẹn nhiều cơ hội phát triển hơn nữa trong tương lai. Tuy nhiên, nó có thể
tiềm ẩn những hậu quả tiêu cực trên nhiều phương diện mà chúng ta cần phải
có những biện pháp khắc phục kịp thời. Và nếu như hiện nay, các vấn đề về tài
nguyên thiên nhiên và những tác động của hoạt động du lịch đối với môi
trường tự nhiên đã được quan tâm thì các giá trị văn hóa xã hội cùng với
những tác động mà du lịch đem lại cho tài nguyên văn hóa và cư dân bản địa,
đặc biệt là các di sản văn hóa truyền thống của dân tộc cũng đã bắt đầu nhận
được sự chú ý quan tâm của các cấp, ngành ở Việt Nam.
Như chúng ta đã biết, du lịch là một trong những ngành kinh tế “hết sức
phụ thuộc vào môi trường thiên nhiên cũng như các đặc trưng văn hóa xã hội
của cư dân bản địa” (Hiệp hội bảo tồn thiên nhiên quốc tế tại Việt Nam. “Xây
dựng năng lực phục vụ các sáng kiến về du lịch bền vững”. Đề cương dự án,
1997). Từ đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, các nhà khoa học trên thế giới đã
đề cập nhiều đến phát triển du lịch với mục đích đơn thuần là kinh tế đang đe
dọa môi trường sinh thái và nền văn hóa bản địa. Hậu quả của các tác động
này sẽ ảnh hưởng đến sự phát triển lâu dài của ngành du lịch. Chính vì vậy đã
xuất hiện yêu cầu nghiên cứu “phát triển du lịch bền vững” nhằm hạn chế tác
động tiêu cực của hoạt động du lịch, đảm bảo cho sự phát triển bền vững. Một
số loại hình du lịch đã được ra đời bước đầu quan tâm đến khía cạnh môi
trường và văn hóa bản địa như: du lịch sinh thái, du lịch gắn với thiên nhiên,
1
du lịch mạo hiểm, du lịch khám phá, du lịch cộng đồng đã góp phần nâng cao
hiệu quả của mô hình du lịch có trách nhiệm, đảm bảo cho sự phát triển bền
vững.
Du lịch bền vững cũng như du lịch cộng đồng ở nước ta vẫn còn là một
khái niệm mới. Tuy rằng trong thời gian gần đây cụm từ này đã được nhắc đến
và phát triển bền vững. Đây là hình thức xã hội hóa hoạt động du lịch môt
cách triệt để nhất mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất, không chỉ tạo công ăn
việc làm đem lại thu nhập cho người dân địa phương mà qua đó còn giáo dục
ý thức giữ gìn những nét văn hóa truyền thống của dân tộc mình. Tuy nhiên,
đến nay mô hình này đang bộc lộ nhiều hạn chế cần giải quyết kịp thời để phát
triển hơn nữa loại hình du lịch này trên đảo.
Xuất phát từ tình hình thực tiễn phát triển du lịch cộng đồng tại đảo Cát
Bà như vậy, tôi đã chọn đề tài “Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng trên
đảo Cát Bà, thành phố Hải Phòng” làm đề tài khóa luận tốt nghiệp. Tôi hy
vọng với vốn hiểu biết có hạn và nguồn tài liệu ít ỏi, đề tài của tôi sẽ góp một
phần nhỏ cho sự phát triển của mô hình du lịch cộng đồng tại đảo Cát Bà,
hướng đến sự phát triển bền vững cho đảo Ngọc của thành phố hoa phượng
đỏ.
2. Mục đích nghiên cứu
Qua việc nghiên cứu đề tài, chúng ta sẽ đi sâu vào tìm hiểu về các
nguồn tài nguyên để phát triển du lịch cộng đồng tại Cát Bà, đồng thời cũng
chỉ ra những thực trạng trong công tác xây dựng và triển khai mô hình du lịch
3
này tại bốn xã trên đảo Cát Bà, qua đó đưa ra những giải pháp cho việc phát
triển và nhân rộng mô hình du lịch cộng đồng cho toàn huyện Cát Hải.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là đảo Cát Bà thuộc huyện Cát Hải, nơi
có vườn quốc gia Cát Bà cũng là một trong số ít khu Dự trữ sinh quyển thế
giới tại Việt Nam, một trong những danh thắng nổi tiếng của cả nước.
