quản lý xung đột môi trường trong phát triển làng nghề bằng xây dựng khu sản xuất tách biệt và lập quỹ phòng chống ô nhiễm môi trường - Pdf 23

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN

THÂN TRUNG DŨNG
QUẢN LÝ XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG TRONG PHÁT TRIỂN
LÀNG NGHỀ BẰNG XÂY DỰNG KHU SẢN XUẤT TÁCH BIỆT
VÀ LẬP QUỸ PHÒNG CHỐNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
(Nghiên cứu trường hợp Làng nghề sơn mài Hạ Thái - Duyên Thái -Thường Tín - Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KHOA HỌC & CÔNG NGHỆ
Hà Nội-2009
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
THÂN TRUNG DŨNG
QUẢN LÝ XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG TRONG PHÁT TRIỂN
LÀNG NGHỀ BẰNG XÂY DỰNG KHU SẢN XUẤT TÁCH BIỆT
VÀ LẬP QUỸ PHÒNG CHỐNG Ô NHIỄM MÔI TRƯỜNG
(Nghiên cứu trường hợp Làng nghề sơn mài Hạ Thái - Duyên Thái -Thường Tín - Hà Nội)
LUẬN VĂN THẠC SĨ
CHUYÊN NGÀNH: QUẢN LÝ KH&CN
Mã số: 60.34.72
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRỊNH HOÀ BÌNH
Hà Nội-2009
2
LỜI CẢM ƠN
Để có được luận văn này, tác giả xin chân thành bày tỏ lòng cảm
tạ và biết ơn tập thể, cá nhân các Thầy, Cô trong và ngoài Khoa khoa
học quản lý - Trường Đại học Khoa học Xã hội & Nhân văn: PGS,TS
Vũ Cao Đàm, PGS,TS Phạm Ngọc Thanh, TS.Trần Văn Hải, TS. Mai
Hà, TS. Đào Thanh Trường v .v…đã trang bị cho tôi những kiến thức

6. Giả thuyết nghiên cứu 17
7. Phương pháp nghiên cứu 17
7.1. Phương pháp tiếp cận 17
7.2. Phương pháp thu thập thông tin cụ thể 18
8. Luận cứ chứng minh 18
9. Cấu trúc luận văn 19
PHẦN II. NỘI DUNG CHÍNH CỦA LUẬN VĂN 20
CHƯƠNG 1. CỞ SỞ LÝ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 20
1.1 Xung đột và các khái niệm liên quan 20
1.1.1. Khái niệm xung đột 20
4
1.1.2. Các dạng xung đột 21
1.1.3. Các đương sự xung đột 22
1.1.4. Cách thức xử lý xung đột 22
1.1.5. Các nguyên nhân xung đột 24
1.1.6. Các hậu quả của xung đột 25
1.2. Xung đột môi trường và các khái niệm liên quan 26
1.2.1 Khái niệm xung đột môi trường 26
1.2.2. Đặc điểm của xung đột môi trường 28
1.2.3. Các dạng xung đột môi trường 28
1.2.4. Các đương sự trong xung đột môi trường 30
1.2.5. Nguyên nhân xung đột môi trường 31
1.2.6. Các biện pháp công cụ chủ yếu giải quyết xung đột môi trường 33
1.3. Môi trường và các khái niệm liên quan 37
1.3.1. Môi trường 37
1.3.2. Ô nhiễm môi trường 38
1.4. Quản lý và các khái niệm liên quan 38
1.4.1. Quản lý 38
1.4.2. Quản lý môi trường 40
1.4.3. Quản lý xung đột môi trường 41

