Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Lời mở đầu
rải qua một thời gian dài sống trong chiến tranh, đất nớc Việt Nam phải
hứng chịu bao đau thơng mất mát. Sau cuộc chiến đất nớc hoang tàn, đổ
nát với một cơ sở vật chất cũ kĩ, lạc hậu. Vậy mà trải qua hơn 20 năm kể
từ ngày đất nớc đợc hoàn toàn giải phóng, giờ đây chúng ta đang đợc sống trong
nền kinh tế - văn hoá - chính trị ổn định. Cuộc sống của ngời dân đợc cải thiện rõ
rệt, đặc biệt là từ năm 1988 trở lại đây. Đó là năm chúng ta tiến hành công cuộc
đổi mới đất nớc một cách toàn diện. Về mọi mặt đời sống xã hội có những chuyển
biến sâu sắc, tích cực. Đảng và Nhà nớc đã vận dụng có sáng tạo t duy của Triết
học Mác-Lênin: "Bản chất con ngời là tổng hoà các quan hệ xã hội". Vì vậy con
ngời là sản phẩm của xã hội nhng cũng chính con ngời làm nên xã hội ấy, ý thức
chỉ tồn tại ở con ngời, chỉ con ngời mới có những t duy khoa học sáng tạo tiếp thu
và phát huy tri thức của nhân loại. Thành công của chúng ta trong công cuộc đổi
mới không thể không kể đến vai trò của tri thức khoa học. Chính tri thức khoa học
đã giúp ta tiến những bớc tiến dài trên con đờng đổi mới một cách vững chắc và
hiệu quả. Chúng ta luôn coi khoa học và công nghệ là nền tảng và động lực của sự
phát triển đất nớc.
T
Bài tiểu luận với đề tài: "Vai trò của tri thức khoa học trong công cuộc đổi
mới của Việt Nam" sẽ giúp chúng ta một phần nào đó hiểu đợc thế nào là tri thức
khoa học và những đóng góp to lớn của nó trong công cuộc đổi mới của đất nớc ta,
đồng thời thể hiện quan điểm cách nhìn của giới trẻ Việt Nam về cuộc sống và
những biến đổi lớn lao của đất nớc mình.
1
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Chơng I :Tìm hiểu chung về
tri thức khoa học
1-Tri thức khoa học
1.1-Khái niệm về tri thức
Tri thức là lĩnh vực rất rộng, có thể xem xét ở nhiều cấp độ, khía cạnh khác
thông thờng", và là trình độ thấp mà ngời ít học vấn vẫn có thể có đợc.
+ Thứ hai, là loại tri thức kinh nghiệm khoa học, thu thập từ những thí
nghiệm khoa học, từ sự khái quát các thực nghiệm khoa học.
Trong sự phát triển của xã hội, hai loại tri thức này có sự xâm nhập, bổ sung
lẫn nhau, giả định và chuyển hoá nhau, làm phong phú hơn quá trình nhận thức thế
giới. Loại tri thức kinh nghiệm dợc hình thành thông qua so sánh, đối chiếu và đợc
kiểm nghiệm qua thực tiễn đã chứa đựng nhiều yếu tố khoa học, giúp con ngời
nhận thức và cải tạo thực tiễn, gọi là tri thức kinh nghiệm khoa học. Tri thức kinh
nghiệm khoa học đúng nh Ph. Ăngghen chỉ ra, có tác dụng: "Chọn lọc lại những
giả thuyết gạt bỏ những giả thuyết này, sửa đổi những giả thuyết khác cho đến
lúc cuối cùng, quy luật đợc xác định dới hình thức thuần khiết" (C. Mac và Ph.
Ăngghen, 1978-1995, tập 20, tr. 733). Tri thức kinh nghiệm là những hiểu biết đợc
tích luỹ từ cuộc sống hàng ngày. Tri thức kinh nghiệm đã giúp cho con ngời có đ-
ợc những hình dung thực tế về các sự vật, hiện tợng, biết cách ứng xử trớc các hiện
tợng tự nhiên và trong các quan hệ xã hội. Theo thời gian và bằng kinh nghiệm
sống, số lợng và chất lợng tri thức kinh nghiệm ngày càng trở nên phong phú, đa
dạng, chứa đựng những mặt đúng đắn, nhng còn riêng biệt, cha thể đi sâu vào bản
chất các sự vật và do vậy, "tri thức kinh nghiệm chỉ giúp cho con ngời phát triển
đến một khuôn khổ nhất định" (Vũ Cao Đàm, 2002, tr. 13).
