- Phong tục tập quán lễ hội Việt Nam - GVHD: ThS. Nguyễn Mạnh Hồng
MỞ ĐẦU
Mùa xuân - mùa khởi đầu cho một năm, mùa sinh sôi nảy nở của vạn
vật, cỏ cây,... Giữa tiết trời ấm áp ấy, lòng người phơi phới rủ nhau đi hội,
hành hương về cội nguồn, vui chơi và cầu mong cho mùa màng tốt tươi, con
người hạnh phúc.
Mỗi lễ hội mang một nét tiêu biểu và giá trị riêng, nhưng bao giờ cũng
hướng tới một một đối tượng linh thiêng cần được suy tôn như những vị anh
hùng chống ngoại xâm, những người có công dạy dỗ truyền nghề, chống thiên
tai, diệt trừ ác thú, giàu lòng cứu nhân độ thế,... Với tư tưởng uống nước nhớ
nguồn, ăn quả nhớ người trồng cây, ngày hội diễn ra sôi động bằng những sự
tích, công trạng, là cầu nối giữa quá khứ với hiện tại, làm cho thế hệ trẻ hôm
nay hiểu được công lao tổ tiên, thêm tự hào về truyền thống quê hương, đất
nước của mình. Đặc biệt, lễ hội ở nước ta gắn bó với làng xã, địa danh, vùng
đất như một thành tố không thể thiếu vắng trong đời sống cộng đồng nhân
dân.
Lễ hội Quán Thế Âm - Đà Nẵng là lễ hội mang sắc thái tôn giáo kết
hợp với văn hoá dân tộc, là một trong 15 lễ hội lớn cấp quốc gia, được tổ chức
khá quy mô và thu hút đông đảo lượng tín đồ phật tử hành hương và du khách
tới tham quan. Chúng ta sẽ tìm hiểu đôi nét về lễ hội Quán Thế Âm - Đà
Nẵng qua bài viết này.
SVTH: Nhóm 4 Trang 1
- Phong tục tập quán lễ hội Việt Nam - GVHD: ThS. Nguyễn Mạnh Hồng
NỘI DUNG
I. Khái quát về lễ hội
Lễ hội ở nước ta thật đa dạng và phong phú. Theo thống kê của các nhà
nghiên cứu văn hóa dân gian, Việt Nam có gần 500 lễ hội cổ truyền lớn, nhỏ
trải rộng khắp đất nước trong bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. Phần lớn các lễ
hội ở Việt Nam thường gắn với sự kiện lịch sử, tưởng nhớ người có công với
nước trong chiến tranh chống giặc ngoại xâm nên các trò vui chơi ở lễ hội
thường mang nhiều tính mạnh mẽ của tinh thần thượng võ như: Thi bắn nỏ,
năm mới thịnh vượng ở núi Bà Đen (Tây Ninh). Đặc biệt vào mùa này, du
khách đổ lên núi Yên Tử dự lễ hội chùa, vãn cảnh hùng vĩ của đất nước và
thử thách lòng thành của mình. Đến Hòa Bình để được xem hội Chơi hang,
hội Xên bản, Xên mường của người Thái; lên Sơn La cùng thả hồn vào những
cánh rừng ban trắng trong ngày hội hoa ban, đi chơi núi, du thuyền độc mộc
trên thắng cảnh hồ Ba Bể. Ngoài ra, người Tày, Nùng Tây Bắc còn có hội
Lồng Tồng, người Dao có hội Tết Nhảy, người Mông có hội Sắc bùa, hội chơi
núi chơi xuân, người Khơ me Nam Bộ có hội mừng năm mới,... Sự phong phú
của lễ hội ở Việt Nam vừa là nét đẹp văn hóa dân tộc nhưng cũng vừa là một
trong những sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách trong và ngoài nước.
Nằm trong xu thế chung của cả nước, Đà Nẵng - thành phố xinh đẹp
bên sông Hàn cũng là vùng đất có nhiều lễ hội được diễn ra hàng năm. Du
khách đến đây rất thích tham gia các lễ hội truyền thống, và là dịp để mỗi
người gặp gỡ, gần gũi nhau, cùng cầu mong mưa thuận gió hoà, tổ tiên phù hộ
và mong ước người thân gặp nhiều may mắn.