THỰC TRẠNG QUẢN LÝ XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG 73
VÀ GIẢI PHÁP QUẢN LÝ XUNG ĐỘT MÔI TRƯỜNG TRONG PHÁT
TRIỂN LÀNG NGHỀ SƠN MÀI HẠ THÁI 73
6
3.1. Thực trạng quản lý xung đột môi trường trong sự phát triển làng nghề sơn
mài Hạ Thái 73
3.1.1. Hệ thống quản lý môi trường làng nghề 73
3.1.2. Một số biện pháp giải quyết xung đột và quản lý môi trường làng nghề đã
thực hiện tại làng nghề sơn mài Hạ Thái 76
3.1.3. Thực trạng quản lý xung đột môi trường bằng xây dựng khu sản xuất tách
biệt và lập quỹ phòng chống ô nhiễm môi trường 86
3.2. Giải pháp quản lý xung đột môi trường ở làng nghề sơn mài Hạ Thái 105
3.2.1. Quan điểm và định hướng quản lý xung đột môi trường 105
3.2.2. Các giải pháp quản lý môi trường cụ thể ở làng nghề sơn mài Hạ Thái 107
3.2.3. Giải pháp quản lý xung đột môi trường làng nghề bằng xây dựng khu sản
xuất tách biệt và lập quỹ phòng chống ô nhiễm môi trường. 108
PHẦN III. KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 111
1. Kết luận 111
2. Khuyến nghị 114
7
PHẦN I. MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, ô nhiễm môi trường đang là vấn đề cấp bách mang tính toàn
cầu. Trong khi ở các nước công nghiệp hiện đại đang quan tâm lo lắng nhiều
đến sự ô nhiễm môi trường từ các nhà máy điện, hoá chất, từ các lò phản ứng
hạt nhân nguyên tử, hoặc các chất thải công nghiệp, thì ở Việt Nam nỗi quan
ngại đó lại được xuất phát ngay từ các làng nghề. Chủ đề môi trường trong
các làng nghề đã được bàn đến khá nhiều ở nước ta, trong đó nội dung được
bàn nhiều nhất là thực trạng ô nhiễm môi trường, những nguyên nhân công
nghệ của ô nhiễm, nhận thức của con người dẫn tới ô nhiễm. Mặc dù vậy, chủ

2. Lịch sử nghiên cứu
2.1. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
XĐMT từ lâu đã là một chủ đề quan trọng của nhiều ngành khoa học
như triết học, xã hội học, tâm lý học, luật học, quản lý học, quốc tế học…
Nhiều học giả nổi tiếng đã viết về chủ đề này như Karl Marx, Marx Weber,
Georg Simmel…Các nghiên cứu của các tác giả này đã cung cấp cơ sở lý
thuyết tương đối hoàn chỉnh cũng như những thực tiễn đa dạng, phong phú về
xung đột, XĐMT.
Karl Marx (1818-1883) đã đưa ra thuyết xung đột giai cấp theo đó, với
sự phát triển của phân công lao động và sở hữu xã hội sẽ hình thành nên các
giai cấp khác nhau bên trong một xã hội với những vị thế khác nhau trong quá
trình sản xuất của xã hội mà trước hết là sự chiếm hữu hay không chiếm hữu
các phương tiện sản xuất như máy móc, nguyên liệu và đất đai. Điều này dẫn
tới sự bất bình đẳng giữa các giai cấp, sự quan tâm khác nhau và đối kháng
với việc nên giữ lại hay phải thay đổi những dạng thống trị và sở hữu đang
tồn tại. Các cuộc đấu tranh giai cấp này có thể trì hoãn và thay thế bằng các
dạng và mặt trận mới nhờ đó thúc đẩy quá trình phát triển của lịch sử nhưng
9
về cơ bản không giải quyết được trong khuôn khổ các xã hội có giai cấp. Chỉ
có sự loại bỏ mọi mâu thuẫn giai cấp trong một xã hội tương lai không có sở
hữu cá nhân về phương tiện sản xuất, không có thống trị và phân công lao
động xã hội thì động lực cho các quyền lợi cá nhân và xung đột xã hội mới
được giải toả.
Marx Weber (1864 -1918) cho rằng, xung đột xã hội có những ý nghĩa
rất khác nhau. Nó tuỳ thuộc vào quyền lợi giai cấp do thị trường môi giới, nhu
cầu khác biệt của các cộng đồng xã hội hay quyền lợi, quyền lực của các Đảng.
Ông đã mở ra một cách đặt vấn đề quan trọng và mới mẻ cho thuyết xung đột:
vấn đề không phải chỉ còn là sự phá vỡ những cấu trúc xã hội đang tồn tại
thông qua xung đột hay là quan hệ quyền lực cuối cùng không có tính xã hội,
giữa hai người hành động là hành động xung đột xã hội mà nó tìm thấy được ý

