SNG KIN KINH NGHIM
Đ TI:
Mét sè biÖn ph¸p ph¸t triÓn ng«n ng÷ cho trÎ 4-5 tuæi
I, §Æt vÊn ®Ò:
1. Lý do chọn đề tài
1.1. Vai trò của ngôn ngữ trong việc phát triển toàn diện cho trẻ:
- Vai trò của ngôn ngữ đối với giáo dục trí tuệ:
+ Ngôn ngữ là phương tiện nhận thức thế giới xung quanh:
• Trẻ em luôn có nhu cầu muốn tìm hiểu thế giới xung quanh. Thông
qua ngôn ngữ lời nói của người lớn, trẻ làm quen với các sự vật, hiện và hiểu
những đặc điểm, tính chất, cấu tạo, công dung….của chúng và học được từ
tương ứng (ví dụ: Trẻ làm quen với xe đạp, trẻ biết đặc điểm, cấu tạo, công
dụng…của xe đạp và nói được từ “xe đạp”).
• Trẻ tiếp thu kiến thức từ môi trường xung quanh thông qua khả năng
phân tích, so sánh, tổng hợp, trên cơ sở đó trẻ khái quát về vật. Ví dụ khi trẻ
nhận xét về xe đạp:
Trẻ nhìn thì biết được màu đỏ (xanh).
Trẻ quay bàn đạp thì bánh xe quay.
Trẻ sờ vào sườn xe thì biết nó láng, bóng.
Từ ngữ giúp cho việc cũng cố những biểu tượng đã hình thành ở trẻ.
• Đối với trẻ lớn, trẻ không chỉ nhận biết các sự vật hiện tượng xung
quanh gần gũi, mà còn tìm hiểu những sự vật hiện tượng không xuất hiện trực
tiếp trước mắt trẻ, những sự vật xảy ra trong quá khứ, tương lai.
Như vậy ngôn ngữ không chỉ giúp cho trẻ củng cố kiến thức mà còn mở
rộng hiểu biết về thế giới xung quanh.
• Ngôn ngữ phát triển trẻ hiểu được những lời giải thích của người lớn,
nên hoạt động trí tuệ, các thao tác tư duy ngày càng được hoàn thiện, kích thích
trẻ tích cực hoạt động trí tuệ.
+ Ngôn ngữ là phương tiện hữu hiệu nhận thức:
Trang 2
• Khi trẻ đã nhận thức được thế giới khách quan, trẻ tiến hành các
Vậy trong giáo dục thể lực cho trẻ, ngôn ngữ đóng vai trò điều khiển,
hướng dẫn, động viên, khuyến khích trẻ.
Vậy ngôn ngữ đóng vai trò quan trọng trong việc giáo dục trẻ. Sự phát
triển chậm trễ về ngôn ngữ có ảnh hưởng lớn đến sự phát triển toàn diện cho trẻ.
Cho nên việc phát triển lời mói cho trẻ đúng lúc và phù hợp với từng lứa tuổi là
cần thiết.
1.2. Mối quan hệ giữa sự phát triển tâm lí và phát triển lời nói của trẻ:
Trong quá trình hoạt động, con người phải nhận thức để phản ánh hiện
thực khách quan xung quanh mình và thực hiện của bản thân mình. Kết quả hoạt
động thực tiễn của con người ở mức độ nào là tùy thuộc vào trình độ nhận thức:
nhận thức cảm tính và nhận thức lí tính.
- Nhận thức cảm tính:
+ Phản ánh những thuộc tính bên ngoài của sự vật hiện tượng. Cấp độ
này gồm hai quá trình tâm lí: Cảm giác và tri giác. Cảm giác, tri giác các sự vật
và hiện tượng trong cuộc sống và thế giới khách quan xung quanh trẻ là nguồn
gốc đầu tiên cũng là nội dung chủ yếu của vốn tri thức ban đầu của trẻ.
