NHẬN XÉT CỦA GVHD
………………………………………………………………………………………...
………………………………………………………………………………………...
………………………………………………………………………………………...
………………………………………………………………………………………...
………………………………………………………………………………………...
………………………………………………………………………………………...
………………………………………………………………………………………...
………………………………………………………………………………………...
………………………………………………………………………………………...
………………………………………………………………………………………...
………………………………………………………………………………………...
………………………………………………………………………………………...
………………………………………………………………………………………...
Lời cảm ơn
Trong quá trình thực hiện bài tiểu luận “CHIẾN LƯỢC XUẤT KHẨU BAO BÌ
NHỰA CỦA CÔNG TY CỔ PHẦN NHỰA VÀ MÔI TRƯỜNG AN PHÁT SANG
MỸ”, em đã nhận được sự giúp đỡ của rất tận tình của quý thầy cô, các khoa, thư
viện…, vì vậy việc nghiên cứu những dữ kiện thực tế và phối hợp với những lý
thuyết đã học hết sức thuận lợi. Em xin chân thành gửi lời cảm ơn tới:
- Ban giám hiệu trường Đại Học Công Nghiệp TP.HCM đã tạo mọi điều kiện
cơ sở vật chất tốt nhất để em nghiên cứu và thực hiện bài tiểu luận này.
- Khoa Thương Mại Du Lịch và đặc biệt thầy Mai Thanh Hùng đã chỉ dạy nhiệt
tình giúp em có được lượng kiến thức cơ bản làm nền tảng để thực hiện bài
tiểu luận này.
Trong quá trình thực hiện bài tiểu luận này, do hạn chế về mặt kiến thức năng lực
chủ quan. Nên em không thể tránh khỏi những thiếu sót, vì thế nhóm rất mong nhận
được những ý kiến đóng góp từ thầy và các bạn để đề tài này có thể hoàn thiện hơn.
Em xin chân thành cảm ơn
PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài nghiên cứu
môi trường AN Phát sang Mỹ.
- Phạm vi nghiên cứu: đề tài chỉ tập trung nghiên cứu về môi trường vĩ mô tại
Mỹ, môi trường vi mô, những điểm mạnh, điểm yếu, những cơ hội hay thách
thức của doanh nghiệp trong dự án xuất bao bì nhựa để đưa ra chiến lược sản
phẩm phù hợp với từng thị trường, từng khách hàng..
3. Mục tiêu nghiên cứu đề tài
- Nghiên cứu yếu tố vĩ mô, vi mô ảnh hưởng đến việc có nên chọn thị trường đó
để thâm nhập hay không?
- Nghiên cứu những đặc tính nổi trội của sản phẩm so với các sản phẩm khác
- Sau đó sẽ đưa ra đánh giá chung về thị trường đã chọn và sản phẩm đó có thể
được người tiêu dùng chấp nhận hay không, đánh giá có khả thi hay không khả thi.
Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phương pháp thống kế, phương pháp so sánh, tổng hợp từ cơ sở lý
luận và thu thập thông tin dữ liệu từ cơ sở dữ liệu thứ cấp như qua sách, báo chí,
internet, các tập chí, các trang web…
4. Kết cấu đề tài
Kết cấu nội dung bao gồm ba chương
Chương 1: lý luận về marketing quốc tế và nghiên cứu thị trường quốc tế
Chương 2: Nghiên cứu thị trường Mỹ cho chiến lược xuất khẩu bao bì nhựa của
công ty cổ phần nhựa và môi trường An Phát
Chương 3: Đánh giá về đề tại môn học đã chọn.
2
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN VỀ MARKETING QUỐC TẾ VÀ NGHIÊN CỨU THỊ
TRƯỜNG QUỐC TẾ
Bản chất của marketing quốc tế
1.1.1. Marketing là gì?
Khái niệm Marketing đã được định nghĩa bằng nhiều cách bởi nhiều tác giả khác
nhau. Tuy nhiên, định nghĩa ở đây chỉ giới hạn theo quan điểm của doanh nghiệp như
sau: “Marketing là cầu nối giữa hai chức năng cơ bản: sản xuất và tiêu thụ”
Có hai cách định nghĩa cụ thể hơn về Marketing :
nhập; Marketing này không giống Marketing trong nước vì chúng ta phải đương đầu
với một loại cạnh tranh mới, cách ứng xử của người tiêu thụ cũng khác, hệ thống
phân phối, quảng cáo khuyến mãi khác nhau và sự việc càng phức tạp hơn nữa vì mỗi
quốc gia đều có môi trường Marketing khác nhau, thử thách quan trọng ở đây là các
Công ty phải hiểu môi trường khác nhau ở từng nước để có chính sách phù hợp, đó là
lý do tại sao các chuyên viên Marketing cao cấp thành công ở một nước này nhưng
lại rất ngán ngại khi có yêu cầu điều động sang một nước khác.