hình về quản lý môi trường ở Ốtrâylia. Năm 1995, trung tâm này cũng đã xuất
bản cuốn sách: “Những rủi ro và cơ hội. Quản lý XĐMT và biến đổi môi
trường”. Đây là tài liệu hướng dẫn cho quản lý biến đổi môi trường và giải
quyết thành công các XĐMT.
Năm 1996, Chris Master đã cho ra đời cuốn sách dày 250 trang với nhan
đề: “Giải quyết XĐMT: hướng tới phát triển cộng đồng bền vững” (Resolving
Enviromental conflict: Towards Sustainable Community Devolopment). Chris
Master là một chuyên gia về lĩnh vực hoà giải môi trường, đồng thời là một nhà
nghiên cứu khoa học trong lĩnh vực lịch sử tự nhiên và sinh thái học. Ông đã
làm việc ở nhiều nơi trên thế giới như Hylạp, Nêpan, Nhật Bản, Đức, Canada,
Hà Lan, Thuỵ Điển, Pháp, Malaixia, Tiệp Khắc.
Năm 1998, Quốc hội Mỹ đã thành lập Viện nghiên cứu giải quyết
XĐMT (US Institute for Enviromental conflict Revolution - IECR) nhằm hỗ
trợ các đối tác trong việc giải quyết những xung đột và các tranh cãi về môi
trường, tài nguyên thiên nhiên, sử dụng đất thông qua các cuộc hoà giải,
11
thương lượng và hợp tác giải quyết khó khăn. Từ khi thành lập viện này đã tổ
chức nhiều khoá đào tạo, bồi dưỡng tập huấn về XĐMT dưới nhiều hình thức
khác nhau như: Chính sách môi trường và cộng đồng để giải quyết tranh chấp,
lý thuyết và thực tiễn hoà giải, các kỹ thuật và kỹ năng hoà giải, các mô hình
thương lượng v.v ”[14, tr.45-46].
Trên internet cũng xuất hiện ngày càng nhiều các trang web của các trường
đại học, các viên nghiên cứu, các trung tâm nghiên cứu của nhiều nước trên thế
giới liên quan đến khía cạnh môi trường, ô nhiễm môi trường và XĐMT.
Như vậy, từ lâu các nhà khoa học đã quan tâm nhiều đến các vấn đề
liên quan đến xung đột xã hội, XĐMT, gần đây vấn đề này ngày càng được
chú trọng quan tâm nhiều hơn. Những nghiên cứu trên đã cung cấp cơ sở lý
luận và thực tiễn sinh động cho việc giải quyết những XĐMT nhức nhối đang
diễn ra ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam.
2.2. Tình hình nghiên cứu trong nước

giả thuyết ban đầu của đề tài bị đổ vỡ khi cho rằng, cường độ của XĐMT tỷ lệ
thuận với mức độ của sự ô nhiễm. Điều này không đúng với thực tế, thậm chí
tại địa bàn khảo sát còn tồn tại xu thế đối nghịch. Do đó, công trình này đã
không đưa ra được những giải pháp hay nói cách khác không cần đưa ra giải
pháp vì trong nội tại cộng đồng Làng So không tồn tại XĐMT tới mức cần
phải có những can thiệp nhằm giải quyết xung đột [7,tr36].
Luận văn thạc sỹ “Giải pháp quản lý môi trường thông qua việc nhận
dạng XĐMT giữa cơ sở xử lý rác thải với cộng đồng dân cư sống xung
quanh” (nghiên cứu trường hợp tại bãi rác thải Nam Sơn, huyện Sóc Sơn,
thành phố Hà Nội) của tác giả Nguyễn Thị Thanh Huyền, 2006 đã nêu lên
thực trạng xung đột môi trường giữa cơ sở xử lý rác thải với cộng đồng dân
cư sống xung quanh và đưa ra những giải pháp: giải pháp trước mắt và giải
pháp lâu dài đối với bãi rác Nam Sơn. Luận văn cũng có những đóng góp cơ
13
bản về cả lý luận và thực tiễn.
Cuốn sách “Làng nghề Việt Nam và môi trường” NXB Khoa học và Kỹ
Thuật, Hà Nội, 2005 do các tác giả Đăng Kim Chi (chủ biên), Nguyễn Ngọc
Lân, Trần Lệ Minh, đã cho thấy một bức tranh toàn cảnh về lịch sử phát triển,
phân loại làng nghề Việt Nam; hiện trạng kinh tế xã hội làng nghề Việt Nam;
hiện trạng môi trường các làng nghề; những tồn tại ảnh hưởng đối với sự phát
triển kinh tế - xã hội làng nghề Việt Nam qua đó dự báo xu hướng phát triển
và mức độ ô nhiễm môi trường do hoạt động làng nghề tới năm 2010; nghiên
cứu định hướng xây dựng một số chính sách đảm bảo phát triển làng nghề bền
vững; đề xuất các giải pháp phát triển môi trường làng nghề. Các giải pháp
được đề xuất bao gồm các giải pháp về kỹ thuật giảm thiểu ô nhiễm môi trường
tại làng nghề và các giải pháp quản lý như quy hoạch không gian làng nghề,
sắp xếp lại các làng nghề theo hướng tập trung hay phân tán Cuốn sách là
một tài liệu quý giá cho những ai quan tâm đến các vấn đề làng nghề, đặc biệt
là vấn đề ô nhiễm môi trường làng nghề ở Việt Nam.
Đề tài “Hành vi sức khoẻ của cư dân nông thôn trong bối cảnh