Về nội dung: với thời gian và khả năng có hạn, đề tài tập trung nghiên
cứu các vấn đề chính sau:
- Lý thuyết về du lịch dựa vào cộng đồng
- Những đặc trưng về tài nguyên của đảo Cát Bà trong việc phát triển
loại hình du lịch cộng đồng của đảo
- Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tại bốn xã trên đảo thuộc
6. Kết cấu khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Danh mục tài liệu tham khảo, Phụ lục,
khóa luận gồm ba chương như sau:
Chương I: Tổng quan về du lịch dựa vào cộng đồng
Chương II: Thực trạng hoạt động du lịch cộng đồng trên đảo Cát Bà
5
Chương III: Giải pháp nhằm khai thác có hiệu quả hoạt động du lịch
cộng đồng trên đảo Cát Bà
6
Chương 1
TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH DỰA VÀO CỘNG ĐỒNG
1.1. Du lịch cộng đồng trong sự phát triển bền vững
1.1.1. Lý thuyết về cộng đồng
Cộng đồng – một khái niệm lý thuyết cũng như thực hành xuất hiện vào
những năm 1940 tại các nước thuộc địa của Anh. Năm 1950, Liên hiệp quốc
công nhận khái niệm phát triển cộng đồng và khuyến khích các quốc gia sử
dụng khái niệm này như một công cụ để thực hiện các chương trình viện trợ
quy mô lớn về kĩ thuật, phương pháp và tài chính vào tập kỷ 50 – 60..
Trước hết, quan điểm về cộng đồng đề cập đến các yếu tố con người với
phạm vi địa lý, mối quan hệ và mục đích chung trong phát triển và bảo tồn
cộng đồng đó. Theo Keith và Ary, 1998 thì “Cộng đồng là một nhóm người,
thường sinh sống trên cùng khu vực địa lý, tự xác định mình thuộc về cùng một
nhóm. Những người trong cùng một cộng đồng thường có quan hệ huyết thống
hoặc hôn nhân và có thể thuộc cùng một nhóm tôn giáo, một tầng lớp chính
trị”
(A community is a group of people, offen living in the same geographic
area, who identify themselfves as belonging to the same group. The people in a
community are offen related by blood or marriage, and may all belong to the
same religious or political group, class or caste. (Keith and Ary, 1998) )
Như vậy, mặc dù các cộng đồng có thể có nhiều cái chung, nhưng sẽ trở
Tại Việt Nam, lần đầu tiên khái niệm phát triển cộng đồng được giới
thiệu vào giữa những năm 1950 thông qua một số hoạt động phát triển cộng
đồng tại các tỉnh phía nam, trong lĩnh vực giáo dục. Từ ngành giáo dục, phát
triển cộng đồng chuyển sang lĩnh vực công tác xã hội. Đến những năm 1960,
1970, hoạt động phát triển cộng đồng được đẩy mạnh thông qua các chương
trình phát triển nông thôn của sinh viên hay của phong trào Phật giáo.
Từ thập kỷ 80 của thế kỷ trước cho đến nay, phát triển cộng đồng được
biết đến một cách rộng rãi hơn thông qua các chương trình viện trợ phát triển
của nước ngoài tại Việt Nam, có sự tham gia của người dân tại cộng đồng như
một nhân tố quyết định để chương trình đạt được hiệu quả bền vững. Các
đường lối và phương pháp cơ bản về phát triển cộng đồng đã được triển khai
trên thực tiễn ở Việt Nam, bằng các nhân sự trong nước với cả những thành
công và thất bại. Bộ môn “phát triển cộng đồng và tổ chức cộng đồng” được
giảng dạy trong một số trường đại học ở phía Nam với giáo trình được biên
soạn như một môn cơ bản. Gần đây, bộ môn này đã được Bộ Giáo dục và Đào
tạo chính thức cấp mã ngành.
1.1.2. Lý thuyết phát triển du lịch dựa vào cộng đồng
1.1.2.1. Các quan điểm về du lịch cộng đồng
Thuật ngữ Du lịch dựa vào cộng đồng xuất phát từ hình thức du lịch
làng bản từ những năm 1970 và khách du lịch tham quan các làng bản, tìm
hiểu về phong tục tập quán, cuộc sống hoang dã, lễ hội, cũng có thể là một vài
khách muốn khám phá hệ sinh thái đa dạng, địa hình hiểm trở, nhiều núi cao
vực sâu nhưng lại thưa thớt dân cư, các điều kiện sinh hoạt đi lại và hỗ trợ rất
khó khăn, nhất là đối với khách tham quan. Những lúc như vậy, những khách
này rất cần có sự trợ giúp như dẫn đường để tránh lạc, nơi ở qua đêm, ăn uống
đã được người dân bản xứ tạo điều kiện giúp đỡ, cung cấp các dịch vụ; lúc đó,
9
khách du lịch thường gọi là chuyến du lịch có sự hỗ trợ của người bản xứ –
đây là tiền đề cho phát triển loại hình du lịch dựa vào cộng đồng.