Marketing đa quốc gia ( Multinational Marketing)
Nhấn mạnh đến sự phối hợp và tương tác hoạt động Marketing trong nhiều môi
trường khác nhau. Nhân viên Marketing phải có kế hoạch và kiểm soát cẩn thận
nhằm tối ưu hóa sự tổng hợp lớn nhất là tìm ra sự điều chỉnh hợp lý nhất cho các
chiến lược Marketing được vận dụng ở từng quốc gia riêng lẻ.
Nghiên cứu thị trường quốc tế
Nhiệm vụ của việc nghiên cứu thị trường thế giới
Thị trường thế giới của doanh nghiệp là tập hợp những khách hàng nước ngoài
tiềm năng của doanh nghiệp đó.
Nghiên cứu thị trường thế giới là một quá trình thu thập tài liệu và các thông tin
về thị trường, so sánh và phân tích các thông tin đó, rút ra kết luận về xu hướng biến
động của thị trường thế giới trong từng ngành hàng, nhóm hàng tạo cơ sở để xây
dựng các chiến lược marketing của các doanh nghiệp. Cụ thể quá trình này phải giải
quyết các vấn đề sau:
Xác định nước nào là thị trường có triển vọng nhất cho việc xuất khẩu hàng
của ta hoặc họ đáp ứng việc nhập khẩu với điều kiện thuận lợi, khả năng mua
bán là bao nhiêu.
Xác định mức cạnh tranh trên thị trường hiện tại và tương lai, đặc điểm mạnh
yếu của đối thủ cạnh tranh .
4
Áp dụng những phương thức mua bán cho phù hợp sản phẩm của chúng ta
muốn thâm nhập thị trường đó cần đạt yêu cầu về chất lượng (ISO.9000;
HACCP), số lượng, bao bì đóng gói...
5
• Qui chế của chính phủ đối với các luật lệ, văn phòng đại diện và chi nhánh của
Công ty ở nước ngoài.
• Các thủ tục hải quan, thuế hải quan những qui định và các yếu tố ảnh hưởng
đến buôn bán.
• Giấy phép xuất nhập khẩu, hồi chuyển lợi tức, qui định về lương thực, thực
phẩm, y tế, an toàn kiểm dịch cần phải đảm bảo.
• Luật đầu tư nước ngoài và các văn bản có liên quan.
• Thuế ngoài thuế xuất nhập khẩu: thuế VAT, tiêu thụ đặc biệt, thu nhập doanh
nghiệp…
• Hạn ngạch xuất nhập khẩu. (quota)
• Luật pháp trong quảng cáo của từng nước, luật chống phá giá.
• Chính trị có ổn định không?
Môi trường cạnh tranh
• Bằng sản phẩm: đưa ra sản phẩm chất lượng cao hơn, bao bì đẹp hơn.
• Bằng giá: định giá thấp hơn đối thủ, bớt giá.
• Bằng hệ thống phân phối: ưu đãi cho những thành viên trong kênh phân phối
cao hơn đối thủ.
• Bằng quảng cáo và khuyến mãi.
• Ðối với sau bán hàng tốt hơn.
• Phương thức chi trả thuận lợi hơn.
Khi nghiên cứu cạnh tranh, cần xác định:
• Ai là đối thủ của mình.
• Ðối thủ từ đâu đến?, nếu đối thủ từ nước khác đến như mình nhà xuất khẩu
tìm cách cạnh tranh bằng giá cả, chất lượng; nếu đối thủ ở ngay nước sở tại,
nhà xuất khẩu có thể thành công bằng sản phẩm mới chất lượng cao hơn.
• Ðối thủ có lợi thế gì và nhà xuất khẩu có lợi thế gì hơn đối thủ.
• Có chỗ nào cho Công ty và đối thủ cùng hợp tác với nhau hay không?