gần đây nên chỉ có thể đưa ra những nhận định, những giải pháp mang tính
định hướng, chung chung cho các làng nghề.
Như vậy, tựu chung lại, cho đến nay, ở Việt Nam vẫn chưa có nhiều
nghiên cứu sâu về quản lý XĐMT trong phát triển làng nghề bằng xây dựng khu
sản xuất tách biệt và lập quỹ phòng chống ô nhiễm môi trường. Vì thế, tác giả
luận văn xác định đi sâu tìm hiểu với hy vọng sẽ làm sáng tỏ hơn vấn đề này.
3. Mục tiêu và nhiệm vụ của nghiên cứu
3.1. Mục tiêu nghiên cứu
- Tìm hiểu các biện pháp QLXĐ môi trong quá trình phát triển làng nghề.
- Đề xuất giải pháp quản lý XĐMT trong quá trình phát triển làng nghề bằng
xây dựng khu sản xuất tách biệt và lập quỹ phòng chống ô nhiễm môi trường.
15
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Xây dựng cơ sở lý thuyết cho việc tìm hiểu cách thức quản lý XĐMT
trong quá trình phát triển làng nghề.
- Tiến hành khảo sát thực địa tại làng nghề và phân tích những tài liệu
liên quan đến quản lý XĐMT làng nghề.
- Xử lý, phân tích các số liệu, thông tin thu thập được từ khảo sát hình
thành các luận cứ, luận chứng chứng minh các giả thuyết nghiên cứu.
- Đề xuất giải pháp quản lý XĐMT trong phát triển làng nghề bằng xây
dựng khu sản xuất tách biệt và thành lập quỹ phòng chống ô nhiễm môi trường.
4. Khách thể và phạm vi nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Làng nghề Sơn mài Hạ Thái – Duyên Thái - Thường Tín – Hà Nội và
cộng đồng dân cư làng nghề.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
+ Phạm vi về không gian: Các cơ sở sản xuất và cộng đồng dân cư
Làng nghề Sơn mài Hạ Thái.
+ Phạm vi về thời gian: Từ năm 1999 đến năm 2009.
5. Vấn đề nghiên cứu

Trên cơ sở phương pháp luận nhận thức duy vật biện chứng và duy vật
lịch sử của Mác, đề tài sử dụng phương pháp tiếp cận hệ thống; tiếp cận quản
lý học và các phương pháp xã hội học để tìm luận cứ chứng minh các giả
thuyết nghiên cứu của đề tài luận văn.
17
7.2. Phương pháp thu thập thông tin cụ thể
- Phương pháp phân tích tài liệu: phân tích các tài liệu sẵn có về quản
lý XĐMT làng nghề và các tài liệu, thông tin thu được từ khảo sát.
- Phương pháp quan sát: tiến hành quan sát thực tế hiện trạng môi
trường và công tác quản lý XĐMT ở làng nghề.
- Phương pháp điều tra chọn mẫu:
+) Điều tra bằng bảng hỏi (định lượng):
Trong phạm vi nguồn lực có thể, tác giả khảo sát 280 phiếu hỏi dành
cho đại diện các hộ gia đình thuộc làng nghề.
+) Phỏng vấn sâu (định tính):
- Tiến hành PVS 25 trường hợp gồm các đối tượng và số lượng cụ thể
như sau:
+ Lãnh đạo xã: 02 ca
+ Chủ tịch và Thư ký Hiệp hội làng nghề: 02 ca
+ Doanh nghiệp và chủ sản xuất: 04 ca
+ Trưởng thôn/phó trưởng thôn: 02 ca
+ Người dân trong làng nghề: 15 ca