Ngày nay, du lịch cộng đồng được chính phủ, tổ chức kinh tế, xã hội
những điều kiện, tính chất hoạt động giống như loại hình du lịch sinh thái, du
lịch bền vững như sau:
- Du lịch sinh thái là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa
bản địa, gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát
triển bền vững, với sự tham gia tích cực cộng đồng của cộng đồng địa phương
(Thế Đạt, Du lịch và du lịch sinh thái, 2003). Du lịch sinh thái nhấn mạnh và
đề cao yếu tố giáo dục, nâng cao ý thức con người trong vấn đề bảo vệ, bảo
tồn thiên nhiên và bảo tồn, phát huy những giá trị văn hóa do con người tạo ra.
- Du lịch bền vững là việc phát triển các hoạt động du lịch nhằm đáp
ứng những nhu cầu hiện tại của khách du lịch và người dân bản địa trong khi
vẫn quan tâm đến việc bảo tồn và tôn tạo các nguồn tài nguyên cho việc phát
triển các hoạt động du lịch trong tương lai...(Nguyễn Đình Hòe và Vũ Văn
Hiếu, Du lịch bền vững, 2001). Du lịch bền vững hướng đến việc quản lý các
nguồn tài nguyên sao cho các nhu cầu kinh tế xã hội đều được thỏa mãn trong
khi vẫn duy trì được bản sắc văn hóa, các đặc điểm sinh thái, sự đa dạng sinh
học và hệ thống hỗ trợ đời sống.
11
Như vậy, du lịch cộng đồng chính là nét tinh túy của du lịch sinh thái và
du lịch bền vững. Du lịch cộng đồng nhấn mạnh vào cả hai yếu tố là tự nhiên,
môi trường và con người.
1.1.2.2. Một số khái niệm cơ bản về du lịch dựa vào cộng đồng
Do vị trí về du lịch dựa vào cộng đồng, tùy theo góc nhìn, quan điểm
nghiên cứu mà du lịch cộng đồng có những khái niệm khác nhau.
Nhà nghiên cứu Nicole Hausle và Wollfgang Strasdas đưa ra khái niệm:
“Du lịch cộng đồng là một hình thái du lịch trong đó chủ yếu là người dân địa
phương đứng ra phát triển và quản lý. Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ
đọng lại nền kinh tế địa phương” (Nicole Hausler and Wolfang Strasdas,
Community Based Sustainable Tourism A Reader, 2000). Quan niệm trên
nhấn mạnh đến vai trò chính của người dân địa phương trong vấn đề phát triển
du lịch ngay trên địa bàn họ quản lý.
người trong bộ lạc;
- Là công cụ cho cộng đồng cùng tham gia, thảo luận các vấn đề, cùng
làm việc và giải quyết các vấn đề cộng đồng;
- Mở rộng các cơ hội trao đổi kiến thức và văn hóa giữa khách du lịch
và cộng đồng.
- Cung cấp khoản thu nhập thêm cho cá nhân thành viên trong cộng
đồng.
- Mang lại thu nhập cho quỹ phát triển cộng đồng;
13
Một số mục tiêu chính của du lịch cộng đồng đã được coi là kim chỉ
nam cho loại hình phát triển này gồm:
- Du lịch cộng đồng phải góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và văn
hóa, bao gồm cả sự đa dạng về sinh học, tài nguyên nước, rừng, bản sắc văn
hóa,...
- Du lịch cộng đồng phải đóng góp vào phát triển kinh tế địa phương
thông qua việc tăng doanh thu về du lịch và những lợi ích khác cho cộng đồng
địa phương.
- Du lịch cộng đồng phải có sự tham gia ngày càng tăng của cộng đồng
địa phương.
- Du lịch cộng đồng phải mang đến cho khách một sản phẩm có trách
nhiệm đối với môi trường và xã hội.
1.1.2.4. Các nguyên tắc tham gia phát triển du lịch dựa vào cộng
đồng
Các nguyên tắc tham dự của cộng đồng đối với phát triển du lịch:
- Cộng đồng được quyền tham gia thảo luận các kế hoạch, quy hoạch,
thực hiện và quản lý đầu tư để phát triển du lịch, trong một số trường hợp có
thể trao quyền làm chủ cho cộng đồng.
- Phù hợp với khả năng của cộng đồng: Khả năng bao gồm:
+ Khả năng nhận thức về vai trò và vị trí của cộng đồng trong việc sử
dụng tài nguyên.
1.1.2.6. Xu hướng phát triển du lịch cộng đồng hiện nay
Một cuộc điều tra nghiên cứu thị trường khách du lịch sinh thái cộng
đồng quy mô lớn của Hiệp hội du lịch sinh thái thế giới trong 3 năm từ 2002
đến 2004 đã cho thấy những xu hướng du lịch mới của nền công nghiệp du
lịch toàn cầu.
Khách có nhu cầu ngày càng cao trong việc tìm kiếm thông tin và học
hỏi, tìm hiểu khi đi du lịch. Khách muốn tìm hiểu các vấn đề về văn hóa xã
hội như: văn hóa bản địa, sự kiện nghệ thuật, tiếp xúc với người dân địa
phương, ẩm thực địa phương hay nghỉ tại các cơ sở lưu trú quy mô nhỏ của
người dân bản địa. Các tác động môi trường và trách nhiệm của khách sạn tại
điểm đến được khách quan tâm hàng đầu bởi có như vậy khách du lịch mới có
cơ hội được đi du lịch ở những khu vực không bị ô nhiễm, không khí trong
lành, tiếp cận các khu vực còn nguyên sơ, độc đáo.
1.1.3. Du lịch cộng đồng trong sự phát triển bền vững
Theo Hội đồng Du lịch và Lữ hành quốc tế thì “Du lịch bền vững là
việc đáp ứng các nhu cầu hiện tại của du khách và vùng du lịch mà vẫn đảm
bảo những khả năng đáp ứng nhu cầu cho các thế hệ du lịch tương lai”. Với ý
nghĩa đó, du lịch bền vững đòi hỏi phải quản lý tất cả các dạng tài nguyên để
đáp ứng nhu cầu kinh tế, xã hội và thẩm mỹ trong khi vẫn duy trì được bản sắc
văn hóa, các quá trình sinh thái cơ bản, đa dạng sinh học và các hệ đảm bảo sự
sống. (Hens L., 1998)
Mục tiêu của du lịch bền vững là:
- Phát triển, gia tăng sự đóng góp của du lịch vào kinh tế, môi trường
- Cải thiện tính công bằng xã hội trong phát triển
16
- Cải thiện chất lượng cuộc sống của cộng đồng bản địa
- Đáp ứng cao độ nhu cầu của khách
- Duy trì chất lượng môi trường (Inskeep, 1991)
Theo Hiến chương du lịch bền vững được đưa ra tại Hội nghị Thế giới
về Du lịch bền vững tổ chức tại Lanzarote, Canary Islands, Tây Ban Nha năm
trở lại cho cuộc sống của chính người dân, cải thiện chất lượng cuộc sống cho
cộng đồng địa phương. Và khi kinh tế phát triển sẽ dẫn đường cho các lĩnh vực
khác phát triển như văn hóa, giáo dục. Điều kiện kinh tế ổn định, người dân sẽ
không phải lo lắng nhiều về vấn đề kinh tế gia đình và có một nguồn thu nhập
ổn định, họ sẽ tích cực hơn trong việc tham gia vào những hoạt động cộng
đồng và việc đấu tranh để duy trì, bảo tồn các giá trị truyền thống cũng như
bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên. Họ sẽ không phải khai thác quá
mức các nguồn tài nguyên của mình. Bên cạnh đó, họ sẽ chú trọng đến việc
giáo dục thế hệ trẻ hơn nữa trong việc bảo tồn và phát triển bền vững.
Du lịch cộng đồng phát triển sẽ tạo ra những cơ hội lớn cho người dân
địa phương bởi bên cạnh việc giao lưu và tiếp thu những tinh hoa văn hóa mới
của khách du lịch, họ sẽ có ý thức bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa truyền
thống của chính dân tộc mình. Điều này đòi hỏi phải có sự nhận thức sâu sắc
của cộng đồng địa phương, du khách và đội ngũ nhân viên phục vụ du lịch.
