Thực trạng phát triển & công tác hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn TP Đà Nẵng giai đoạn 2002 – 2007 - Pdf 68

Thực trạng phát triển & công tác hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trên
địa bàn TP Đà Nẵng giai đoạn 2002 – 2007
I/ Thực trạng phát triển của các doanh nghiệp nhỏ và vừa trên địa bàn thành
phố Đà Nẵng
Trong Phần II em sẽ trình bày các vấn đề qua việc trả lời các câu hỏi như: Tình
hình phát triển của DNNVV ở TP Đà Nẵng hiện nay như thế nào? Các cách thức công
tác hỗ trợ đã được TP áp dụng để hỗ trợ DNNVV trong thời gian qua ra sao? Những
nguyên nhân nào đã gây nên sự hạn chế việc hình thành và phát triển DNNVV ở TP ?
Từ đó sẽ có những cái nhìn cụ thể và chính xác để đưa ra những kiến nghị phù hợp sẽ
được trình bày chi tiết trong Phần III nhằm giúp DNNVV càng ngày càng có cơ hội
phát triển, tận dụng hết những lợi thế vốn có của DNNVV và ngày càng khẳng định vị
thế cũng như vị trí của doanh nghiệp đối với nền kinh tế. Nhưng để tìm hiểu được
những vấn đề trên thì ta cùng đi sâu vào tìm hiểu thực trạng và các báo cáo về doanh
nghiệp dân doanh (DNDD) là thành phần chính trong cơ cấu về DNNVV thành phố.
Phân tích DNDD cũng chính là phân tích tình hình các DNNVV đang hoạt động trên
địa bàn thành phố.
1. Số lượng doanh nghiệp phát triển qua các năm
1.1. Giai đoạn 1997 – 1999
Quy mô và số lượng các DNDD, có số lượng ngày càng tăng, trong các DN này
có quy mô ngày càng tăng và chất lượng cũng có nhiều sự biến đổi.
Về số lượng, năm 1997 Thành phố có 670 DNDD đăng ký kinh doanh 9 trong
đó có 391 DNTN, 266 công ty TNHH, 14 Công ty Cổ phần). Năm 1999, con số này là
855 doanh nghiệp (trong đó có 504 DNTN, 322 công ty TNHH, 29 công ty Cổ phần),
tăng lên 185 DNDD, tính bình quân giai đoạn 1997-1999 mỗi năm tăng 62 DN; tốc độ
tăng bình quân thời kỳ này là 12,9%.
Vốn đăng ký, năm 1997 là 150,48 tỷ đồng, năm 1999 đạt 316,9 tỷ đồng, tăng
gấp 2 lần so với năm 1997; tốc độ tăng bình quân thời kỳ này là 45,1%.
Lao động, năm 1997 số lao động trong DNDD là 7756 người chiếm 2,59% tổng
lao động toàn Thành phố thì dến năm 1999 con số này là 8707 người chiếm 2,73% tổng
lao động toàn Thành phố; tốc độ tăng bình quân thời kỳ này là 6%.
Năm 1999 doanh nghiệp sản xuất công nghiệp chiếm 12,8%, Thương mại-dịch

157
11
54
212
292
16
91
188
314
26
92
182
412
60
135
281
576
105
174
301
694
216
218
346
879
209
285
299
991
306

ĐKKD tăng 44% so với năm 2003. Sỡ dĩ có sự tăng nhanh như vậy là do TP có quyết
định lấy năm 2004 là “Năm doanh nghiệp”, trong thời gian này Chính quyền thành phố
đã có những chính sách hỗ trợ tích cực cho DN. Năm 2005 có 1429 DN ĐKKD tăng 25%
so với năm 2004. Năm 2005 là năm cuối cùng của kế hoạch 5 năm là năm đánh dấu bước
chuyển biến mới những chủ trương chính sách đã đi vào cuộc sống giúp DN an tâm hơn
mạnh dạn đầu tư kinh doanh. Cho đến năm 2006 con số này đã là 6766 DN, và cho đến
hết tháng 12/2007 thì cả thành phố đã có được số DNDD lên đến con số 8154 DN (tăng
gấp 9 lần so với năm 1999), trong đó có 1977 DNTN, 4315 Công ty TNHH, 949 Công ty
Cổ phần. Tốc độ tăng bình quân thời kỳ 2000-2007 là 33,435%, gấp 2,7 lần so với giai
đoạn 1997-1999.
(ĐVT: Doanh Nghiệp)
Biểu đồ 1: Số lượng DNDD Tp Đà Nẵng qua 8 năm 2000-2007
Trong 8 năm qua, số DN đăng ký thành lập theo loại hình công ty TNHH chiếm
nhiều nhất với 4315 DN chiếm 49,94% so với tổng số DN đăng ký thành lập, tiếp đến là
DNTN với 1977 DN chiếm 22,88%. Công ty CP là loại hình ít được chọn lựa nhất với
949 DN, chỉ chiếm chưa đến 10,98%. Có thể thấy rằng, người kinh doanh ở Đà Nẵng
chưa quen và tin tưởng vào cách làm ăn hùn hạp, huy động vốn từ nhiều người để đầu tư
qua hình thức Cổ phần. Còn công ty TNHH thì đa số có dưới 5 thành viên, chủ yếu là
người trong gia đình hoặc bạn bè tin cậy. Như vậy loại hình công ty TNHH là phổ biến
nhất trong các loại hình kinh tế, nguyên nhân của hiện tượng này là do Công ty TNHH có
tư cách pháp nhân có trách nhiệm hữu hạn về khoản nợ và các nghĩa vụ về tài sản khác
của công ty trong phạm vi vốn góp vào DN.
Biểu đồ 2: Cơ cấu DN thuộc khối DNDD năm 2007 (%)
2. Quy mô của các DNNVV trên địa bàn thành phồ Đà Nẵng
2.1 giai đoạn 1997 – 1999
Sự đóng góp vủa DNDD đối với sự phát triển kinh tế-xã hội của Thành phố
Vốn đầu tư vào sản xuất kinh doanh, năm 1997 là 71,76 tỷ đồng, chiếm 3,83%
tổng vốn đầu tư toàn Thành phố. Năm 1999 đạt 112,1 tỷ đồng, chiếm 5,17% tổng vốn
đầu tư toàn Thành phố, tăng 52,6% so với năm 1997.
Đóng góp vào ngân sách thông qua nộp thuế, năm 1997 là 13,85 tỷ đồng, chiếm

thời kỳ 1997-1999.
Bảng 3: Vốn đăng ký kinh doanh của DNDD
(ĐVT: Tỷ đồng)
Chỉ tiêu 2000 2001 2002 2003 2004 2005
2006 2007
KTTN
778,9 1379,8 1899,1 4498,6 5771,9 8399,1 9876,6 10.784,7
DNDD
600,3 1105,3 1573,4 3998,8 5121,2 7851,0 8968,0 9978,0
% trong
KVKTTN
70,1 80,1 82,85 88,89 88,73 93,50 90,08 92,52
(Nguồn: Báo cáo Sở kế hoạch-Đầu tư Tp Đà Nẵng)
Quy mô vốn đăng lý kinh doanh của DNDD được huy động của khu vực này có sự
gia tăng qua các năm. Năm 1997 vốn đăng lý kinh doanh là 150,48 tỷ đồng; Năm 1999 là
316,9 tỷ đồng; năm 2000 là 600,3 tỷ đồng, chiếm 70,1% trong khu vực KTTN, gấp 1,9
lần so với năm 1999; và đến năm 2007 con số này là 9.978 tỷ đồng, chiếm 92,52 % khu
vực KTTN, tăng gấp 24,8 lần so với năm 1999; tốc độ tăng bình quân thời kỳ 2000-2007
là 67,2%, gấp 1,2 lần so với giai đoạn năm 1997-1999. Năm 2007, các Ngân hàng đã có
bước chuyển hướng đầu tư sang khu vực kinh tế dân doanh theo định hướng chung của
ngành đồng thời khu vực kinh tế dân doanh củng đã tạo được uy tín riêng cho mình với
Ngân hàng. Tuy nhiên, số vốn mà các DNDD vay được tư Ngân hàng vẫn còn hạn chế,
đồng thời DN chưa mạnh dạn bỏ vốn ra đầu tư do công tác hỗ trợ doanh nghiệp và quản
lý Nhà nước đối với DN tuy có bước chuyển biến tích cực nhưng vẫn còn nhiều bất cập
hạn chế, do đó chưa đáp ứng được yêu cầu của sản xuất chưa đủ sức mở rộng phát triển
sản xuất, hoặc liên kết với các công ty nước ngoài. Theo số liệu thống kê đến cuối năm
2007 thì trong tổng số 8154 DNDD thì có 89 DN có mức vốn trên 1 tỷ đồng, chiếm
1,09%; còn lại 8154 DN có mức vốn dưới 1 tỷ đồng, chiếm 98,91%.
Bảng 4: Quy mô vốn bình quân của 1 DNDD qua các năm
(ĐVT: Triệu đồng)

Chỉ tiêu 2000 2001 2002 2003 2004 2005 2006 2007
Tổng lđ của
TP
322,5 341 367,5 378,7 401,2 466,0 487,3 518,7
Lđ của KTTN
% tổng lđ TP
69,67
21,6
82,38
24,2
85,77
23,34
92,61
24,4
106,9
26,6
127,4
27,33
145,6
29,88
164,7
31,75
Lđ của KDCT
% tổng lđ TP
56,89
17,6
63,67
18,7
65,52
17,83

trong các DNDD; điều này là do quy mô nhỏ vốn ít cho nên chủ yếu là huy động những
thành viên trong gia đình tham gia sản xuất.
Năm 2007 lao động trong các doanh nghiệp là 97,70 nghìn người gấp 7,64 lần so
với năm 2000, điều này chứng minh năng lực giải quyết việc làm cho người lao động
của DNDD là rất lớn, DNNN đi vào cổ phần hoá đi vào hoạt động ổn định thu hút thêm
nhiều lao động, ngành nghề mà các DN lựa chọn đã chuyển dần sang ngành sử dụng
nhiều lao động. Nhưng lao động của các DN chủ yếu là lao động phổ thông chưa qua
đào tạo. Qua khảo sát 300 doanh nghiệp chỉ có 146 doanh nghiệp sử dụng lao động đã
qua đào tạo, còn lại 154 doanh nghiệp sử dụng lao động chưa qua đào tạo. Cũng trong
cuộc khảo sát này , trong 300 doanh nghiệp thì thấy số doanh nghiệp sử dụng lao động
dưới 50 người là 244 doanh nghiệp, chiếm tỷ lệ 81,378%; số doanh nghiệp sử dụng lao
động dưới 300 người là 48 doanh nghiệp, chiếm tỷ lệ 16%; chỉ có 8 doanh nghiệp sử
dụng lao động trên 300 lao động , chiếm tỷ lệ 2,67%.
2.2.3. Cơ cấu ngành nghề
Trên cở sở đường lối đổi mới của Đảng, được thế chế hoá bằng pháp luật Nhà
nước, DNNVV phát triển không ngừng về quy mô và liên tục mở rộng các lĩnh vực
hoạt động, ngày càng đóng góp quan trọng cho nền kinh tế nói chung và kinh tế TP Đà
Nẵng nói riêng. Các DNDD thành phố Đà Nẵng hiện nay hoạt động với lĩnh vực ngành
nghề tương đối đa dạng.

Bảng 6: Số lượng DN và cơ cấu ngành nghề của khu vực DNDD
Tp Đà Nẵng năm 2007
(ĐVT: %)
Lĩnh vực hoạt động Số DN %/ Tổng số
DNDD có đến 31/12/2007 8154 100
- Sản xuất công nghiệp 913 11,20
- Thương mại, dịch vụ 5.761 70,65
- Vận tải 426 5,22
- Xây dựng 1.054 12,93
(Nguồn: Sở KH-ĐT TP Đà Nẵng)

yếu là phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng vốn đã không lớn trong thành phố; mặt khác thị
trường xuất khẩu tuy đã có và đang được mở rộng nhưng còn nhiều hạn chế, hợp đồng
xuất khẩu đa số là ngắn hạn, theo thời vụ và thiếu ổn định. Khi thương mại và toàn cầu
hóa ngày càng phát triển, để cản sự phát triển và mức bảo hộ của các nước nhỏ có thế
mạnh về so sánh thương mại các thị trường xuất khẩu chính của thành phố đã áp dụng
các tiêu chuẩn hóa về nhập khẩu đã khiến cho các DNNVV đã lao đao nay càng khó
khăn và vất vã hơn nữa.
Phần lớn các DNNVV có trình độ khoa học công nghệ, trang thiết bị kỹ thuật
lạc hậu nếu như không muốn nói là rất thô sơ. Hiệu suất tiêu hao nghuyên nhiên liệu là
rất lớn, hầu hết các máy móc mà các DN của chúng ta nhập về đều là công nghệ vào
năm 1992, mức lạc hậu về công nghệ của các máy móc mà chúng ta mới nhập về là rất
lớn, thường là những thiết bị đã bị thải ra trước khi được nhập về lại Việt Nam. Việc
đào tạo còn hiều hạn chế và bất cập, tình trạng thừa thầy thiếu thợ là không hiếm gặp,
với tay nghề thấp như vậy thì hậu quả tất yếu sẽ xảy ra đó là chât lượng và mẩu mã sản
phẩm HHDV không cao, có thể nói là rất kém, điều này cũng dẫn đến một hệ lụy tất
yếu khác đó là sức cạnh tranh cảu các mặt hàng sản xuất từ các DN này rất kém, sản
phẩm làm ra với chât lượng thấp và mẩu mã xấu nên rất kho lưu thông trên thị trường
trong nước và xuất khẩu, mặt khác do trang thiết bị lạc hậu nên giá thành trên một đơn
vị sản phẩm là rất cao nên nó càng hạn chế khả năng cạnh tranh và tiêu thụ những sản
phẩm này. Công nghệ lạc hậu và chậm thay đổi không chỉ dẫn đến tình trạng trên mà nó
còn ảnh hưởng rất lớn đến ô nhiễm môi trường sinh thái, cạn kiệt tài nguyên, điều này
ảnh hưởng đến mục tiêu phát triển bền vững của thành phố. Hiện nay, mức độ đầu tư
đổi mới công nghệ của các DNNVV thành phố là rất thấp cần phải thay đổi thay đổi để
bắt kịp được tốc độ phát triển và yêu cầu của nền kinh tế thành phố đang ngày càng
năng động.
Ngoài ra chính sách bảo hộ bất hợp lý, môi trường kinh doanh chưa bình đẳng
giữa các thành phần kinh tế, cơ chế bao cấp nhiều đặc quyền đặc lợi còn tồn tại đối với
một bộ phận doanh nghiệp, thêm vào đó là sự bất ổn định trong cơ chế chính sách của
chính quyền thành phố và của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền là những yếu tố làm
cho các doanh nghiệp có xu hướng muốn tìm kiếm những đặc quyền này để đem lại

bằng sản xuất, thường phải sử dụng nhà riêng và thuê mướn của tư nhân với giá thuê
đất cao, vẫn còn sự phânbiệt. Các doanh nghiệp lớn thuộc khu vực kinh tế quốc doanh
thường được ưu đãi về địa điểm và diện tích nhưng về hiệu quả sử dụng thì lại kém và
lãng phí. Trong sự phân biệt đối xử này thì không ai khác ngoài các DNNVV khu vực
dân doanh phải là người chịu thiệt thòi trên tất cả mọi phương diện. Các DNNVV khu
vực dân doanh thường gặp rất nhiều khó khăn trong việc thuê, cũng như mua bán các
địa điểm mặt bằng sản xuất, một phần là do thủ tục rất rắc rối phần khác là với số vốn ít
ỏi của mình, để có được một mặt bằng kinh doanh tốt là điều không thể. Thứ hai, đó là
việc vay vốn rất khó khăn bởi vì nó đòi hỏi DN phải chứng thực được khả năng kinh
doanh cũng như khả năng về tài chính của mình, đó là chưa kể đến các thủ tục rất phức
tạp, đi vay các cơ quan tín dụng nhà nước tuy lãi suất thấp nhưng rất khó đi vay và làm
thủ tục để được vay, lại còn bị giới hạn số tiền được vay, còn đi vay các ngân hàng thì
lãi suất cao lại thêm vào các điều kiện ràng buộc rất phức tạp; trong khi đó các doanh
nghiệp nhà nước hoặc được bảo trợ của nhà nước thì thực hiện công việc này rất dễ
dàng, Nhà nước đã có chính sách hỗ trợ vay vốn tín dụng nhưng việc tiếp cận nguồn
vốn này gặp nhiều trở ngại do giá trị thế chấp nhỏ, không có khả năng bảo lãnh tín
dụng. Nhiều doanh nghiệp khi thuê đất thì tiền đền bù gần bằng với giá mua đất nhưng
lại không được thế chấp để vay vốn.
Hiện nay, các khoản vay của các DNNVV của Việt Nam chiếm tới 80% là của
các tổ chức phi tài chính và người thân, chỉ có 20% là vay tín dụng từ ngân hàng. Một
mặt khác và cũng là vấn đề mấu chốt quan trọng đó là tiếp cận thông tin thị trường, đây
cũng là khâu yếu nhất và bị động nhất của các DNNVV thành phố, vấn đề này xuất phát
từ hai nguyên nhân; nguyên nhân chủ quan đó là các DN rất thụ động trong việc tìm
kiếm thông tin, tin học hóa và phát triển công nghệ yếu, nhiều doanh nghiệp hầu như
không chú ý tới mặt này; nguyên nhân khách quan đó là việc truyền tải thông tin của
các cơ quan chức năng tới các DNNVV là rất yếu, đơn cử đó việc áp dụng hình thức mã
vạch trong thuế, việc này đã được tiến hành nhưng lại rất rườm rà và rất lâu.
Hệ thống pháp luật và môi trường kinh doanh đang được xây dựng và hoàn thiện
để phù hợp với tình hình mới, phù hợp với xu thế, bối cảnh hội nhập kinh tế khu vực và
toàn cầu hóa. Tuy nhiên, chúng ta có thể nhận thấy rằng là tuy đã có cơ chế song các cơ

nghiệp vụ quản lý cũng như tay nghề của lực lượng lao động còn thấp, lại rất bị động
khi tiếp cận thông tin, chưa nhanh nhạy nắm bắt luật lệ, quy tắc, thiếu kinh nghiệm và
kỹ năng trong tiếp xúc, đàm phán kinh doanh và xúc tiến thương mại, chưa có thói quen
kinh doanh, hợp tác kinh doanh, quảng cáo hàng hóa qua mạng Website... Các DNNVV
chưa hiểu rằng khi mở rộng cửa với thế giới thì mọi doanh nghiệp đều phải chịu sức ép
cạnh tranh rất lớn. Cạnh tranh cả trong nội bộ các DNNVV trong nước và với các doanh
nghiệp của nước ngoài. Sự cạnh tranh đó khiến mỗi DNNVV có thể vượt lên tầm cao số
lượng, chất lượng để phát triển, hoặc là tụt lùi lại phía sau, thậm chí phá sản. Đó là chưa
tính đến chuyện các DNNVV còn phải đưa hàng hoá ra cạnh tranh ở nước ngoài.
DNNVV thiếu thông tin và vẫn bị lép vế trong các mối quan hệ (với nhà nước, thị
trường, ngân hàng, với các trung tâm khoa học và trung tâm đào tạo….). Trong thời đại
hiện nay, vấn đề thông tin là một yếu tố quan trọng đối với sự thành công và thất bại
của doanh nghiệp, việc tiếp cận và ứng dụng Internet vào hoạt động kinh doanh đối với
các DNNVV hạn chế hơn các công ty lớn do họ không đủ khả năng chuyên môn cũng
như chi phí khá cao so với quy mô của doanh nghiệp nhỏ.
Tóm lại, những nguyên nhấn chính có thể nhận thấy rất rõ ràng đó là: Nền tảng
KT – XH của TP cón thấp; tinh thần của doanh nghiệp và người dân thành phố chưa
cao; thếu vốn, thêm vào đó là chi phí đầu vào cao; thiếu mặt bằng sản xuất kinh doanh
ổn định lau dài; khó khăn ở khâu tiếp cận thị trường, máy móc công nghệ lạc hậu; vấn
đề quản lý nhà nước chưa thật sự đúng mức, đặc biệt là cấp địa phương và điều cuối
cùng là thiếu thông tin, phương tiện xữ lý thông tin & tư vấn. Những điều trên đã đưa
trên đã đưa đến một thực trạng phát triển DNNVV như đã phân tích ở trên.
II/ Thực trạng hỗ trợ DNNVV trong những năm qua
1. Hệ thống các kênh hỗ trợ
Hệ thống thể chế hỗ trợ DNNVV tại Việt Nam hoạt động dưới sự chỉ đạo của
Thủ tướng được thành lập theo Nghị định 90/2001/NÐ-CP ngày 23/11/2001.
Hội đồng Khuyến khích phát triển DNNVV làm cố vấn cho Thủ tướng trong
công tác phát triển DNNVV do Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư làm chủ tịch. Cục
Phát triển DNNVV là cơ quan điều phối chính sách liên quan tới DNVV ở cấp trung
ương đồng thời đóng vai trò là thư ký thường trực cho Hội đồng khuyến khích phát


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status