Tổng cộng: 25 ca PVS
- Phương pháp xử lý thông tin:
+ Những bảng hỏi định lượng được xử lý trên máy tính bằng phần mềm thống
kê SPSS 17.0. Những số liệu định lượng sẽ được xử lý dưới dạng tần suất và các
tương quan nhằm so sánh, đánh giá vấn đề nghiên cứu ở nhiều khía cạnh khác nhau.
+ Do số ca PVS không nhiều nên những thông tin định tính được xử lý
thủ công bằng việc phân chia thông tin theo các nhóm chủ đề cụ thể phục vụ

1.1.1. Khái niệm xung đột
Đã có nhiều tác giả đưa ra những khái niệm xung đột khác nhau. Bản
thân từ “xung đột” (conflict) đứng riêng bao hàm nhiều nghĩa, nhiều cấp độ.
Theo từ điển tiếng Anh, conflict là trạng thái đối lập hoặc thù địch, sự đấu
tranh; conflict cũng có nghĩa là sự mâu thuẫn, bất đồng, bất hoà, tranh cãi,
tranh luận, sự khác nhau, sự va chạm, không tương hợp. Theo từ điển trực
tuyến Wikipedia, “Xung đột là trạng thái bất hoà do sự đối lập mang tính
nhận thức hoặc hành động thực tế về các nhu cầu, giá trị và lợi ích. Xung đột
có thể mang tính chất nội tâm (bên trong cá nhân) hoặc hướng ngoại (giữa
hai hay nhiều cá nhân)[12].
Hai tác giả G.Endrweit và G.Trommsdorff cho rằng, “theo cách hiểu
rộng lý thuyết xung đột là mọi tiếp cận khoa học xã hội mà trong đó các hiện
tượng xung đột xã hội mang một ý nghĩa trung tâm đối với việc giải thích các
quan hệ xã hội và quá trình xã hội” [11, tr. 890].
Bernhard Giesen đưa ra định nghĩa: “Xung đột xã hội là các quan hệ
và quá trình xã hội trong đó hai hay nhiều cá nhân hay nhóm xã hội có sự đối
lập nhau trong việc giải quyết những vấn đề nhất định” [10, tr. 171-172]
Bernhard Giesen đã nhận xét rằng nếu hiểu khái niệm xung đột quá hẹp
thì nó sẽ loại trừ những quan hệ xung đột tiềm ẩn giữa các nhóm xã hội ra
khỏi việc phân tích, qua đó những điều kiện cấu trúc quan trọng cho sự hình
thành hành động xung đột rõ ràng sẽ biến mất khỏi tầm quan sát. Trái lại, nếu
hiểu quá rộng thì nó sẽ bao hàm bất kỳ dạng nào của sự bất bình đẳng hay sự
không cố định là quan trọng đối với hành động và phạm vi đối tượng của
khoa học xã hội [31, tr. 9]. Do đó, để tránh việc hiểu quá rộng hay quá hẹp
20
chúng tôi chọn định nghĩa xung đột của Bernhard Giesen đã nêu ở trên.
Như vậy, hầu hết các lý thuyết về xung đột hiện nay đều thừa nhận
xung đột là yếu tố đối lập sự hợp tác. Xung đột là tất yếu, phổ biến, đa dạng
và tạo nên những bước phát triển bình thường trong tất cả các quá trình xã hội
và phát triển lịch sử. Bên cạnh khái niệm xung đột, các lý thuyết xung đột còn