Lễ hội ở Đà Nẵng có nhiều điểm giống các vùng duyên hải Miền
Trung, song cũng mang rất nhiều nét đặc trưng tạo nên vẻ đẹp rất riêng của
SVTH: Nhóm 4 Trang 3
- Phong tục tập quán lễ hội Việt Nam - GVHD: ThS. Nguyễn Mạnh Hồng
miền đất này. Trong những ngày lễ hội, cả một vùng rực rỡ màu sắc, và rộn
ràng những khúc hát cầu an, nhịp điệu bài chòi tha thiết. Các lễ hội của Đà
Nẵng có từ rất xưa, được lưu truyền từ đời này sang đời khác, như Lễ hội Cầu
Ngư, Lễ hội Quán Thế Âm, Lễ hội đình làng Hoà Mỹ, Lễ hội đình làng An
Hải,... Qua thời gian, cũng có những lễ hội không còn nữa như Lễ rước Mục
đồng, là lễ hội rất đặc biệt dành riêng cho trẻ chăn trâu, những đứa trẻ chân
lấm đầu trần tinh nghịch. Không chỉ giữ gìn những lễ hội truyền thống, người
Đà Nẵng đã tạo cho mình một lễ hội mới dựa trên nền truyền thống là Lễ hội
đua thuyền. Lễ hội này được tổ chức nào ngày quốc khánh 2/9 hằng năm trên
dòng sông Hàn với hàng chục đội đua của các địa phương trong và ngoài
thành phố. Đó thật sự là những ngày hội của non sông và cũng là ngày hội của
Quán Thế Âm, tiếng Phạn là Avalokitesvara. Đó là vị bồ tát trong Phật
giáo Bắc tông, mang hạnh nguyện cao cả: Đại từ đại bi, linh cảm ứng, tầm
thinh cứu khổ. Do đại nguyện lớn lao này mà khi phiên âm tên Ngài là Quán
Thế Âm, hàm nghĩa “lắng nghe âm thanh kêu cứu khổ nạn mà giúp đỡ”. Ngài
còn được gọi dưới danh hiệu bồ tát Quán tự tại. Thế nào là Quán tự tại? Là ở
nơi không hai lập cái thế. Không hai, tức không có ta và vật, không đây và đó,
không khoảng cách, không chướng ngại, hoàn toàn tự do nên không gì là
không biết, không gì là không thấy, không đâu là không đến được, đó là tự
tại. Sự hóa hiện mầu nhiệm cùng với những đức năng được nhiều bản kinh
Bắc truyền mô tả, Ngài được biểu trưng bằng những hình ảnh khác nhau như:
Cửu diện Quán Âm, Thập nhất diện Quán Âm, Tống tử Quán Âm, Quán Âm
thiên thủ thiên nhãn, Nam Hải Quán Âm, Bạch y Quán Âm…
Ngày nay, Quán Thế Âm bồ tát được thờ phụng tại nhiều quốc gia dưới
nhiều tên gọi khác nhau như Kannon, Kanzeon (Nhật Bản), Guan Yin, Guan
Shiyin (Trung Quốc), Spyanrasgzigs (Tây Tạng), Nidubarusheckchi (Mông
SVTH: Nhóm 4 Trang 5
- Phong tục tập quán lễ hội Việt Nam - GVHD: ThS. Nguyễn Mạnh Hồng
Cổ), Quan Âm (Việt Nam). Người Champa và Khmer gọi là Lokesvara. Quán
Thế Âm bồ tát thể hiện tính “Bi” nên còn được gọi là Phật Quan Âm, là bậc
Đại Bi, cùng với Bát Nhã là hai dạng của Phật tính. Quán Thế Âm bồ tát cũng
thể hiện nguyện lực của Phật A Di Đà và với lòng từ bi vô lượng, thể hiện sức
mạnh huyền diệu, cứu giúp mọi chúng sinh quán tưởng đến người khi gặp
hiểm nguy.
Theo các nhà nghiên cứu, tín ngưỡng Quán Thế Âm phổ biến ở các
nước theo Phật giáo Bắc tông. Người đầu tiên dịch kinh điển về tín ngưỡng
Quán Thế Âm là Chi Cương Lương Tiếp đã dịch kinh Pháp Hoa tam muội (6
quyển) năm 255 tại Giao Châu (Bắc Việt Nam) cùng với nhà sư Thích Đạo
Thanh. Ngài Trúc Pháp Hộ đời Tây Tấn dịch Quán Thế Âm Phổ môn trong
kinh Chính Pháp Hoa năm 286. Ngài Đàm Vô Kiệt dịch kinh Quán Thế Âm
bồ tát thọ ký. Ngoài ra, kinh Vô Lượng Thọ, kinh Hoa Nghiêm, kinh Thập
mang hình tướng người nữ. Do đâu và vào thời kỳ nào mà Quán Thế Âm bồ
tát từ hình tượng một người nam biến thành người nữ? Có nhiều ý kiến cho
rằng, từ thế kỷ thứ V trở về trước, bồ tát được miêu tả như một người đàn ông
với hình dáng rất thanh tú.