+ Cảm giác, tri giác các sự vật và hiện tượng trong cuộc sống cùng với
việc nghe và hiểu lới nói giúp trẻ sử dụng ngôn ngữ như là phương tiện cơ bản
để nhận thức thế giới. Trẻ có thể phân biệt và nói tên các màu sắc, hình thành các
biểu tượng về sắc thái của chúng. Lĩnh hội các khái niệm về không gian, định
hướng về thời gian; nhạy cảm về âm thanh, kỹ năng lắng nghe và phân biệt các
âm thanh trong hoàn cảnh xung quanh, phân biệt bằng cảm giác vật chất của các
vật thể và diễn đạt bằng lời nói các cảm giác đó (như nhẵn nhụi, mềm mại, cứng
- mềm, lạnh - ấm…).v.v Trên cơ sở đó dễ hình thành được những biểu tượng,
khái niệm đúng đắn về về sự vật, hiện tượng.
Trang 4
- Nhận thức lí tính:
+ Nhận thức lí tính là cấp độ nhận thức phản ánh những thuộc tính bản
chất (bên trong) và những mối liên hệ, quan hệ có tính chất quy luật của hiện
thực mà trước đó ta chưa biết. Cấp độ này bao gồm các quy trình trí nhớ, tưởng
+ Có một số hiểu biết về thực phẩm và lợi ích của viêc ăn uống đối với
sức khỏe.
+ Có một số thói quen, kĩ năng tốt trong ăn uống, giữ gìn sức khỏe và
đảm bảo sự an toàn của bản thân.
- Phát triển nhận thức:
+ Ham hiểu biết, thích khám phá, tìm tòi các sự vật hiện tượng xung
quanh.
+ Có khả năng quan sát, so sánh, phân loại, phán đoán, chú ý, ghi nhớ có
chủ định.
+ Có khả năng phát hiện và giải quyết vấn đề đơn giản theo những cách
khác nhau.
+ Có khả năng diễn đạt sự hiểu biết bằng các cách khác nhau (bằng hành
động, hình ảnh, lời nói,…) với ngôn ngữ là chủ yếu.
+ Có một số hiểu biết ban đầu về con người, sự vật, hiện tượng xung
quanh và một số khái niệm sơ đẳng về toán.
- Phát triển ngôn ngữ:
+ Có khả năng lắng nghe, hiểu lời nói trong giao tiếp hằng ngày.
+ Có khả năng biểu đạt bằng nhiều cách khác nhau (lời nói, nét mặt, cử
chỉ, điệu bộ…).
+ Diễn đạt rõ ràng và giao tiếp có văn hóa trong cuộc sống hằng ngày.
+ Có khả năng nghe và kể lại các sự việc, kể lại truyện.
Trang 6
+ Có khả năng cảm nhận vần điệu, nhịp điệu của bài thơ, ca dao, đồng
dao phù hợp với độ tuổi.
+ Có một số kĩ năng ban đầu về đọc và viết.
- Phát triển tình cảm và kĩ năng xã hội:
+ Có ý thức về bản thân.
+ Có một số phẩm chất cá nhân: Mạnh dạn, tự tin, tự lực.
+ Có một số kĩ năng sống: Tôn trọng, quan tâm, chia sẻ, hợp tác, thân
thiện.
1.5. Lý do chọn đề tài:
- Trẻ còn nói ngọng, nói đớt, phát âm chưa chuẩn, âm khó.
- Thường phát âm sai về thanh điệu do thanh quản phát triển chưa hoàn
thiện và do đặc điểm của từng vùng. Sai những âm chính, âm đầu, âm đệm, âm
cuối.
- Trẻ nói câu cụt, thiếu thành phần.
Vì vậy, nên ta phải nghiên cứu một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho
trẻ mẫu giáo cho trẻ Chồi 1 qua viêc tổ chức cho trẻ làm quen với tác phẩm văn
học.
2. Mục đích nghiên cứu:
- Tìm hiểu khả năng ngôn ngữ của trẻ mẫu giáo.
- Rút ra một số biện pháp phát triển ngôn ngữ cho trẻ mẫu giáo Chồi 1qua
việc tổ chức ho trẻ làm quen với tác phẩm văn học.
3. Đối tượng nghiên cứu:
- Nghiên cứu khả năng ngôn ngữ của trẻ nhóm từ 4-5 tuổi.
4.Ph¹m vi nghiên cứu:
- Nghiên cứu trên 20 trẻ tại líp 4TA trường mÇm non Gia Têng
5. Phương pháp nghiên cứu:
Trang 8
- Phương pháp nghiên cứ tham khảo tài liệu, giáo trình về việc phát triển
ngôn ngữ cho trẻ mầm non.