trang như cuộc chiến tranh tranh chấp nguồn nước giữa một số nước.
- Phân loại theo nguyên nhân dẫn đến xung đột: Có xung đột nhận
thức; xung đột mục tiêu; xung đột lợi ích; và xung đột quyền lực.
1.1.3. Các đương sự xung đột
Các đương sự xung đột hay phe phái xung đột về cơ bản được chia
thành hai loại là các cá nhân và nhóm tham gia vào xung đột. Người ta phân
biệt ba dạng đương sự xung đột hay phe phái xung đột, bao gồm: gồm các cá
nhân hoặc các nhóm tương tác; các tổ chức; các cộng đồng xã hội. Khi xung
đột diễn ra và chúng ta cần có các biện pháp để giải quyết xung đột bởi vì đặc
trưng của xung đột là:
• Xung đột không tự mất đi.
• Xung đột có thể đem lại lợi ích.
• Xung đột là một hiện tượng tự nhiên.
• Xung đột có thể tạo xung đột lớn hơn.
Vậy giải quyết xung đột bằng cách nào? Vấn đề này sẽ được tìm hiểu
trong phần tiếp theo.
1.1.4. Cách thức xử lý xung đột
Theo học thuyết xung đột xã hội, giải quyết xung đột xã hội nghĩa là
duy trì trật tự xã hội, là hoạt động ổn định tạo ra sự hài hoà giữa các thành
viên trong cơ cấu xã hội. Nó biểu hiện tính tổ chức của đời sống xã hội, tính
chuẩn mực của các hành động xã hội.
22
Các cơ chế đảm bảo cho trật tự xã hội là các thiết chế xã hội. Các thiết
chế xã hội này điều chỉnh các mối quan hệ (mà chủ yếu là mối quan hệ kinh
tế giữa các nhóm hoặc các giai cấp xã hội). Sự điều chỉnh này thường cần đến
những lợi ích của các nhóm, các lợi ích này sẽ được điều chỉnh cho đến khi
đạt được một sự công bằng theo quan niệm của xã hội cụ thể nào đó, thông
qua chức năng kiểm soát xã hội, các thiết chế bảo đảm tính ổn định và trật tự
xã hội phụ thuộc vào sự mềm dẻo, tính hiệu quả của các thiết chế đó.
Biểu hiện bên ngoài của sự phá vỡ tính ổn định và trật tự xã hội là sự

vi mang tính trực tiếp của nhóm lợi thế đối với nhóm bất lợi. Tuy nhiên, trong
thực tế, đây là các kiểm soát xã hội thiếu tính bền vững. Hình thức tồn tại thứ
hai dựa trên những nỗ lực không phải để nghiền nát sự đối lập mà ngăn chặn
chúng ngay từ đầu bằng cách kiểm soát ý thức của nhóm bất lợi và cố gắng
tạo ra sự tán thành từ phía họ để họ chấp nhận địa vị bị phụ thuộc và kém
được ưu đãi của chính mình, cho đến nay, đây vẫn là hình thức kiểm soát xã
hội hiệu quả nhất (Tony Bilton, 1993)[7, tr.30].

Theo định nghĩa của Bernhard Giesen thì sự đối lập về quyền lợi là
nguyên nhân gây ra xung đột. B.Balla cho rằng, có hai dạng xung đột chính là
xung đột về quyền lợi và xung đột về giá trị [11, tr.890]. Theo C.W. Moore,
bên cạnh nguyên nhân về quyền lợi và giá trị còn có 3 nguyên nhân khác là:
dữ liệu, cơ cấu và quan hệ. Cụ thể như sau:
- Xung đột lợi ích (quyền lợi): Là do sự cạnh tranh giữa các lợi ích thực chất,
lợi ích về mặt thủ tục hoặc tâm lý mà các đương sự thực sự có hoặc cho là có.
- Xung đột giá trị: Bắt nguồn từ các giá trị khác nhau như các tiêu chí
đánh giá hành vi, ý kiến, các mục tiêu giá trị, cách sống, lý tưởng và tôn giáo.
- Xung đột dữ liệu: Bắt nguồn từ việc thiếu thông tin, sai lệch, hiểu sai
hoặc diễn đạt thông tin khác nhau, các quan niệm khác nhau về cái gì là quan
24
trọng và quy trình đánh giá khác nhau.
- Xung đột cơ cấu: Xuất phát từ các mô hình hình hành vi hoặc tương
tác tiêu cực, sự bất bình đẳng trong kiểm soát/sở hữu hoặc phân bổ các nguồn
lực, các yếu tố về địa, vật lý hoặc môi trường cản trở hợp tác, các giới hạn về
thời gian.
- Xung đột quan hệ: Là do những cảm xúc thái quá, quan niệm sai, sự
hiểu lầm rập khuôn, yếu kém/nhầm lẫm trong giao tiếp, lối xử sự tiêu cực.
Cả về mặt lý thuyết và thực tiễn đều tồn tại rất nhiều nguyên nhân dẫn
đến xung đột xã hội. Những tư tưởng, lý thuyết phong phú của các nhà khoa
học là cơ sở để lý giải, phân tích, chứng minh những giả thuyết nghiên cứu


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status