Môi trường văn hóa, xã hội
Ảnh hưởng đến hành vi thái độ của khách hàng, nó là những yếu tố hợp thành thị
có hiệu quả. Nhờ nghiên cứu, bạn không phải lãng phí tiền bạc và công sức cho
những hy vọng sai lầm, đặc biệt khi bạn tiến hành xuất khẩu lần đầu. Mặt khác, cũng
cần lưu ý rằng nghiên cứu thị trường không phải là điều đảm bảo chắc chắn cho sự
thành công trong kinh doanh, tuy nhiên nó sẽ giúp bạn tránh được nhiều quyết định
sai lầm.
Nghiên cứu thị trường có thể hỗ trợ:
7
Giúp tìm ra những thị trường lớn nhất cho sản phẩm của bạn, các thị trường tăng
trưởng nhanh nhất, các xu hướng và triển vọng của thị trường, các điều kiện, tập quán
kinh doanh và cơ hội dành cho sản phẩm của bạn trên thị trường.
Cho phép thu gọn tầm nhìn và nỗ lực một cách hiệu quả vào một lĩnh vực, phạm
vi nhất định. Từ đó bạn có thể đặt ra các ưu tiên đối với một thị trường mục tiêu cụ
thể và lên kế hoạch cho các thị trường tương lai ở mức độ dài hạn hơn.
Giúp bạn xác định các "thủ thuật" giới thiệu sản phẩm tốt nhất. Sau một thời
gian, ví dụ một năm, qua nghiên cứu bạn có thể đánh giá được các nỗ lực của mình
cũng như của các đối tác thương mại để từ đó có thể tiến hành những điều chỉnh cần
thiết ở từng thị trường.
Giúp hiểu rõ về các đối thủ cạnh tranh, bao gồm cả điểm mạnh và điểm yếu,
những sai lầm cũng như nguyên nhân thành công của họ.
Có thể giúp tìm ra các ý tưởng để phát triển sản phẩm mới.
Giúp củng cố quan hệ làm ăn nghiêm túc với đối tác do quan tâm và am hiểu về
thị trường của họ.
Nghiên cứu thị trường-Cách tiếp cận "chủ động"
Nghiên cứu thị trường giúp bạn nắm được các diễn biến mới nhất trên thị trường
mục tiêu, từ đó đưa ra các quyết định marketing nhanh chóng. Trong môi trường kinh
doanh quốc tế biến động rất nhanh, bạn cần một cách tiếp cận chủ động như vậy và
đó thực sự là lợi thế cạnh tranh của bạn.
Ngay cả trong giai đoạn dân số tăng trưởng chậm vẫn xuất hiện những xu hướng
và những nhóm khách hàng mục tiêu mới, chảng hạn như số lượng người cao tuổi
hoặc các hộ độc thân ngày càng đông. Cả hai nhóm này đều tìm kiếm những sản
9
Nguồn ảnh: Công ty An Phát
Công ty cổ phần Nhựa và Môi trường xanh An Phát (tên cũ là Cty cổ phần Nhựa
& Bao bì An Phát), đựơc thành lập ngày 9/3/2007 với vốn Điều lệ ban đầu là
66.000.000.000 đồng (Sáu mươi sáu tỷ đồng) và là thành viên của Hiệp hội nhựa
Việt Nam, thành viên của Hiệp hội những nhà sản xuất sản phẩm lớn Quốc tế
(APS). Công ty có trụ sở chính tại Lô CN 11 + CN 12, Cụm công nghiệp An
Đồng, thị trấn Nam Sách, huyện Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Với gần 100 cán bộ,
nhân viên trẻ có trình độ chuyên môn cao, cùng khoảng gần 1000 công nhân lành
nghề, công ty đang phấn đấu nỗ lực hết mình, không ngừng cải thiện dây chuyền
kỹ thuật, công nghệ sản xuất để trở thành Doanh nghiệp sản xuất bao bì và màng
mỏng lớn nhất Việt Nam.
Hiện An Phát có 3 nhà máy sản xuất bao bì và một nhà máy sản xuất phụ gia
CaCO3: Nhà máy số 1 hoạt động trong lĩnh vực tái chế nhựa sản xuất túi, bao bì
đựng thực phẩm, túi rác, màng ni-lon chuyên dùng trong nông nghiệp và sản xuất
hạt nhựa tái chế HDPE, LDPE nhiều màu. Công suất thiết kế của NM1 khoảng
1.000 tấn/tháng, đuợc xây dựng trên diện tích 10.000 m2 tại Lô 8, Khu công
nghiệp Nam Sách, Ái Quốc, Nam Sách, Hải Dương. Nhà máy số 2 đựơc khởi
công xây dựng vào tháng 5/2007 tại Cụm công nghiệp An Đồng trên diện tích
50.000m2 và bắt đầu đi vào hoạt động vào tháng 3/2008. Vận hành hết công suất,
mỗi tháng NM2 cung cấp cho thị trường khoảng 700 tấn sản phẩm bao bì mỏng
10
chất lượng cao. Trên đà phát triển của Cty, tháng 9 năm nay (2009), An Phát chính
thức đưa Nhà máy 3 đi vào hoạt động với sản phẩm chiến lược là túi cuộn cao cấp
chuyên dùng trong ngành thực phẩm có sản lượng hàng tháng khoảng 700
tấn/tháng. Đây là một dấu mốc quan trọng đánh dấu bước trưởng thành của An
Phát. Đáng chú ý, cả ba nhà máy trên của An Phát đều có dây chuyền sản xuất
được nhập khẩu từ Đài Loan, Singapore và Nhật Bản.
Tọa lạc tại Khu công nghiệp phía Nam - Thành phố Yên Bái, nhà máy sản xuất
PTGĐ- KINH
DOANH
PTGĐ TÀI CHÍNH
P.tài chính-
kế toán
P. kinh
doanh
X.CK
CTK
M
P.kỹ
thuật sản
xuất
Văn
phòng
cty
P.kế
hoạch-
đầu tư
PX 1,2,3
TỔNG GIÁM ĐỐC
NGUỒN CUNG :
Nguồn cung trong nước
Nguồn cung chủ yếu là các cơ sở thu mua lớn ở Tp.HCM và các tỉnh thành lân cận.
Danh sách các cơ sở được đánh giá cung cấp nguồn nguyên vật liệu ổn định cho công
ty:
Cơ sở thu mua phế liệu Phan Bá Lợi
Địa chỉ: tổ 30 đông thạnh - mỹ thạnh thị xã long xuyên, An Giang
Tel : 3831304
Cơ sở thu mua phế liệu Hải Thanh
tiêu thụ rộng rãi trên toàn quốc và một số nước trong khu vực Đông Nam Á, đồng
thời cung cấp cho các tập đoàn đa quốc gia và các khách hàng quốc tế như: Nhật,
Mỹ, Đức, Pháp, Thụy Sĩ...
Để chuẩn bị cho tiến trình hội nhập thương mại quốc tế, Công ty cổ phần Nhựa Tân
Phú đã không ngừng cải tiến trang bị cho mình các yếu tố cần thiết để cạnh tranh và
13
hòa nhập với thị trường, áp dụng những công nghệ tiên tiến và những máy móc hiện
đại để kịp thời đáp ứng đòi hỏi ngày càng khắt khe của thị trường trong nước và quốc
tế.
Việc thay đổi hình thức sở hữu là bước ngoặt quan trọng mở ra nhiều cơ hội nhưng
cũng đầy thách thức để Công ty đẩy hoạt động SXKD về mọi mặt nhằm phát triển
vững chắc và tạo nên một thương hiệu mạnh trên thị trường ngành nhựa trong và
ngoài nước. Công ty có đội ngũ cán bộ nhiều kinh nghiệm và dây chuyền máy móc
thiết bị với công nghệ hiện đại của các nước phát triển: Mỹ, Nhật, Hàn quốc, Đài
loan và luôn được đầu tư đổi mới; kết hợp cùng Hệ thống quản lý chất lượng sản
phẩm ISO 9001:2000.
Trong nhiều năm liền, sản phẩm của Công ty luôn được các nhà sản xuất và người
tiêu dùng tin tưởng, lựa chọn; đồng thời có một số sản phẩm đã nhiều năm liền đạt
Huy chương vàng, cúp vàng tại các kỳ hội chợ triển lãm hàng công nghiệp, góp phần
xây dựng và tôn vinh thương hiệu Việt. Công ty bước đầu đã xuất khẩu sản phẩm
sang một số nước trong khu vực, dần tiến đến mở rộng thị trường xuất khẩu hơn nữa
vào các năm tới. Chất lượng sản phẩm và uy tín thương hiệu là tôn chỉ hàng đầu của
Công ty CP nhựa Tân Phú. Để đáp lại sự tin cậy của khách hàng, đội ngũ CBCNV
chúng tôi luôn đặt mục tiêu phấn đấu không ngừng là chỉ sản xuất ra các sản phẩm
“Chất lượng cao - Mẫu mã đa dạng - Giá thành hợp lý - Hậu mãi chu đáo”.