- Phương pháp khảo sát điều tra thực tiễn.
- Phương pháp thực nghiệm.
- Tổng kết kinh nghiệm.
Ii, gi¶i quyÕt vÊn ®Ò:
1. Cơ sở lý luận:
1.1. Đặc điểm phát âm:
- Nhìn chung trẻ đã phát âm tốt hơn, rõ hơn, ít ê a, ậm ừ.
- Trẻ vẫn còn sai những âm, thanh khó hoặc những từ có 2, 3 âm vị, sai
những âm tiết có nhiều âm vị. Tuy nhiên, các lỗi sai đã ít hơn.
- Vốn từ của trẻ không chỉ tăng về số lượng mà còn tăng về cả chất lượng.
Cuối tuổi mẫu giáo trẻ biết sử dụng cả những từ có tính chất khái quát, trừu
tượng, gợi cảm.
1.3. Đặc điểm ngữ pháp và khả năng nói mạch lạc của trẻ lớp 4-5 tuæi
- Trẻ dùng câu dài hơn. Ví dụ: Ở nhà con có áo đầm nhiều lắm: màu xanh,
màu đỏ, màu vàng.
- Trẻ ít sử dụng câu ghép, ít sử dụng câu cụt hơn.
- Trẻ đã có khả năng kể lại chuyện, kể theo tranh và kể theo trình tự trước
sau.
Tuy nhiên trẻ dùng từ chưa chính xác. Ví dụ: “Con thưa bầy cô”
- Một số trẻ nói mạch lạc và đọc được những bài đồng dao, thơ. Tuy nhiên
còn một số trẻ khó nhớ và nói còn ngọng, đớt, nói chưa lưu loát.
1.4. Lý luận chung về khả năng ngôn ngữ và biện pháp phát triển ngôn
ngữ của trẻ:
- Vị trí tiếng mẹ đẻ trong hệ thống giáo dục Mầm non “Tiếng mẹ đẻ là cơ
sở của mọi sự phát triển trí tuệ, là kho tàng của mọi tri thức”. Chính vì vậy, giáo
Trang 10
dục ngôn ngữ cho trẻ phải bắt đầu từ rất sớm, khi các em còn bé và phải thực
hiện sự giáo dục ấy bằng tiếng mẹ đẻ.
Ngôn ngữ phát triển sẽ tạo điều kiện cho sự phát triển cá tính và ngược lại
mọi khía cạnh của sự phát triển cá tính đều có tác dụng đến sự phát triển của
ngôn ngữ. Do đó, tiếng mẹ đẻ có vị trí quan trọng trong hệ thống giáo dục mầm
non.
- Đối tượng nghiên cứu của môn Phương pháp phát triển lời nói cho trẻ.
+ Đối tượng: phương pháp phát triển lời nói cho trẻ mầm non là một bộ
phận khoa học ứng dụng. Nó nghiên cứu cơ sở lí luận, hệ thống khái niệm cơ
bản của môn học, nghiên cứu mục đích, nhiệm vụ, nội dung phương pháp và
hình thức cũng như phương tiện phát triển ngôn ngữ cho trẻ trong từng lứa tuổi.
Vậy: Đối tượng nghiên cứu của bộ môn phương pháp phát triển lời nói cho
trẻ là các qui luật hoạt động sư phạm nhằm hình thành và phát triển lời nói cho
tương đối liên tục về một đề tài nhất định. Trong câu chuyện kể trẻ đã thể hiện
tình cảm đối với các đối tượng, hiện tượng đã miêu tả.
- Trẻ ở tuổi mẫu giáo nhỡ (4-5 tuổi) đã có thể xây dựng những truyện ngắn
theo tranh, theo đồ chơi. Tính chất tình huống trong lời nói vẫn chiếm ưu thế, tuy
nhiên đã phát triển lời nói có thể hiểu được từ chính nó. Đã xuất hiện ở lời nói
của trẻ những khái quát, kết luận đơn giản một cách mạch lạc. Hình thức hội
thoại và sự phát triển của nó là cơ sở cho sự hình thành lời nói độc thoại.