Đây cũng chính là điều kiện và là mục tiêu phát triển của loại hình du lịch này
để tạo ra môi trường du lịch có văn hóa. Những mục tiêu mà du lịch cộng
đồng muốn đạt được chính là những mục tiêu mà du lịch bền vững hướng tới.
18
Chính vì lẽ đó, du lịch cộng đồng đang là hướng phát triển mới của du lịch thế
giới trong những năm tới để du lịch đạt được mục tiêu phát triển bền vững.
1.2. Nguồn nhân lực địa phương
1.2.1. Nguồn nhân lực địa phương
Nguồn nhân lực là một trong những yếu tố quyết định đến sự thành
công hay không thành công của trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội
của một địa phương, một quốc gia. Do vậy, tất cả các nước trên thế giới đều
quan tâm đến phát triển nguồn nhân lực. Nguồn nhân lực có thể được hiểu là
nguồn lực con người có khả năng và tiềm năng tham gia vào quá trình phát
triển kinh tế – xã hội của tổ chức, quốc gia và của thế giới.
Nói về số lượng nguồn nhân lực của bất kỳ một địa phương nào thì vấn
đề đầu tiên vẫn là có bao nhiêu người và sẽ có thêm bao nhiêu người nữa
1.2.2. Nguồn nhân lực du lịch
Cũng như mọi ngành kinh tế – xã hội, hoạt động du lịch luôn gắn với
yếu tố dân cư – lao động. Nó là nguồn lực chi phối trực tiếp đến hoạt động du
lịch.
Tại mỗi địa phương nơi hoạt động du lịch được diễn ra, nhân lực địa
phương góp phần vào việc cung ứng nguồn nhân lực cho hoạt động du lịch.
Như chúng ta đã biết, hoạt động du lịch đòi hỏi một lực lượng lao động khá
lớn. Theo tỷ lệ thông thường cứ mỗi khách du lịch thì cần 3 – 5 lao động phục
vụ. Nguồn lao động này trực tiếp hoạt động trong ngành du lịch và hoạt động
20
ngoài ngành du lịch tại các tuyến điểm du lịch để đáp ứng nhu cầu của du
khách. Vì vậy, nơi nào có dân số đông, nguồn lao động dồi dào và có tay nghề
cao, nơi đó sẽ rất thuận lợi để phát triển du lịch.
Không chỉ vậy, dân cư địa phương chính là những người tạo ra môi
trường du lịch tại điểm du lịch. Đó chính là thái độ ứng xử của cư dân tại
tuyến điểm du lịch đối với du khách. Nơi nào có môi trường ứng xử tốt như
tôn trọng du khách, niềm nở, ân cần đối với khách, không quấy rầy và làm
phiền khách thì nơi đó sẽ tạo được ấn tượng tốt với khách, tạo điều kiện thuận
lợi cho du lịch phát triển.
Có thể nói, lực lượng lao động trong du lịch của nước ta dồi dào để
cung ứng cho hoạt động dịch vụ du lịch do dân số trẻ và đông. Tại các điểm du
lịch, lực lượng lao động này, ngoài một bộ phận nhỏ làm việc trong ngành du
lịch, đa số còn lại trực tiếp làm các dịch vụ vận chuyển, ăn uống, bán hàng lưu
niệm, thẩm mỹ. Chính họ là đội quân đông đảo hỗ trợ cho các hãng lữ hành,
khách sạn hoàn thành mục tiêu của mình, đồng thời cũng tạo công ăn việc làm
cho người dân địa phương. Họ chỉ chiếm một phần nhỏ của số dân địa phương
tham gia vào hoạt động du lịch. Tuy nhiên, để lực lượng này có thể hoạt động
tốt và tạo môi trường du lịch tốt thì cần thiết phải có công tác quản lý, nâng
cao ý thức và chính sách đào tạo nhân lực địa phương để đáp ứng nhu cầu
khách du lịch ngày càng tốt hơn và chuyện nghiệp hơn.
phải là viên ngọc lẻ loi mà nằm trong cả một dãy đảo gồm 366 đảo lớn nhỏ
nằm quây quần bên vịnh Lan Hạ, là sự tiếp nối với vịnh Hạ Long. Quần đảo
Cát Bà là một khu du lịch biển và rừng, nơi có vườn quôc gia Cát bà với diện
tích được bảo vệ là 15.200 ha, chiếm 1/3 diện tích đảo, trong đó có 9.800 ha là
rừng và 5.400 ha là biển, 300 loài cây quý hiếm và một số muông thú lạ, còn
nguyên vẹn một khu rừng nguyên sinh được chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng ra
quyết định 79/CT, thành lập vào ngày 31/3/1986 vầ sau đó ngày 20/10/1988
đã có công văn 1737 NN về việc chuyển giao vườn quốc gia Cát Bà cho Bộ
Lâm nghiệp quản lý, được Nhà nước xếp hạng là một trong 100 rừng nguyên
sinh có giá trị trên toàn thế giới, có nhiều bãi tắm nhỏ, cát trắng, có núi đá vôi
với nhiều hang động kỳ thú, nơi có di chỉ Cái Bèo, đặc trưng cho nền văn hóa
Hạ Long có cách ngày nay 6.000 năm, nơi có đặc sản nổi tiếng như cá song,
mực, tôm he, bào ngư, tu hài, nước mắm Cát Hải, không những có thể đáp ứng
nhu cầu của du khách mà còn là nơi kết hợp du lịch với nghiên cứu khoa học.
Đặc biệt, trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển mạnh mẽ về du
lịch, đảo Cát Bà đã trở thành điểm du lịch bừng sáng nối giữa hai trung tâm du
lịch lớn nhất miền Bắc Việt Nam: Hạ Long và Hải Phòng, tạo thành một quần
thể du lịch phong phú, độc đáo, có một không hai ở Việt Nam, thu hút mạnh
mẽ khách du lịch theo con đường biển kết hợp với đường bộ và đường sắt (từ
Hà Nội xuống thành phố Hải Phòng rồi từ thành phố Hải Phòng đi cano hoặc
tàu thủy ra đảo).
Hiện nay, Cát Bà có khoảng gần 15.000 dân (tổng số dân của huyện đảo
Cát Hải đến năm 2007 là khoảng 29.000 người). Cả đảo Cát Bà có một thị trấn
và 7 xã: thị trấn Cát Bà và các xã Trân Châu, Xuân Đám, Khe Sâu, Việt Hải,
Hiền Hào, Gia Luận và Phù Long.
23
Du lịch đang ngày càng trở nên là một hiện tượng phổ biến tại Việt Nam
và trên thế giới, đặc biệt là loại hình du lịch hướng vào những nơi có đặc trưng
riêng về sinh thái kết hợp với những nét văn hóa riêng có của người dân bản
địa tại điểm du lịch đó hay chính là loại hình du lịch cộng đồng. Cát Bà có
đẹp đất nước mà còn cả sự thân thiện, lòng mến khách của con người Việt
Nam.
Tuy nhiên, để tới đảo Cát Bà khách du lịch phải đổi nhiều loại phương
tiện: đường bộ và đường thủy. Điều đó góp phần làm phong phú thêm cho
chuyến đi nhưng lại khiến du khách không tiện lợi cho sức khỏe trong chuyến
đi. Thêm vào đó thời gian để khách ra đến đảo cũng mất một buổi trong ngày
nên trong lịch trình thăm đảo, với sự hạn chế về số ngày của chuyến đi, du
khách sẽ ít có dịp được thăm hết các điểm du lịch trên đảo, đặc biệt là làng
Việt Hải – một làng được coi là cư dân gốc của đảo Cát Bà có nhiều đặc trưng
văn hóa truyền thống để phát triển loại hình du lịch cộng đồng, nhưng lại nằm
sâu trong vùng lõi của vườn quốc gia Cát Bà.
2.1.2 Tài nguyên du lịch
2.1.2.1 Tài nguyên tự nhiên
Địa hình
Địa hình có ảnh hưởng sâu sắc đến kiến trúc cảnh quan, vì thế, mỗi bộ
phận địa hình đóng một vai trò như tài nguyên du lịch. Hay nói cách khác, mỗi
một điểm du lịch đều có những đặc điểm địa hình riêng biệt, độc đáo mà nhiều
nơi, nó chính là yếu tố thu hút khách du lịch.
Sự lôi cuốn của Cát Bà không chỉ ở vị trí trời phú mà còn ở điều kiện tự
nhiên mà thiên nhiên đã ưu ái dành tặng cho hòn đảo ngọc này. Hình thái địa
hình của đảo khá phức tạp. Đảo Cát Bà là một vùng đồi, núi pha trộn nhiều
25