2.2. TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG MỸ :
2.2.1. KHÁI QUÁT VỀ MỸ:
- Địa lý: Mỹ là nước cộng hòa lập hiến liên bang gồm có 50 tiểu bang và một quận
liên bang. Thủ đô là Washington DC nằm giữa Bắc Mỹ. Mỹ quốc giáp Thái Bình
Dương ở phía tây, Đại Tây Dương ở phía đông, Canada ở phía bắc và Mexico ở phía
bánh tròn nhỏ có những hạt sô cô la trộn lẫn gọi là chocolate chip cookie là những
loại thực phẩm đậm phong cách Mỹ.
Các món ăn mang tính hình tượng của Mỹ như bánh nhân táo, pizza, hamburger và
hot dog là những món ăn đút kết từ những phương thức chế thức ăn đa dạng của các
di dân đến từ châu Âu. Loại thức ăn gọi là khoai tây chiên kiểu Pháp, các món
Mexico như burritos và taco, pasta là có nguồn gốc từ Ý được mọi người khắp nơi
thưởng thức.
- Dân số :Dân số của Mỹ khoảng 301 triệu dân (theo thống kê năm 2007)
- Ngôn ngữ: Có khoảng 337 ngôn ngữ nói hoặc ngôn ngữ bằng dấu tại Hoa Kỳ mà
trong đó khoảng 176 là có nguồn gốc bản địa. 52 ngôn ngữ nói trong lãnh thổ của
Hoa Kỳ ngày nay đã tuyệt chủng.
Tiếng Anh là ngôn ngữ chính. Khoảng 10% dân số Mỹ sử dụng tiếng Tây Ban Nha.
- Tôn Giáo: Khoảng hơn 76% dân số Mỹ theo đạo Cơ-đốc giáo.
2.2.2. ĐẶC ĐIỂM ĐỊA LÍ:
15
Mỹ là quốc gia có tổng diện tích lớn thứ ba hoặc thứ tư trên thế giới, trước hoặc sau
Cộng hòa Nhân dân Trung hoa, tùy theo hai lãnh thổ mà Ấn Độ và Trung Hoa đang
tranh chấp có được tính vào lãnh thổ Trung Hoa hay không. Nếu chỉ tính về phần mặt
đất thì Hoa Kỳ lớn hạng ba sau Nga và Trung Hoa nhưng đứng ngay trước Canada
(Canada lớn hơn Hoa Kỳ về tổng diện tích nhưng phần lớn lãnh thổ phía bắc của
Canada là những khối băng, không phải là mặt đất).[16] Hoa Kỳ Lục địa trải dài từ
Đại Tây Dương đến Thái Bình Dương và từ Canada đến Mexico và Vịnh Mexico.
Alaska là tiểu bang lớn nhất về diện tích, giáp Thái Bình Dương và Bắc Băng Dương
và bị Canada chia cách khỏi Hoa Kỳ Lục địa. Hawaii gồm một chuỗi các đảo nằm
trong Thái Bình Dương, phía tây nam Bắc Mỹ. Puerto Rico, lãnh thổ quốc hải đông
dân nhất và lớn nhất của Hoa Kỳ, nằm trong đông bắc Caribbe. Trừ lãnh thổ Guam
và phần cận tây nhất của Alaska, hầu như tất cả Hoa Kỳ nằm trong tây bán cầu.
Đồng bằng sát duyên hải Đại Tây Dương nhường phần xa hơn về phía bên trong đất
liền cho các khu rừng dễ rụng lá theo mùa và các ngọn đồi trập chùng của vùng
Piedmont. Dãy núi Appalachian chia vùng sát duyên hải phía đông ra khỏi vùng Ngũ
xuất xứ bản địa và thường gây tác hại đến các cộng đồng động thực vật bản địa. Đạo
luật các loài có nguy cơ tuyệt chủng năm 1973 đã giúp bảo vệ các loài vật hiếm quí,
có nguy cơ tuyệt chủng. Nơi cư ngụ của các loài được bảo vệ thường xuyên được
Cục hoang dã và cá Hoa Kỳ theo dõi.
Năm 1872, công viên quốc gia đầu tiên trên thế giới được thiết lập tại Yellowstone.
Năm mươi bảy công viên quốc gia khác và hàng trăm công viên và rừng do liên bang
đảm trách khác đã được hình thành từ đó. Các khu hoang dã đã được thiết lập quanh
khắp quốc gia để bảo đảm sự bảo vệ nơi cư ngụ ban sơ của các loài động thực vật
một cách dài hạn. Tổng cộng, chính phủ Hoa Kỳ điều hợp 1.020.779 dặm vuông
(2.643.807 km²), hay 28,8 phần trăm tổng diện tích đất của quốc gia. Các công viên
và đất rừng được bảo vệ chiếm đa số phần đất này. Cho đến tháng 3 năm 2004,
khoảng 16 phần trăm đất công cộng dưới quyền của Cục Quản lý Đất đã được thuê
mướn cho việc khoan tìm khí đốt thiên nhiên và dầu hỏa thương mại; đất công cũng
được cho thuê để khai thác mỏ và chăn nuôi bò. Hoa Kỳ là nước thải khí carbon
dioxide đứng thứ hai sau Trung Hoa trong việc đốt cháy các nhiên liệu hóa thạch.
Chính sách năng lượng của Hoa Kỳ bị bàn cãi khắp nơi; nhiều lời kêu gọi đưa ra yêu
cầu đất nước nên đóng vai trò lãnh đạo trong cuộc chiến chống hiện tượng nóng lên
của trái đất.
2.2.4. Chính phủ và chính trị
Hoa Kỳ là liên bang tồn tại lâu đời nhất trên thế giới. Quốc gia này là một cộng hòa
lập hiến mà "trong đó khối đa số cầm quyền bị kiềm chế bởi quyền của khối thiểu số
được luật pháp bảo vệ." Trên cơ bản Hoa Kỳ có cơ cấu giống như một nền Dân chủ
đại nghị mặc dù các công dân Hoa Kỳ sinh sống tại các lãnh thổ không được tham
gia bầu trực tiếp các viên chức liên bang. Chính phủ luôn bị chỉnh lý bởi một hệ
thống kiểm tra và cân bằng do Hiến pháp Hoa Kỳ định nghĩa. Hiến pháp Hoa Kỳ là
tài liệu pháp lý tối cao của quốc gia và đóng vai trò như một bản khế ước xã hội đối
với nhân dân Hoa Kỳ. Trong hệ thống liên bang của Hoa Kỳ, công dân Hoa Kỳ có ba
17
cấp bậc chính quyền, đó là liên bang, tiểu bang, và địa phương. Nhiệm vụ của chính
quyền địa phương thông thường được phân chia giữa chính quyền quận và chính
bang (theo dân số). Tối cao Pháp viện, do Thẩm phán trưởng Hoa Kỳ lãnh đạo, có
chín thành viên phục vụ cả đời trừ khi tự từ chức hay qua đời.
18
Tất cả các luật lệ và thủ tục pháp lý của chính phủ liên bang và chính quyền tiểu bang
đều phải chịu sự duyệt xét, và bất cứ luật nào bị xét thấy là vi hiến bởi ngành tư pháp
đều bị đảo ngược. Văn bản gốc của Hiến pháp thiết lập cơ cấu và những trách nhiệm
của chính phủ liên bang, quan hệ giữa liên bang và từng tiểu bang, và những vấn đề
trọng yếu về thẩm quyền kinh tế và quân sự. Điều một của Hiến pháp bảo vệ quyền
đòi bồi thường nếu bị giam cầm bất hợp pháp, và Điều ba bảo đảm quyền được xét
xử bởi một đoàn bồi thẩm trong tất cả các vụ án hình sự. Các Tu chính án Hiến pháp
cần phải có sự chấp thuận của ba phần tư tổng số các tiểu bang. Hiến pháp được tu
chính 27 lần; mười tu chính án đầu tiên tạo nên Đạo luật Nhân quyền, và Tu chính án
14 hình thành cơ bản trọng tâm các quyền cá nhân tại Hoa Kỳ.
Chính trị tại Hoa Kỳ hoạt động dưới một hệ thống lưỡng đảng gần như suốt chiều dài
lịch sử Hoa Kỳ. Đối với các chức vụ được đưa ra bầu cử ở các cấp, bầu cử sơ bộ do
tiểu bang đảm trách sẽ được tổ chức để chọn ra các ứng cử viên của từng đảng chính
yếu để chuẩn bị cho tổng tuyển cử sau đó. Từ lần tổng tuyển cử năm 1856, hai đảng
có ảnh hưởng chi phối là Đảng Dân chủ được thành lập năm 1824 (mặc dù nguồn gốc
của đảng có thể lần tìm ngược về năm 1792), và Đảng Cộng hòa thành lập năm 1854.
Tổng thống đương nhiệm, Barack Obama, là một người thuộc Đảng Dân chủ. Theo
sau các cuộc bầu cử giữa kỳ năm 2006 và cuộc tổng tuyển cử năm 2008, Đảng Dân
chủ kiểm soát cả Thượng viện và Hạ viện. Thượng viện Hoa Kỳ có hai thượng nghị
sĩ độc lập (không thuộc đảng nào) — một là cựu đảng viên của Đảng Dân chủ, người
kia là người tự cho mình là theo chủ nghĩa xã hội. Mỗi thành viên của Hạ viện hiện
tại hoặc là thuộc Đảng Dân chủ hoặc là thuộc Đảng Cộng hòa. Đa số gần như tuyệt
đối các viên chức địa phương và tiểu bang cũng hoặc là thuộc Đảng Dân chủ hoặc là
thuộc Đảng Cộng hòa. Trong suốt chiều dài lịch sử, các cuộc bầu cử tổng thống ở
Hoa Kỳ luôn luôn có các ứng cử viên độc lập ra tranh cử tổng thống nhưng hầu hết
đều không nổi bật và hầu như không giành được phiếu đại cử tri nào (và cũng chỉ
chiếm một lượng rất nhỏ phiếu phổ thông). Tuy nhiên, trong một vài dịp hiếm hoi
ngoại giao chính thức với Hoa Kỳ.
Người theo chủ nghĩa cô lập Mỹ thường hay bất hòa với những người theo chủ nghĩa
quốc tế cũng giống như những người theo chủ nghĩa chống đế quốc bất hòa với
những người đề xướng cổ võ cho thuyết Vận mệnh hiển nhiên (Manifest Destiny) và
Đế quốc Mỹ. Chủ nghĩa đế quốc của Mỹ tại Philippines đã bị Mark Twain, triết học
gia William James, và nhiều người khác chỉ trích nặng nề. Sau này, Tổng thống
Woodrow Wilson đã đóng vai trò chính trong việc thành lập Hội Quốc Liên nhưng
Thượng viện Hoa Kỳ cấm không cho Hoa Kỳ trở thành thành viên của tổ chức này.
Chủ nghĩa cô lập đã trở thành một chuyện trong quá khứ khi Hoa Kỳ nắm vai trò lãnh
đạo trong việc thành lập Liên Hiệp Quốc, trở thành thành viên thường trực của Hội
20
đồng Bảo an Liên Hiệp Quốc và là nơi đóng tổng hành dinh Liên Hiệp Quốc. Hoa Kỳ
có mối quan hệ đặc biệt với Anh Quốc và liên hệ chặt chẽ với Úc, Tân Tây Lan, Nhật
Bản, Israel, và các thành viên đồng sự NATO. Hoa Kỳ cũng làm việc bên cạnh các
quốc gia láng giềng qua Tổ chức các quốc gia châu Mỹ và những thỏa thuận tự do
mậu dịch như Thỏa thuận Tự do Mậu dịch Bắc Mỹ ba bên với Canada và Mexico.
Năm 2005, Hoa Kỳ đã chi tiêu 27,3 tỉ đô la trong chương trình trợ giứp phát triển
chính thức, đứng nhất trên thế giới. Tuy nhiên nếu tính theo tỉ lệ tổng lợi tức quốc gia
(GNI), sự đóng góp của Hoa Kỳ chỉ là 0,22 phần trăm, đứng thứ hai mươi trong 22
quốc gia viện trợ tài chánh. Mặt khác, các tổ chức phi chính phủ như các quỹ, công
ty, và các tổ chức tôn giáo và giáo dục tư nhân đã cho tặng 95,5 tỉ đô la. Tổng số
122,8 tỉ đô la lần nữa đứng hạng nhất trên thế giới và hạng bảy tính theo phần trăm
tổng lợi tức quốc gia.