- Chỉ có thông qua giao lưu, trẻ mới nắm được toàn bộ sự phong phú của
thực tại. Để phát triển tiếng, vấn đề quan trọng là phải tổ chức phát triển các hình
thức hoạt động thực tiễn phong phú, các hình thức đa dạng của hoạt động giao
tiếp, trong đó hình thức nghe và sau này là đọc, là hình thức giao tiếp hết sức
quan trọng. Sách, báo, đặc biệt là các tác phẩm văn chương.
Trang 12
- Ở tuổi mẫu giáo, nhất là trẻ 4-5 tuổi, ngôn ngữ của trẻ phát triển nên hình
thức nghe kể chuyện, nghe đọc các tác phẩm văn chương, kể lại chuyện hoặc kể
chuyện sáng tạo có vai trò đặc biệt quan trọng nhằm phát triển tiếng.
2. C¬ së thùc tiÔn:
Trong 10 trẻ thì có 3 trẻ nói ngọng, đớt, phát âm chưa rõ ràng.
- Phát âm sai phụ âm đầu và nuốt âm:
• Xe đạp - che đạp
• Xe máy- che máy
• Trân – Chăng
• Rồng- Gồng
• Khỉ - hỉ
• Vòng - dòng .
• Về - dề
• Qua – va
• Hoa lựu - hoa lụ
- Phát âm sai âm đệm:
• Thuyền - thiền
trường Mẫu giáo nên sự phát triển ngôn ngữ về đối tượng mới của trẻ sẽ hạn chế.
Vì vậy:
+ Cần giao tiếp thường xuyên với trẻ, hỏi trẻ đây là cái gì? Để kích thích
trẻ nói, nếu trẻ không biết thì giáo viên cung cấp từ cho trẻ, đó chính là từ mới
mà trẻ cần biết.
+ Đưa đối tượng mới cho trẻ làm quen bằng cách: Nếu là tranh thì treo
lên, còn nếu là thật thì có thể để trong lớp nhằm kích thích trẻ tìm tòi về đối
tượng đó.
Trang 14
Làm giàu vốn từ và khái niệm ở trẻ còn cung cấp:
+ Những danh từ và những từ chỉ khái niệm về những sự vật, hiện tượng
tự nhiên, xã hội gần gũi như danh từ chỉ đồ vật, đồ dùng, các loại thức ăn, danh
từ chỉ người, các con vật, rau quả, các hiện tượng thiên nhiên….
+ Những tính từ và động từ chỉ phẩm chất, công dụng, đặc điểm, tính
chất của những sự vật, hiện tượng, đặc biệt là những từ gợi cảm, có hình ảnh, âm
thanh đậm nét, những cặp từ biểu hiện các tính chất đối lập: khỏe - yếu, hiền -
dữ, tốt - xấu, ngoan - hư, hèn nhát - dũng cảm….
Ngoài ra, cần cung cấp cho trẻ một số quan hệ từ (thì, vì, mà, là, vì vậy, vì
thế, nhưng mà, ) các trạng từ để trẻ có thể sử dụng vào việc diễn đạt và kể
chuyện.
- Biện pháp rèn khả năng ngữ pháp, nói mạch lạc cho trẻ được tiến hành
trong giờ làm quen với môi trường xung quanh. Qua môn học này trẻ được tiếp
xúc với các sự vật hiện tượng, biết được những đặc điểm, dấu hiệu, hình dáng,
chất liệu….từ đó hình thành các biểu tượng đúng đắn về các sự vật, hiện tượng,
khách quan, trẻ được nói những điều trẻ biết. Như vậy ở những giờ học này trẻ
được rèn luyện kỹ năng phát âm, rèn luyện câu theo đúng ngữ pháp và đặc biệt là
tăng thêm vốn từ.
- Tổ chức giao tiếp qua hoạt động vui chơi:
+ Hình thức vui chơi giúp trẻ bộc lộ nhiều khả năng ngôn ngữ của mình
đồng thời kích thích trẻ phải vươn lên trong việc sử dụng ngôn ngữ để diễn đạt
- Ngoài ra ta có thể phát triển ngôn ngữ cho trẻ bằng cách:
+ Tạo ra một môi trường có tính kích thích cao: Trẻ luôn cần những kích
thích và việc tạo ra cho trẻ cơ hội để chúng nhận ra bản chất sáng tạo của mình
sẽ có tác dụng kích thích chúng nhiều hơn là một bức tranh hay một mô hình đồ
chơi. Khả năng khám phá và học hỏi cũng quan trọng như là những lời đang chờ
Trang 16
được trẻ nói ra. Bạn có thể giúp trẻ bằng cách tạo nhiều cơ hội cho trẻ tự khám
phá những tài năng còn ẩn giấu trong trẻ.