Tri thức kinh nghiệm (ở cả hai cấp độ nói trên), có vai trò quan trọng không
thể thiếu đợc trong đời sống hàng ngày, cũng nh trong mọi hoạt động xã hội khác
để xây dựng cuộc sống con ngời. Chính kinh nghiệm là cơ sở để kiểm tra lý luận,
sửa đổi và bổ sung lý luận đã có, là luận cứ đanh thép để tổng kết, khái quát và
hình thành nên lý luận mới. Song cũng cần nhận thấy rằng, dù có vai trò rất quan
trọng nhng tri thức kinh nghiệm mới chỉ nhận thức đợc những lớp thuộc tính bề
mặt, cha có khả năng đi sâu vào khám phá đợc những mối liên hệ phức tạp bên
trong của sự vật. Tri thức kinh nghiệm mới chỉ là những hiểu biết về những mặt
riêng rẽ, rời rạc về các mối liên hệ bên ngoài của đối tợng. Vì thế, dù đã mang tính
trừu tợng và khái quát nhất định nhng tri thức kinh nghiệm mới chỉ là bớc đầu và
còn nhiều hạn chế.
sự hiểu biết nh vậy sẽ cho phép con ngời tiến gần sát đến chân lý về sự thật. Nh C.
Mác chỉ ra, nhiệm vụ của nhận thức lý luận là: "đem quy sự vận động bề ngoài
chỉ biểu hiện trong hiện tợng về sự vận động bên trong thực sự" (Bộ Giáo dục và
Đào tạo, 1993, tập 3, tr. 65). Tri thức lý luận chính là sự khái quát từ tri thức kinh
nghiệm; là một trình độ cao hơn về chất so với tri thức kinh nghiệm. Tri thức lý
luận dù đợc hình thành từ tri thức kinh nghiệm nhng không phải hình thành một
cách tự phát và không phải tri thức lý luận nào cũng hình thành từ kinh nghiệm.
Nhờ tính độc lập tơng đối này mà có lúc lý luận có thể đi trớc các dữ liệu kinh
4
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
nghiệm. Tri thức lý luận là sự biểu hiện chân lý chính xác hơn, hệ thống hơn, có
tính bản chất sâu sắc hơn và vì thế, phạm vi ứng dụng của nó cũng rộng hơn nhiều
so với tri thức kinh nghiệm (Hội đồng Trung Ương, 1999, tr. 363).
Nhờ những u điểm trên mà tri thức lý luận có vai trò rất quan trọng đối với
thực tiễn, tác động và góp phần biến đổi thực tiễn thông qua hoạt động năng động
có ý thức của con ngời. Lý luận là kim chỉ nam cho mọi hoạt động và góp phần soi
đờng chỉ lối cho thực tiễn đi đúng hớng. V.I. Lênin đã chỉ ra vai trò quan trọng của
lý luận: "Không có lý luận cách mạng thì không thể có phong trào cách mạng"
(V.I. Lênin, 1974-1981, tập 26, tr. 30). Trớc đó, C. Mác cũng đã chỉ ra vai trò
quan trọng của lý luận, một khi nó thâm nhập đợc vào quần chúng nhân dân thì sẽ
trở thành sức mạnh vật chất to lớn. Tri thức lý luận có thể dự kiến đợc sự phát triển
và vận động của sự vật trong tơng lai, dự báo đợc những phơng hớng mới cho sự
phát triển của thực tiễn. Lý luận khoa học làm cho hoạt động của con ngời chủ
động hơn, tự giác hơn, hạn chế đợc sự mò mẫm, tự phát, mất phơng hớng.
Tri thức lý luận và tri thức kinh nghiệm là hai trình độ phản ánh khác nhau
nhng chúng liên hệ hữu cơ, mật thiết với nhau và bổ sung cho nhau để nắm bắt
chuẩn xác hơn bản chất của sự vật. Xét về nguồn gốc của hai trình độ nhận thức
này, có tác giả nhầm tởng nhận thức kinh nghiệm chính là nhận thức cảm tính, và
nhận thức lý luận là đồng nhất với nhận thức lý tính. Cách hiểu trên là máy móc,
siêu hình, không thấy đợc tính phức tạp của sự phản ánh bằng ý thức, một thuộc
trừu tợng đến cụ thể thì tri thức kinh nghiệm chỉ là sự trừu tợng chung, mới chỉ
nhận thức đợc một số mặt của đối tợng. Chính vì vậy, bớc chuyển từ tri thức kinh
nghiệm lên trình độ tri thức lý luận là tất yếu, khách quan nhằm nắm bắt đợc đầy
đủ hơn bản chất của sự vật. Bớc chuyển này phù hợp với con đờng biện chứng của
sự nhận thức chân lý mà V.I. Lênin đã vạch ra trong tác phẩm Bút kí triết học:
"Từ trực quan sinh động đến t duy trừu tợng và từ t duy trừu tợng đến thực
tiễn- đó là con đờng biện chứng của sự nhận thức chân lý, của sự nhận thức
thực tại khách quan" (V.I. Lênin, 1974-1981, tập 29, tr. 179). Tách khỏi tri thức
kinh nghiệm, tuyệt đối hoá tri thức lý luận, xa rời thực tiễn thì tri thức lý luận dễ
trở thành giáo điều, ảo tởng hoặc duy lý. Bởi vì: "lí luận mà không liên hệ với
thực tiễn là lý luận suông" (Hồ Chí Minh, 1995-1996, tập 8, tr. 496). Ngợc lại
nếu đè cao quá mức vai trò của tri thức kinh nghiệm mà coi thờng tri thức lý luận
cũng sẽ rơi vào chủ nghĩa kinh nghiệm, một cực khác của lối t duy siêu hình, máy
móc. Đúng nh Hồ Chí Minh nói: "Có kinh nghiệm mà không có lý luận, cũng
nh một mắt sáng một mắt mờ" và "không có lý luận thì lúng túng nh nhắm mắt
mà đi" (Hồ Chí Minh, 1995-1996, tập 5, tr. 234). Tuyệt đối hoá vai trò của tri thức
kinh nghiệm cũng dẫn đến thứ chủ nghĩa giáo điều kinh nghiệm, đây là "lối t duy
ở trình độ kinh nghiệm cảm tính, rất ít yếu tố duy lý, coi trọng tổng hợp thô sơ,
hoặc suy diễn trừu tợng, coi nhẹ phân tích, chứng minh, quy nạp" (Trần Hữu
6
Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
Tiến, 1988, tr. 15). Thấy rõ u thế của tri thức lý luận so với tri thức kinh nghiệm,
song cũng cần phải tỉnh táo nhận thấy rằng, do tính gián tiếp trong sự phản ánh
hiện thực khách quan, nên lý luận có nguy cơ phản ánh sai sự thật do xa rời thực
tiễn. Khả năng đó càng tăng lên nếu lý luận đó bị chi phối của các t tởng không
khoa học. Trớc đây, khi bàn về lý luận nhận thức, V.I. Lênin đã từng chỉ ra khả
năng này, yêu cầu phải quán triệt chặt chẽ con đờng biện chứng của nhận thức là
từ trực quan sinh động đến t duy trừu tợng và từ t duy từu tợng đến thực tiễn. Vì
vậy, cần coi trọng lý luận nhng không đợc thổi phồng vai trò của lý luận đến mức
tách rời lý luận khỏi thực tiễn, làm cho lý luận mất hết sinh khí của nó. Điều này
thức ra thành tri thức khoa học và tri thức thông thờng. Theo ông tri thức khoa học
tuyệt đối là chính xác, mang tính phổ biến và tất yếu vì nó là tri thức siêu nghiệm
có trớc kinh nghiệm. Còn tri thức thông thờng do dựa trên kinh nghiệm nên không
tuyệt đối chính xác, không có tính tất yếu và phổ biến. Do quan điểm duy tâm chủ
quan và vì không xem xét sự phát triển của tri thức kinh nghiệm theo quan điểm
lịch sử nên ông đã giải quyết vấn đề tính phổ biến và tính tất yếu tiên thiên một
cách duy tâm (Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô, 1962, tr. 54-55). Thực ra, ngay
cả tri thức toán học, dù có vẻ rất cao siêu, trừu tợng nhng nh Ph.Ăngghen chỉ ra,
nó cũng chỉ là sự phản ánh "những nhu cầu thực tiễn của con ngời từ việc đo
diện tích các khoảng đất và việc lờng diện tích của ngững bình chứa, từ việc
đếm thời gian và từ cơ học " ( C.Mác, Ph. Ăngghen, 1978-1995, tập 20, tr. 59).
Có thể khẳng định rằng: tri thức khoa học là kết quả của sự phản ánh thực tiễn,
chứ không phải là sản phẩm thuần tuý tinh thần nh G.V Hegel quan niệm, cũng
không phải là cái tiên thiên có sẵn nh cách hiểu của I.Kant. Tri thức chỉ có thể tìm
thấy trong cuộc sống, trong thực tiễn chứ không thể dừng lại trong sách vở. Tri
thức sách vở xét đến cùng chẳng qua là sự tổng kết cuộc sống và thực tiễn mà thôi.
Sự phát triển của tri thức khoa học, cùng với hệ thống các khái niệm, phạm trù,
quy luật của nó ngày càng phong phú hơn cả về số lợng lẫn chất lợng, càng chứng
tỏ "sự tách khỏi giới tự nhiên" của con ngời để chinh phục và ngày càng "nắm
vững đợc mạng lới " tự nhiên đó, đúng nh nhận xét của V.I. Lênin trong Bút Ký
triết học (V.I. Lênin, 1974-1981, tập 29, tr. 102)
Phân tích hai cấp độ của tri thức khoa học là tri thức kinh nghiệm và tri thức
lý luận trên đây cho phếp chúng ta thấy đợc mức độ nông sâu của chúng, cũng nh
vai trò của từng cấp độ tri thức và sự đan xen và tác động qua lại giữa chúng một
cách hữu cơ. Giữa các cấp độ, trình độ của các tri thức khoa học có sự tiếp nối, kế
thừa lẫn nhau. Ngay cả trình độ tri thức kinh nghiệm (tiền khoa học) đã xuất hiện
những mầm mống của lý luận. Tri thức kinh nghiệm, chính là cơ sở dữ liệu để
khái quát, hình thành nên tri thức lý luận. Tri thức lý luận nâng tri thức kinh
nghiệm lên trình độ cao hơn về chất, từ chỗ là cái cụ thể, đơn nhất trở thành cái có
tính khái quát, phổ biến. Ngày nay, cùng với việc nâng cao trình độ học vấn của