Nhưng từ thế kỷ thứ VIII trở đi thì Quan Thế Âm bồ tát được miêu tả
như một người đàn bà. Theo nhà sử học Trung Hoa Lý Bách Dược chuyên
nghiên cứu về thời kỳ nhà Đường, viết trong Bắc Tề thư thì vào thời Nam Bắc
Triều, vua Tề Võ Thành bị bệnh, nằm mơ thấy Quán Thế Âm trong hình dáng
một người đàn bà đẹp. Việc nhà vua nằm mơ đó không biết thực hư thế nào
nhưng trước đời Đường, trong những bức họa của dân gian thì Quán Thế Âm
bồ tát đã được vẽ thành hình một người đàn bà rồi. Từ giữa đến cuối thế kỷ
thứ IX trở về sau, tại Trung Quốc, Quán Thế Âm bồ tát hoàn toàn được miêu
tả dưới hình dáng một người phụ nữ cho tới ngày nay. Lý giải điều này, có
SVTH: Nhóm 4 Trang 7
- Phong tục tập quán lễ hội Việt Nam - GVHD: ThS. Nguyễn Mạnh Hồng
người cho rằng, đạo Phật truyền vào Trung Quốc đã bị biến dạng, không còn
như nguyên thủy, và ít nhiều pha trộn với những hình tượng tôn giáo bản xứ,
trong đó lý thuyết âm dương được thêm vào, và bên cạnh chư Phật trong nam
thân, có một vị Phật trong nữ thân đứng song song, nên Quán Thế Âm là nam
nhân ở Ấn Độ khi truyền sang Trung Quốc đã thành nữ giới.
Ở Việt Nam và một số quốc gia ở khu vực châu Á như Nhật Bản, Triều
Tiên, Trung Quốc là những quốc gia lấy nông nghiệp làm trọng, vì vậy cư dân
nông nghiệp lúa nước có khuynh hướng trọng yếu tố phồn thực, sự sinh sôi,
nảy nở, phát triển, và chỉ có người phụ nữ mới có khả năng làm được việc
này. Vì vậy, xu hướng thờ thần nữ và trọng yếu tố âm đã trở nên phổ biến.
Một nhà văn hóa học nổi tiếng đã cho rằng: Tính chất âm tính của văn hóa
nông nghiệp dẫn đến hậu quả trong lĩnh vực quan hệ xã hội là lối sống thiên
về tình cảm, trọng phụ nữ, và trong lĩnh vực tín ngưỡng là tình trạng lan tràn
các nữ thần. Và vì cái đích mà người Việt Nam hướng tới là sự phồn thực, cho
nên nữ thần của ta không phải là các cô gái trẻ đẹp, mà là các Bà Mẹ, các
tạo. Hệ thống hang động thiên nhiên kỳ vĩ, biển rộng sông dài, mái chùa hoặc
ẩn mình trong hang cốc hoặc cheo leo trên sườn vai của núi hoặc uy nghiêm
tọa lạc bên núi vững vàng, sương giáng mây vờn, tàng cây tươi mát, chim hót
lừng vang. Phía Đông biển xa vời vợi, bãi cát trải dài, phía Tây Trường Giang
lượn khúc, sông sen thơm lừng, đồng quê yên ả.
Chùa do cố Hòa thượng Thích Pháp Nhãn trong một giấc thần mộng về
Ngài Quán Thế Âm ứng hiện nơi động thiêng, pháp đàn của Ngài. Theo đó,
Hòa thượng đã tìm thấy ngôi thạch động có tôn tượng Quan Âm hoàn toàn do
thiên nhiên tạo nên thật là ứng nghiệm, từ đó Hòa thượng đã thành lập ngôi
chùa Quán Thế Âm, vì có sự nhiệm mầu của Phật Pháp như vậy khiến lòng
người phải ngưỡng mộ kính tin.
SVTH: Nhóm 4 Trang 9
- Phong tục tập quán lễ hội Việt Nam - GVHD: ThS. Nguyễn Mạnh Hồng
Chùa nằm nép mình dưới ngọn núi Kim Sơn, soi bóng bên dòng sông
Cổ Cò, một nhánh của sông Trường giang. Kim Sơn có dáng hình quả chuông
nên còn có tên dân dã là ngọn núi Chuông Úp. Vào năm 1956, cố hoà thượng
Thích Pháp Nhãn có cơ duyên phát hiện ra một hang động nằm sâu trong lòng
núi hướng ra dòng sông. Đường vào động là những bậc đá tự nhiên. Động có
chiều dài hơn năm chục mét, chiều ngang gần mười mét và trần động nhấp
nhô cao thấp khoảng mười đến mười lăm mét, thuộc vào dạng hang động lớn
của Ngũ Hành Sơn. Điều đặc biệt độc đáo trong hang động này là vô số các
thạch nhũ đầy màu sắc, hình thể phong phú da dạng, trong đó có những tượng
hình rất giống hình dáng thật, do thiên nhiên khắc hoạ với những hình khối
đường nét rõ ràng sắc sảo, chẳng khác nào do những nghệ nhân tài hoa chạm
trổ công phu. Bước vào động phía trước mặt ngước nhìn trên vách đá, nổi bật
lên pho tượng Quan Thế Âm, là một vị Thánh trong Phật giáo. Pho tượng cao
bằng hình người (1,75m), cân phân, thanh tú, một giải kim tuyến lấp lánh, rực
sáng, bề ngang hơn gang tay phủ từ bờ vai chảy dài đến hết thân tượng, làm
cho bức tượng hết sức sống động huyền ảo, bàn tay phải bưng bình nước cam
lồ, chân tượng đứng trên lưng rồng đang cuộn mình giữa tầng sóng gợn. Phía
thuận lợi cho việc tu tập và sinh hoạt, số tăng chúng tu học tại chùa gồm 40
vị, có các đạo tràng tu học - tương tế - từ thiện - văn nghệ, thư họa,... Ngôi
chùa hiền hoà cổ kính, hang động thâm sâu huyền bí, là sự hổ tương cộng
hưởng, tạo cho Ngũ Hành Sơn một sắc thái thiêng liêng sâu lắng, thanh thoát
cao thượng cho tâm hồn, đó cũng là một bản sắc văn hoá đặc trưng. Sự thẩm
thấu toả rộng theo dòng thời gian và hội tụ lòng ngưỡng mộ của con người
trong tinh thần cộng đồng truyền thống dân tộc, từ đó hình thành nên một lễ
hội văn hóa kết hợp giữa đời và đạo, là nhịp cầu giao hoà cảm thông giữa con
người và thiên nhiên một quan hệ mật thiết muôn thuở.
SVTH: Nhóm 4 Trang 11
- Phong tục tập quán lễ hội Việt Nam - GVHD: ThS. Nguyễn Mạnh Hồng
2.2. Lễ hội Quán Thế Âm Đà Nẵng
2.2.1. Xuất xứ của lễ hội
Chùa Quán Thế Âm có một phúc duyên lành lớn, diệu kỳ, đó là Đức
Bồ Tát Quán Thế Âm đã thị hiện tôn tượng của Ngài một cách rất thiêng liêng
mầu nhiệm tại thạch động chùa Quán Thế Âm, tượng hoàn toàn do thiên tạo
ứng linh, vì lẽ đó, người có tín tâm thường đến nơi đây để cầu nguyện, nhất là
ngày Đản sanh của Ngài 19/2 âm lịch hằng năm có đến hàng ngàn thập
phương - thiện tín về đây chiêm bái, nguyện cầu. Chư tôn túc trong thành phố
và chùa Quán Thế Âm đã tổ chức thành ngày Lễ hội Quán Thế Âm 19/2 hàng
năm nhằm mục đích làm cho sự sinh họat này có ý nghĩa và thăng hoa hơn, để
hoằng dương Phật Pháp. Đây thật sự là lễ hội mang tính đặc thù của Phật giáo
- dân tộc, tổ chức hoạt động biểu diễn nghệ thuật, thể hiện văn hóa Phật giáo
hòa quyện với văn hóa dân tộc tự nghìn xưa văn hiến, làm cho tính cách hữu
ích thiện lợi của Phật giáo được thể hiện rõ nét trong xã hội, trong lòng người.
Lễ hội này còn là dịp để thiện tín tỏ lòng kính ngưỡng tri ân Đức Từ Bi cứu
độ vô lượng của Ngài đối với chúng sanh, với tất cả chúng ta, học theo hạnh
nguyện của Ngài làm những việc từ thiện, công đức.
Lễ hội Quán Thế Âm trải qua nhiều giai đoạn, hoàn cảnh thăng trầm
của đất nước, cũng như hội tụ đầy đủ những nhân tố phù hợp và có ý nghĩa về
hoá dân tộc.
SVTH: Nhóm 4 Trang 13