+ Đọc cho trẻ nghe:
Mặc dù có thể hơi cường điệu một chút nhưng đọc cho trẻ nghe
ngay từ những phút giây đầu đời của trẻ là một trong những cách tốt nhất bạn có
thể làm. Thông qua việc dành thời gian đọc cho trẻ, bạn giúp trẻ nhận biết những
điều kỳ diệu mà ngôn ngữ đem lại và sự thích thú của trẻ đối với những điều kỳ
diệu đó sẽ biến trẻ thành người ham học. Không chỉ thế, trẻ cũng sẽ học được rất
nhiều về ngữ pháp và ngôn ngữ. Trong những quyển sách thiếu nhi, từ ngữ luôn
được đi kèm với giai điệu và hình ảnh sinh động, vì thế trẻ sẽ dễ dàng lạc trong
sự tuyệt vời của ngôn ngữ.
Bên cạnh đó, đọc cũng thúc đẩy một năng lực khác liên quan tới
việc nói của trẻ, đó là khả năng đọc to. Nhiều trẻ phải chống chọi với việc chỉ
biết đọc thầm trong khi khả năng đọc to rất hạn chế. Thời gian nghe truyện có
thể đem lại những phát triển hoàn toàn mới cho khả năng ngôn ngữ của trẻ.
Sẽ không bao giờ là quá sớm để đọc cho trẻ nghe. Ngay khi vừa
chào đời Trẻ có thể nhận biết những lời ru êm đềm và một số bức tranh rực rỡ.
Bằng việc đọc cho trẻ nghe càng sớm càng tốt bạn đang đặt nền móng cho một
ngày mai dễ dàng hơn cho trẻ.
+ Mô tả: Chỉ đơn giản bằng việc mô tả cho trẻ những gì trẻ đang làm,
đang nghe và đang nhìn thấy, bạn sẽ giúp trẻ rất nhiều trong việc phát triển khả
năng nói. Hãy tập cho con bạn biết mô tả hình ảnh bằng lời nói và bé sẽ sớm tìm
cách làm điều tương tự. Đối với trẻ mẫu giáo, hãy gọi tên những thứ xung quanh
ngôi nhà của bạn. Hãy viết ra tên của mỗi đồ vật và gắn lên đồ vật đó để khi trẻ
từ như dính, nóng, lạnh hay mượt. Trò chơi này giúp trẻ nghĩ về những việc
mình đang làm và miêu tả chúng bằng lời.
* Biện pháp khắc phục các lỗi ngôn ngữ ở trẻ:
Trang 18
- Nói ngọng, đớt:
+ Thường xuyên tập luyện một số cơ quan như: Môi, lưỡi, răng, phát
triển tính linh hoạt của hàm.
+ Giáo viên giúp trẻ biết điều khiển nhịp nhàng các cử động của bộ máy
phát âm. Phát âm của trẻ phụ thuộc vào sự hoàn thiện của bộ máy phát âm cũng
như khả năng điều khiển hoạt động của bộ máy này. Ở tuổi mẫu giáo, những
điều kiện này đã được mức tương đối ổn định. Cho nên trẻ đã có thể phát âm
được hầu hết các âm vị. Tuy nhiên, một số trẻ vẫn còn mắc một số lỗi về phát
âm.
- Lỗi về thanh điệu: Thanh hỏi và thanh ngã là hai thanh có cấu tạo phức
tạp, việc thể hiện thanh ngã với âm điệu gãy ở giữa là cách phát âm khó đối với
trẻ. Trẻ thay thế bằng âm điệu không gãy ở giữa. Vì vậy dễ đồng nhất với âm
điệu cuối của thanh sắc (phát âm “ngã” thành “ngá”). Trẻ thay thế âm điệu gãy
bằng âm điệu không gãy, làm cho thanh hỏi ở trẻ gần như đồng nhất với thanh
nặng (phát âm “ngủ” thành “ngụ”). Từ Thanh Hóa trở vào, trẻ thường nói sai
thanh điệu hỏi/ngã, trẻ miền Nam không phân biệt được ba thanh: hỏi, ngã, nặng.