Ngày nay, Hoa Kỳ chủ trương mở rộng quan hệ hợp tác trên mọi lĩnh vực với rất
nhiều nước trên thế giới. Cùng với xu thế toàn cầu hóa, những chính sách của Hoa
Kỳ ảnh hưởng tương đối lớn tới an ninh chính trị, kinh tế của từng khu vực. Gần đây,
một số nhà nghiên cứu lý giải về chính sách đối ngoại của Hoa Kỳ với lý thuyết về
toàn cầu hóa. Khi mà Hoa Kỳ càng có quan hệ tốt với nhiều nước, lượng hàng hóa
lưu thông sẽ càng nhiều. Nói cách khác, chính sách của Hoa Kỳ trong thời đại mới là
làm giàu và thúc đẩy nâng cao dân trí cho các nước khác trên thế giới, với mục đích
thiên nhiên phong phú, một cơ sở hạ tầng phát triển tốt, và hiệu suất cao. Theo Quỹ
Tiền tệ Quốc tế, tổng sản phẩm nội địa của Hoa Kỳ hơn 13 ngàn tỉ đô la chiếm 20
phần trăm tổng sản phẩm thế giới. Đây là tổng sản phẩm nội địa lớn nhất thế giới, lớn
hơn một chút so với tổng sản phẩm nội địa kết hợp của Liên hiệp châu Âu ở sức mua
tương đương năm 2006. Hoa Kỳ đứng hạng 8 thế giới về tổng sản lượng nội địa trên
đầu người và hạng tư về tổng sản phẩm nội địa trên đầu người theo sức mua tương
đương. Hoa Kỳ là nước nhập cảng hàng hóa lớn nhất và là nước xuất cảng đứng hạng
nhì. Canada, Trung Hoa, Mexico, Nhật Bản, và Đức là các bạn hàng lớn nhất của
Hoa Kỳ. Hàng xuất cảng hàng đầu là máy móc điện, trong khi xe hơi chiếm vị trí
hàng đầu về nhập cảng. Nợ quốc gia của Hoa Kỳ lớn nhất trên thế giới; năm 2005
chiếm 23 phần trăm tổng số nợ toàn thế giới. Tính theo phần trăm tổng sản phẩm nội
địa, nợ của Hoa Kỳ xếp thứ 30 trong số 120 quốc gia mà số liệu sẵn có.
Phía cạnh tư nhân chiếm phần lớn nền kinh tế. Hoạt động kinh tế của chính phủ
chiếm 12,4% tổng sản phẩm nội địa. Nền kinh tế là hậu công nghiệp, với khía cạnh
dịch vụ đóng góp khoảng trên 75% tổng sản phẩm nội địa. Ngành thương nghiệp dẫn
đầu, tính theo tổng doanh thu là buôn bán sĩ và lẽ; theo lợi tức khấu trừ là tài chánh
và bảo hiểm.[66] Hoa Kỳ vẫn là một siêu cường công nghiệp với các sản phẩm hóa
học dẫn đầu ngành sản xuất.[67] Hoa Kỳ là nước sản xuất dầu lớn hạng ba trên thế
giới và nước tiêu thụ dầu đứng hạng nhất.[68] Đây là nước sản xuất năng lượng điện
và hạt nhân số một của thế giới cũng như khí đốt thiên nhiên hóa lỏng, nhôm, sulfur,
phosphat, và muối. Nông nghiệp chỉ chiếm 1% GDP nhưng chiếm 60% sản xuất
nông nghiệp của thế giới.[69] Vụ mùa hái ra tiền dẫn đầu của Hoa Kỳ là cần sa mặc
dù luật liên bang nghiêm cấm trồng và bán cần sa.[70]
22
Phố Wall là nơi có Sở Giao dịch Chứng khoán New York (NYSE)
Ba phần tư các cơ sở làm ăn tại Hoa Kỳ không có lập sổ lương bổng, nhưng chúng
chỉ chiếm một phần nhỏ giao dịch. Các hãng có sổ lương từ 500 hoặc nhiều hơn
chiếm 49,1 phần trăm tất cả các công nhân được trả lương; năm 2002, chiếm 59,1
phần trăm giao dịch.[71] Hoa Kỳ xếp hạng ba trong danh sách chỉ số thuận lợi làm ăn
của Ngân hàng Thế giới.[72] So với châu Âu, tài sản của Hoa Kỳ và thuế lợi tức thu