Đến tuổi mẫu giáo, lỗi sai về hai thanh này sẽ được khắc phục hầu như hoàn toàn
(Miền Bắc).
- Lỗi về âm đầu:
+ Trẻ ở một tỉnh đồng bằng Bắc Bộ thường có hiện tượng phát âm sai
như: Nói lẫn lộn “l” thành “n”, nói lẫn lộn “tr” thành “t”, “s” thành “th”, nói lẫn
lộn “d”, “gi” thành “r”, “v” thành “d”, “qu” thành “ng”.
+ Trẻ miền Bắc phát âm sai như: “tr” thành “ch”, “s” thành “x”. Một số
trẻ chưa phát âm được phụ âm “p”, trẻ lẫn sang phụ âm “b”. Nên giáo viên cần
khắc phục bằng cách:
Giáo viên phải nói đúng, chính xác để làm mẫu cho trẻ.
Tóm lại: Phát hiện và sửa chữa các lỗi về dùng từ không phải là việc làm chỉ có
quan hệ đến ngôn ngữ, đến lời nói, câu văn mà chính là liên quan mật thiết đến
lĩnh vực nhận thức, tư duy. Do đó muốn khắc phục được lỗi về dùng từ hoặc
muốn phát hiện và sửa chữa chính xác các lỗi đó, cần không ngừng nâng cao
trình độ nhận thức năng lực tư duy đồng thời với việc tích lũy, bồi dưỡng vốn từ
và nâng cao trình độ sử dụng từ của giáo viên để cung cấp kiến thức đúng và đầy
đủ cho trẻ.
Thực nghiệm:
* Mục đích thực nghiệm:
- Kiểm tra tình hình, khả năng phát triển ngôn ngữ cho trẻ và khả năng
phát âm của trẻ. Từ đó biết được bao nhiêu phần trăm trẻ phát âm không đạt yêu
cầu, sự tổng hợp này giúp cô mẫu giáo nắm được trạng thái phát âm của cả lớp
chồi 1.
- Khắc phục những lỗi sai mà trẻ thường mắc phải.
- Giúp trẻ nói mạch lạc Lôgic, diễn đặt những gì mà trẻ muốn, nói lưu loát.
- Giúp trẻ tự tin để nói, kể chuyện, đọc thơ và vui chơi với bạn bè.
- Giúp trẻ gần gũi với cô, với bạn bè, biết chia sẻ giao tiếp với nhau, biết
kính trên nhường dưới.
* Nội dung thực nghiệm:
Tác phẩm văn học: “Ba ngọn Đèn”
- Phát triển ngôn ngữ cho trẻ là trẻ có thể kể lại chuyện theo ý của trẻ nhưng
phù hợp với nội dung yêu cầu:
+ Năng lực phát âm đúng rõ ràng, biết điều chỉnh âm lượng và ngữ điệu
của giọng: Nói rõ ràng, vừa phải, sửa nói đớt, không nói kéo dài giọng… Nên
cần:
Rèn luyện thính giác ngôn ngữ: Giúp tri giác âm thanh nói chung và
âm thanh ngôn ngữ nói riêng.
Trang 21
Luyện cơ quan phát âm: Luyện vận động tự do giúp các bộ phận
môi, răng, lưỡi….chuyển động nhịp nhàng linh hoạt; luyện vận động theo
hiện. Ông tiên đến ngôi nhà của ba ngọn Đèn và khám sức khỏe cho chúng. Sau
đó, ông tiên ngồi trò chuyện vui vẻ rất lâu với cả ba ngọn Đèn rồi ân cần khuyên
chúng:
- Này các cậu bé, đừng bao giờ cãi nhau nữa nhé!
Từ đó trở đi, trong ngôi nhà nhỏ tại ngã tư đường phố, ba ngọn Đèn
Xanh, Vàng, Đỏ luôn sống chan hòa và đoàn kết với nhau. Các con nghĩ xem,
ông tiên đã nói chuyện gì với ba ngọn Đèn thế nhỉ?
+ Cung cấp từ và giúp trẻ hiểu được nghĩa của một số từ:
Ngã tư: Nơi giao nhau của 4 đường.
Băng qua: Chạy được, vượt được.
Nghiêm ngặt: Được sắp xếp theo thứ tự, không lẫn lộn.
Van nài: Cố hòa giải, xin hai ngọn Đèn đừng cãi nhau nữa.
Ùn lại: Cứ dồn lại, dồn lại.
Đoàn kết: Biết chung sức.
Chan hòa: Sống hòa thuận.
Tổ chức luyện phát âm cho trẻ thông qua các bài đồng dao và các tiết
dạy thơ truyện.
- Thơ, đồng dao, ca dao, tục ngữ mang tính nhịp điệu cao có vần điệu.
+ Khi đọc cho trẻ nghe, cô giáo cần truyền đạt âm điệu vui tươi, êm dịu,…
đến với trẻ. Qua đó giúp trẻ cảm nhận được vần điệu của tiếng Việt.
+ Luyện phát âm cho trẻ cần chọn các trò chơi có ý nghĩa và tác dụng về
mặt ngữ âm. Trò chơi đó phải có những câu, những tiếng trong đó có âm định
luyện cho trẻ như trò chơi “nu na nu nống” có thể giúp trẻ luyện phát âm âm
“nờ”. Sau khi hướng dẫn luật chơi, làm mẫu các động tác, cô giáo cho học sinh
Trang 23
thực hành ngay. Để đảm bảo mục đích luyện phát âm, cô giáo cần chú ý xem các
em phát âm có đúng không. Nếu sai, cần sửa ngay cho cháu và cho cháu đọc lại.
+ Trò chơi biểu diễn đọc thơ, ca dao, đồng dao có tác dụng lớn trong việc
rèn luyện ngữ âm cho trẻ, trẻ dần nắm được cách đọc đoạn nào nhanh, đoạn nào
chậm, đoạn nào lên giọng, đoạn nào xuống giọng, cách thể hiện tình cảm buồn
- Xây dựng mẫu câu đàm thoại với về tác phẩm “Ba ngọn Đèn”:
+ Các con ơi: Cô vừa kể cho các con nghe câu chuyện gì?
+ Trong câu chuyện có bao nhiêu nhân vật?
+ Ba ngọn Đèn làm công việc gì? (Đèn Xanh, Đèn Đỏ, Đèn Vàng).
+ Tại sao Đèn Xanh và Đèn Đỏ lại cãi nhau?
+ Đèn Xanh đã nói như thế nào? Ai có thể nhắc lại câu nói của Đèn Xanh?
+ Còn Đèn Đỏ đã nói gì? Ai có thể nhắc lại câu nói của Đèn Đỏ?
+ Ai đã đứng ra hòa giải? Và Đèn Vàng nói như thế nào?
+ Cuộc hòa giải có thành công không?
+ Đèn Xanh, Đèn Đỏ đã làm gì? Kết quả như thế nào?
+ Ai đã xuất hiện và đến ngôi nhà ba ngọn Đèn?
+ Ông tiên mặc trang phục gì?
+ Các con thấy Đèn Xanh và Đèn Đỏ cãi nhau như vậy có tốt không?
+ Nếu là các con thì các con có cãi nhau như vậy không?
* Tiến hành thực nghiệm:
Trong quá trình thực tập tại trường Mẫu giáo Phường 3 lớp Chồi 1 thì em
thấy ngôn ngữ của trẻ về khả năng phát âm, dùng từ, diễn đạt ngữ pháp của trẻ
thì có một số trẻ phát âm tốt và chuẩn, nhưng em thấy vẫn còn một số trẻ diễn
đạt chưa mạch lạc, cũng có trẻ còn dùng từ, phát âm sai nhiều.
Những câu nói của trẻ ở lớp Chồi 1 mà em ghi nhận được:
Trang 25
- Ngoi nhà con đẹp lắm.
- Lớn lên con sẽ làm ca hỉ.
- Con thưa bầy cô, con mới lại.
- Cô dẫn con đi ỉa.
- Con cho em con ăn sữa.
- Cô cho con đi ực nước miếng.
* Đánh giá kết quả thống kê theo mẫu sau:
Khảo sát 10 trẻ ở lớp Chồi 1 trường Mẫu giáo Phường 3, gồm có:
Nhóm 1: