Mở đầu
Hiện nay với sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế cùng với sự cạnh
tranh khốc liệt, xu hớng hội nhập nền kinh tế với các nớc trong khu vực và
trên thế giới đòi hỏi các nớc phải năng động, sáng tạo. Đến năm 2006 Việt
Nam phấn đấu gia nhập WTO và 2020 cơ bản trở thành một nớc công nghiệp
điều đó mở ra nhiều cơ hội cũng nh thách thức đối với doanh nghiệp Việt
Nam, để có thể đứng vững và phát triển đợc đòi hỏi doanh nghiệp phải năng
động, vơn lên để tự khẳng định mình.
Mỗi doanh nghiệp muốn đứng vững trên thị trờng phải giải quyết tốt
các vấn đề sau: sản xuất cái gì? sản xuất cho ai? sản xuất nh thế nào? dịch vụ
cho ai? đồng thời phải chuyển đổi theo hớng giảm dần vai trò cạnh tranh theo
giá và tăng dần cạnh tranh phi giá, doanh nghiệp phải làm tốt công tác tiêu thụ
vì đã sản xuất phải có tiêu thụ, có tiêu thụ doanh nghiệp mới tồn tại và phát
triển.
Công tác tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp thành công hay thất bại
phụ thuộc vào yếu tố chủ quan là: khả năng tổ chức, điều hành, chất lợng, sản
phẩm, mẫu mã yếu tố khách quan là: thị trờng, chính sách, thị hiếu, giá cả
Nh vậy để đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm cần phải nghiên cứu xem xét
mức độ ảnh hởng của các yếu tố từ đó đề ra những giải pháp và biện pháp
khắc phục kịp thời.
Xí nghiệp dịch vụ thơng mại da giày Việt Nam là một doanh nghiệp sản
xuất có quy mô tầm cỡ trong ngành sản xuất của nớc nhà nói chung và trong
ngành giầy nói riêng. Các mặt hàng của công ty đã tạo đợc uy tín lớn đối với
ngời dân trong và ngoài nớc. Kim ngạch xuất khẩu giầy luôn đứng hàng đầu
trong ngành giầy Việt Nam với kim ngạch xuất sang các nớc: Đức, ý, Anh,
Pháp Song trớc sức ép của thị trờng hiện nay Xí nghiệp dịch vụ thơng mại
Việt Nam chịu sự cạnh tranh mạnh mẽ của các công ty giầy trong nớc nh:
công ty da giầy Hà Nội, giầy dép Thăng Long, giầy Thuỵ Khuê, giầy dép
BitisVà đặc biệt là hàng Trung Quốc, hàng ngoại nhập với giá rẻ hơn
Chính vì vậy buộc công ty phải chú trọng hơn trong công tác tiêu thụ sản
phẩm bởi đây là nhân tố quan trọng ảnh hởng tới lợi nhuận của doanh nghiệp,
những năm sản lợng da mềm chỉ còn từ 200 - 300 ngàn bìa, da cứng chỉ còn
khoảng 20 - 30 tấn, tức là bằng thời kỳ mới thành lập (1912).
3. Thời kỳ 1986 - 1994
Đứng trớc nguy cơ bị phá sản, Đảng uỷ và Ban lãnh đạo xi nghiệp đã
nhóm họp bàn bạc và tìm giải pháp khắc phục nh: Xây dựng lại bộ máy quản
lý để thích ứng với cơ chế mới, đề ra các kế hoạch chiến lợc mới, thông tin cụ
thể hoá đến từng bộ phận cơ sở trong xi nhgiệp, tập trung nguồn lực sẵn có,
khai thác mạnh những khả năng tiềm tàng. Nhờ sự nỗ lực không mệt mỏi của
tập thể lãnh đạo và cán bộ công nhân viên,xí nghiệp đã dần dần cải thiện đợc
3
tình hình. Nếu năm 1994 chỉ đạt mức tổng doanh thu là 5,02 tỷ đồng thì sang
năm 1995 đạt 5,06 tỷ và năm 1996 đã là 6,2 tỷ đồng.
4. Thời kỳ 1994 đến nay.
Xí nghiệp thơng mại dịch vu da giầy việt Nam thuộc sự quản lý của Tổng
công ty da giầy Việt Nam và Bộ công nghiệp nhẹ.
II. Chức năng và nhiệm vụ
1. Chức năng.
Xi nghiệp sản xuất dịch vụ thơng mại Da giầy Việt nam hoạt động kinh
doanh độc lập, tự hạch toán trên cơ sở lấy thu bù chi, khai thác nguồn vật t,
nhân lực của đất nớc, đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu tăng thu ngoại tệ, góp
phần vào công cuộc CNH - HĐH đất nớc.
Xí nghiệp có chức năng sản xuất da, giầy, kinh doanh xuất nhập khẩu
trực tiếp bao gồm: xuất khẩu các loại sản phẩm da, giầy các loại cùng với
những sản phẩm thuộc da khác.Tuy nhiên hiện nay xí nghiệp còn bổ xung
thêm các mặt hàng giầy vải, giầy thể thao nhằm tăng thêm chủng loại, đa dạng
hoá sản phẩm. Đông thời xí nghiệp còn kinh doanh các nguyên phụ liệu, phẩm
chất, máy móc thiết bị, phụ tùng, đồ điện dân dụng, dụng cụ kim khí, điện
máy hay làm đại lý cho các doanh nghiệp trong và ngoài nớc về sản phẩm
nguyên phụ liệu thiết bị ngành giầy.
Đứng đầu xí nghiệp là ban giám đốc gồm một giám đốc, một trợ lý giám đốc và
ba phó giám đốc.
+ Giám đốc: là ngời đứng đầu xí nghiệp , chịu trách nhiệm chung trớc tổng
công ty trong công tác điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh của xí nghiệp,
thay mặt toàn bộ CBCNV của xí nghiệp chịu trách nhiệm trớc nhà nớc và cơ quan
chủ quản cấp trên về tình hình hoạt động và nộp ngân sách.
+ Trợ lý giám đốc: có chức năng th kí tổng hợp, văn th liên lạc, tham mu cho
giám đốc về việc hình thành và chuẩn bị các yêu cầu quản lý.
+ Phó giám đốc sản xuất: là ngời trực tiếp phụ trách các bộ phận, phòng
XNK, trung tâm thiết kế mẫu và kỹ thuật cũng nh xởng giầy da của xi nghiệp. Với
nhiệm vụ cụ thể là chỉ đạo các thành viên nghiên cứu và tìm mẫu mới trong thời
gian nhanh nhất nhằm theo kịp nhu cầu thị hiếu của khách hàng, đồng thời phụ
trách mảng XNK với yêu cầu cao từ phía các bạn hàng quốc tế đặt ra.
+ Phó giám đốc kỹ thuật: trực tiếp phụ trách phòng quản lý chất lợng ISO
đồng thời quản lý hai xởng giầy vải và xởng cao xu. Với nhiệm vụ giám sát quá
trình sản xuất, tiêu thụ cũng nh công tác quản lý của xí nghiệp nhằm mang lại hiệu
quả cao hơn trong công việc kinh doanh.
+ Phó giám đốc thơng mại: quản lý trực tiếp các phòng nh phòng kinh doanh
nội địa, phòng thơng mại, phòng hành chính và xởng cơ điện. Nhiệm vụ đặt ra là
tổ chức công tác hành chính, thơng mại dịch vụ và đặc biệt mảng kinh doanh nội
địa luôn đòi hỏi ngời quản lý lỗ lực cao nhất.
5
* Các phòng ban của doanh nghiệp:
+ Phòng tài chính kế toán: Chịu sự giám sát trực tiếp của giám đốc, phòng
có nhiệm vụ hạch toán kinh doanh, lập các báo cáo tài chính, báo cáo kết quả kinh
doanh, cung cấp thông tin về vốn, tài sản, công nợi thu chi, hạch toán chi phí
nguyên vật liệu tính giá thành, giá bán thành phẩm, tính trả lơng cho công nhân
viên, tham mu cho giám đốc về các vấn đề tài chính.
+ Phòng tổ chức: cũng nh phòng tài chính kế toán, phòng tổ chức chịu sự
giám sát trực tiếp của giám đốc với nhiệm vụ tổ chức sắp xếp những vấn đề về
IV. Đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của xí nghiệp.
Trải qua hơn 45 năm trởng thành và phát triển, Xí nghiệp sản xuất dịch vụ
thơng mại da giầy Việt Nam từng bớc vơn lên và trở thành một trong những doanh
nghiệp đứng đầu ngành của Việt Nam.
Với nhiệm vụ vừa nghiên cứu, vừa thiết kế mẫu, vừa tiến hành sản xuất và
tiêu thụ sản phẩm, Xí nghiệp đã đáp ứng đợc nhu cầu trong và ngoài nớc, mang lại
cho Ngân sách Nhà nớc một lợng ngoại tệ lớn.
Hiện nay công ty đang sản xuất và kinh doanh các mặt hàng chủ yếu sau:
- Giầy vải,
- Giầy thể thao,
- Giầy da,
- Các sản phẩm từ da thuộc
Xí nghiệp chuyên sản xuất các mặt hàng có chất lợng cao theo đơn đặt
hàng của khách hàng trong và ngoài nớc. Xí nghiệp có hệ thống quản lý chất lợng
đạt tiêu chuẩn ISO 9002. Trong những năm vùa qua, sản phẩm của Xí nghiệp luôn
đợc khách hàng a thích và bình chọn là hàng Việt Nam chất lợng cao.
7
Bảng 1: Những thành tích đáng kể đợc thể hiện qua các chỉ tiêu tổng
quát sau
Chỉ tiêu Đơn vị tính Năm 2003 Năm 2004 Năm 2005
1. Tổng doanh thu Triệu đồng
11.985,891 25.210,699 53.299000
2. Kim ngạch xuất khẩu Triệu USD 27 29.7 30
4. Tổng lợi nhuận trớc thuế Triệu đồng 1.408 1.527 1.605,36
5. Nộp ngâp sách Triệu đồng 2.473 2.874 3.369
6. Vốn cố định Triệu đồng
3.742 4.282 5.003
Trong đó vốn ngân sách Nhà N-
ớc cấp
8.000 8.000 8.000
9 Thuế TNDN 387 482 514 95 24,63 31 6,43
10
LN sau thuế
823 1.026 1.091 203 24,63 66 6,43
11 Thu nhập BQ/ngời/tháng 0,850 0,950 1,150
Qua số liệu trên ta thấy Xí nghiệp đang hoạt động ngày một hiệu quả, thể
hiện trớc hết ở doanh thu và kim ngạch xuất khẩu luôn luôn tăng với tốc độ cao,
đặc biệt là doanh thu hàng xuất khẩu.
Cụ thể, năm 2004 là 25.210,699triệu tăng 110,3% (+13.224,808 triệu) so
với năm 2003 trong đó doanh thu xuất khẩu tăng 33,30%. Năm 2005 doanh thu
vẫn tăng cao cụ thể là tăng 111,4% (+28088,301triệu) so với năm 2004, nhng tốc
độ tăng doanh thu hàng xuất khẩu lại bị sụt giảm mạnh chỉ tăng 11,72% (+8.498
triệu) so với năm 2004. Xét trên bình diện chung của cả ngành thì đây là một kết
quả khả quan thể hiện mức tăng trởng cao của doanh nghiệp.
Do đạt đợc mức tăng tổng doanh thu cao vào năm 2004 nên đã làm cho
tổng lợi nhuận cũng tăng tơng ứng với mức tăng 24,63% (+298 triệu) so với năm
2003, nhng khi qua năm 2005 mức tăng tổng lợi nhuận trớc thuế đã giảm khá
mạnh do phải cạnh tranh, bắt buộc Xí nghiệp phải nâng cao chất lợng, giảm giá
hàng bán nên chỉ tăng 6,43% (+98 triệu) so với năm 2004.
Tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu thuần năm 2003 là 1,29% hay nói cách
khác là cứ 100 đồng doanh thu thì tạo ra 1,29 đồng lợi nhuận sau thuế, năm 2004
là 1,2% còn năm 2003 đã xuống tới mức 1,06% tức là 100 đồng doanh thu chỉ còn
tạo ra đợc 1,06 đồng lợi nhuận sau thuế.
Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh trong năm 2005 đã sụt giảm so với
năm trớc, nguyên nhân chủ yếu là do doanh thu xuất khẩu giảm mạnh. Mức sụt
giảm này cho thấy hoạt động sản xuất kinh doanh của Xí nghiệp ở thị trờng ngoài
9
nớc đang gặp nhiều khó khăn do cạnh tranh quyết liệt bắt buộc công ty phải giảm
giá bán để duy trì thị trờng, dẫn đến giá vốn bán hàng chiếm tỷ trọng cao trong
doanh thu thuần, tỷ trọng bình quân giá vốn bán hàng trong doanh thu thuần là
doanh nghiệp nói chung và xí nghiệp-dịch vụ thơng mại nói riêng. Cạnh tranh lành
mạnh hợp pháp có thể làm thay đổi tình hình của xí nghiệp từ yếu kém trở nên
hùng mạnh và ngợc lại có thể làm cho xí nghiệp đi đến phá sản, vì thế các doanh
nghiệp cần phải nghiên cứu đối thủ cạnh tranh để có thể khẳng định đợc vị trí của
mình trên thị trờng. Từ đó xây dựng chiến lợc cạnh tranh đúng đắn, các phơng
thức cạnh tranh có lợi nhất để thu đợc kết quả kinh doanh cao nhất, tăng lợi nhuận
cho xí nghiệp.
Sản phẩm Xí nghiệp sản xuất dịch vụ thơng mại da giầy Việt Nam đang
phải cạnh tranh với rất nhiều sản phẩm của các công ty khác tại thị trờng trong
nớc nh: Công ty giày Thợng Đình, Công ty giày da Hà Nội, giầy dép Thăng
Long, giầy Thuỵ Khuê, giầy dép Bitis, Công ty giầy da Sài Gòn và các sản
phẩm ngoại nhập. Đối với thị trờng ngoài nớc, sản phẩm của công ty cha thật
sự vững mạnh, điều đó đã dẫn đến xuất khẩu sản phẩm không ổn định. Để
đứng vững tại thị trờng trong và ngoài nớc Công ty cần phải có những biên
pháp cải tiến về sản phẩm, chất lợng sản phẩm, giá thành sản phẩm, tìm kiếm
thêm các thị trờng tiềm năng và các biện pháp hỗ trợ việc tiêu thụ sản phẩm.
11
b. Luật pháp - Chính sách quản lý của nhà nớc:
Nhà nớc có nhiệm vụ hớng dẫn tiêu dùng cho nhân dân. Hiện nay Đảng và
Nhà nớc ta đang cố gắng sửa đổi bổ sung các chính sách về thuế, luật kinh tế,
chính sách phát triển kinh tế nhằm tạo ra những điều kiện hoạt động tốt hơn cho
mọi doanh nghiệp, từng bớc nâng hiệu quả kinh tế, phát triển nền kinh tế đất nớc.
Các nhân tố thuộc về cơ chế quản lý nhà nớc có ảnh hởng đến hoạt động
tiêu thụ của doanh nghiệp thơng mại. Các chính sách của nhà nớc sử dụng nh:
thuế, quĩ bình ổn giá cả, trợ giá, lãi suất tín dụng ngân hàng có ý nghĩa quan
trọng trong hoạt động tiêu thụ của xí nghiệp và ngợc lại. Ngoài ra, các chính
sách về phát triển những ngành khoa học, văn hoá nghệ thuật của nhà nớc
cũng có vai trò quan trọng, nó tác động trực tiếp đến cung cầu giá cả.
Về môi trờng chính trị và pháp luật môi trờng này bao gồm hệ thống pháp
luật và các văn bản dới luật, các công cụ chính sách của nhà nớc, tổ chức bộ máy
Điều kiện sinh hoạt của tầng lớp dân c, thu nhập quỹ tiêu dùng của dân c
trên địa bàn hoạt động của xí nghiệp, bất kỳ sự thay đổi nào về thu nhập của ngời
tiêu dùng ảnh hởng tới cách thức chấp nhận sản phẩm của ngời tiêu dùng. Thu
nhập của ngời tiêu dùng cao thì họ sẽ tiêu dùng nhiều, lúc đó doanh nghiệp có
điều kiện mở rộng doanh số tiêu thụ và làm tăng lợi nhuận.
Tập quán tiêu dùng, đặc điểm địa lý dân c, kết cấu, lứa tuổi, giới tính cũng
là nhân tố quan trọng ảnh hởng trực tiếp đến quyết định mua của ngời tiêu dùng và
do đó ảnh hởng đến hoạt động bán ra của doanh nghiệp.
Trình độ dân trí cũng ảnh hởng đến cách thức mua sắm của ngời tiêu dùng.
Do trình độ văn hoá, hiểu biết của ngời tiêu dùng tăng lên làm dịch chuyển nhu
cầu tiêu dùng đối với nhiều loại sản phẩm dịch vụ. Nếu doanh nghiệp không đáp
ứng đợc nhu cầu tiêu dùng thì chắc chắn xí nghiêp sẽ thất bại trong cạnh tranh
cũng nh trong hoạt động kinh doanh.
e. Nhân tố thuộc về thị trờng
Thị trờng cũng là một nhân tố ảnh hởng đến hoạt động tiêu thụ sản phẩm của
xí nghiệp. Trên thị trờng, cung cấp sản phẩm nào đó có thể lên xuống do nhiều
nguyên nhân làm cho giá cả sản phẩm cũng biến động và ảnh hởng trực tiếp đến
khả năng tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp. Nếu cung nhỏ hơn cầu thì giá cả
cao hơn và ngợc lại. Việc cung ứng vừa đủ để thoả mãn nhu cầu về một loại sản
phẩm trong một thời điểm nhất định là trạng thái cân bằng cung cầu.
* Tình hình tiêu thụ sản phẩm giầy ở một số nớc trong khu vực:
Ngày nay với sự lớn mạnh của nền kinh tế nhu cầu làm đẹp của con ngời
không ngừng tăng lên. Xu hớng trong cách mua sắm của con ngời không chỉ là
bền, chắc mà là đẹp và hợp mốt. Với những nớc phát triển nhu cầu về hàng hoá
chất lợng cao ngày càng tăng, những nớc phát triển và những nớc có dân số đông
13
có thị trờng rộng lớn nh: Mỹ, Đức, Trung Quốc nhu cầu giầy dép ở những nớc
này cao cung không đủ cầu vì vậy họ phải nhập khẩu từ những nớc khác.
Liên minh châu Âu EU là một trong những thị trờng lớn về nhập khẩu giầy-
dép trên thế giới và cũng là nơi có ngành công nghiệp giầy dép phát triển từ lâu
Tiêu dùng 7120 7869 8001
Nguồn: báo DN ra ngày 20/12/2004
14
- Ngoài ra phải kể đến nhu cầu ở các nớc khác nh:
+ Đức có nhu cầu tiêu dùng hàng năm là: 7640 tấn
+ Tâybanha có nhu cầu tiêu dùng hàng năm là: 8770 Tấn
+ Canađa có nhu cầu tiêu dùng hàng năm là: 7260Tấn
* Tình hình tiêu thụ giầy ở Việt Nam:
Hiện nay sản phẩm giầy ở Việt Nam đang phát triiển khá mạnh và chiếm
đợc tình cảm của nhiều khách hàng không chỉ ở trong nớc mà còn rất nhiều
khách hàng và bạn hàng quốc tế. Mặc dù giầy Việt Nam chịu sự cạnh tranh khốc
liệt của các loại giầy nớc ngoài đặc biệt là hàng nhập từ Trung Quốc. Việt Nam
có nhiều lợi thế hơn các nớc sản xuất giầy dép trong khu vực về giá nhân công rẻ.
Do đó giá thành tính trên một đơn vị sản phẩm rẻ hơn so với các sản phẩm cùng
loại đợc sản xuất từ các nớc trong khu vực. Hiện nay Việt Nam là nớc sản xuất
giầy dép sang trực tiếp thị trờng EU. EU là Thị trờng sản xuất ngày càng giảm
trong khi đó sức tiêu thụ ngày càng tăng tạo diều kiện thuận lợi cho DN Việt
Nam tìm kiếm thêm thị trờng. Bình quân đầu ngời trong các nớc EU sự dụng vào
khoảng 1-4 đôi giầy/măm với dân số khoảng 367 triệu ngời hàng năm tiêu thụ
trên 1 tỷ đôi giầy các loại vì thế việc nhập khẩu từ nớc ngoài cộng đồng là không
thể tránh khỏi.
Giầy dép là loại mặt hàng EU không khuyến khích nhập khẩu, nó đợc hởng
mức thuế xuất tối huệ quốc. Vì vậy các DN Việt Nam cần tăng khả năng cạnh
tranh của sản phẩm về các khía cạnh chất lợng, giá cả, thời hạn giao hàng để tranh
thụ nâng cao kim nghạch xuất khẩu. Trong sản xuất giày của Việt Nam cha phải
áp dụng hạn ngạch xuất khẩu nh các nớc khác. Bên cạnh đó các DN cũng cần phải
lu ý đảm bảo các điều kiện về tiêu chuẩn xuất sứ và tránh gian lận trong thơng
mai.
2. Nhân tố chủ quan thuộc về xí nghiệp.
a. Giá cả sản phẩm:
gì? cho đối tợng tiêu dùng nào? khi xí nghiệp xác định đợc bán cái thị trờng cần
chứ không bán cái mà xí nghiệp có tức là doanh nghiệp đã lựa chọn đúng mặt
hàng kinh doanh sẽ đảm bảo cho hoạt động tiêu thụ sản phẩm của doanh nghiệp
thuận lợi. Bởi sản phẩm marketing của doanh nghiệp nào mà phù hợp với thị hiếu
nhu cầu của khách hàng thì họ sẽ chọn sản phẩm của doanh nghiệp đó.
Chính sách mặt hàng trong kinh doanh cũng ảnh hởng tới tiêu thụ, ví dụ: Đối
với mặt hàng kinh doanh nên kinh doanh một số ít mặt hàng nhng chủng loại và
phẩm chất phải phong phú. Đối với mặt hàng trong siêu thị nên kinh doanh tổng
16
hợp nhiều mặt hàng, mỗi loại mặt hàng nên có nhiều loại đa dạng khác nhau hoặc
là phẩm cấp giá cả khác nhau để thu hút ngời mua.
d. Các hoạt động dịch vụ hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm:
Qui mô sản xuất ngày càng tăng, tiến bộ khoa học kỹ thuật và các mối quan
hệ giao dịch thơng mại ngày càng phát triển thì càng đặt ra nhiều yêu cầu mới cho
hoạt động tiêu thụ sản phẩm trong đó kể cả hoạt động dịch vụ khách hàng. Dịch
vụ lúc này là vũ khí cạnh tranh sắc bén của xí nghiệp, nó xuất hiện ở mọi nơi mọi
giai đoạn của quá trình bán hàng, nó hỗ trợ cả trớc và sau bán hàng.
Dịch vụ trớc khi bán hàng nhằm giúp truyền đạt thông tin về sản phẩm dịch
vụ của xí nghiệp tới khách hàng đợc nhanh chóng, chính xác, giúp khách hàng
hiểu rõ đợc về sản phẩm dịch vụ để có đợc quyết định lựa chọn chính xác phù hợp
các dịch vụ và chuẩn bị hàng hoá, về triển lãm trng bầy, chào hàng dịch vụ trong
quá trình bán hàng nhằm trợ giúp khách hàng mua đợc hàng hoá có thêm các
thông tin về sản phẩm dịch vụ và các đặc tính kinh tế, kỹ thuật hay cách thức vận
hành, bảo quản. Những dịch vụ sau khi bán hàng là tất cả các hoạt động làm tăng
thêm hoăc tạo điều kiện thuận lợi trong việc sử dụng sản phẩm của khách hàng sau
khi mua. Sự hài lòng của khách hàng sau khi mua là yếu tố then chốt để thành
công trong kinh doanh của các doanh nghiệp trong thời đại này. Đồng thời dịch vụ
sau khi bán hàng sẽ có tác dụng tạo nhu cầu và thu hút khách hàng mới, giúp xí
nghiệp thu đợc những thông tin phản hồi từ phía khách hàng về sản phẩm dịch vụ
để có đối sách phù hợp.
quản lý hiện nay, quảng cáo là công cụ của Marketing thơng mại, là phơng tiện để
bán hàng. Quảng cáo làm cho hàng hoá bán đợc nhiều hơn, nhanh hơn, nhu cầu đ-
ợc đáp ứng kịp thời.
Tuy nhiên nếu chúng ta không đánh giá đúng giá trị, mục tiêu của quảng cáo
thì có thể lại phản lại tác dụng của quảng cáo. Quảng cáo quá mức sẽ làm chi phí
tăng lên dẫn tới giảm lợi nhuận; quảng cáo sai sự thật sẽ làm mất lòng tin của
khách hàng
Hội chợ và triển lãm thơng mại: là hoạt động xúc tiến thơng mại thông qua
việc trng bầy hàng hoá, tài liệu về hàng hoá, để giới thiệu quảng cáo hàng hoá bán
hàng và nắm đợc nhu cầu, ký kết hợp đồng kinh tế nhằm mở rộng và thúc đẩy việc
tiêu thụ sản phẩm Hội chợ thơng mại đóng vai trò nổi bật trong thị trờng hàng
công nghiệp và chúng đang đạt đợc những thành công trong thị trờng hàng tiêu
dùng. Hội chợ đợc coi là hình thức dịch vụ ứng dụng đối với những hàng hoá mới
và những hàng hoá ứ đọng, chậm luân chuyển.
+ áp dụng biện pháp Maketing hỗn hợp
Các biện pháp Maketing hỗn hợp bao gồm bốn nhóm công cụ chủ yếu là
chiến lợc sản phẩm, chiến lợc giá cả, chiến lợc phân phối, chiến lợc xúc tiến hỗn
hợp.
18
Chiến lợc sản phẩm giúp DN tạo ra sản phẩm có chất lợng, hình thức bao
bì, mẫu mãphù hợp với nhu cầu thị hiếu của ngời tiêu dùng. Ngoài ra thông qua
chiến lợc sản phẩm mà DN tạo ra và đa ra thị trờng các sản phẩm đang ở giai đoạn
đầu của chu kỳ.
Chiến lợc giá bán sản phẩm cũng tạo ra sức hút lớn đối với ngời tiêu dùng
trên thi trờng, còn quan hệ cung cầu sẽ quyết định giá bán sản phẩm. Nếu DN định
giá bán thấp hơn giá thị trờng sẽ thúc đầy công tác tiêu thụ sản phẩm nhng DN lại
gặp khó khăn trong việc bù đắp chi phí sản xuất, chi phí tiêu thụ. Nếu DN định giá
bán cao hơn giá thị trờng sẽ khó khăn thu hút khách hàng tiêu dùng sản phẩm của
DN, dẫn đến hàng hoá bị ứ đọng, hoạt động tiêu thụ sản phẩm bị ách tắc.
e. Mạng lới phân phối của xí nghiệp
tiêu thụ sản phẩm đòi hỏi DN phải tính đến sự tác động của nhân tố địa điểm tiêu
thụ sản phẩm để có thể tránh đợc tình trạng tuy khả năng cung ứng lớn nhng
không đáp ứng tốt các nhu cầu của thị trờng.
h. Công nghệ sản xuất, chi phí sản xuất và đội ngũ nhân lực
Công nghệ sản xuất:Đây là nhân tố quyết định chất lợng sản phẩm của DN,
công nghệ sản xuất hiện đại một mặt nâng cao năng xuất lao động của DN tạo cơ
hội để DN hạ giá thành sản phẩm, mặt khác giúp DN cho ra những sản phẩm chất
lợng cao, tiết kiệm nhiên liệuđiều này có tác dụng tích cực đối với hoạt động tiêu
thụ, đồng thời tăng khả năng cạnh tranh cho DN.
Chi phí sản xuất: Là chi phí cho quá trình sản xuất của DN tuy không tác
động trực tiếp đến quá trình tiêu thụ sản phẩm nhng nó góp phần đáng kể vào việc
cấu thành giá thành sản phẩm từ đó làm cơ sở xác định giá bán sản phẩm. Khi chi
phí thấp sẽ làm hạ giá thành sản phẩm, dẫn đến hạ giá bán thành phẩm, giúp DN
tăng cờng sức cạnh tranh về giá trên thị trờng. Ngợc lại khi chi phí cao sẽ dẫn tới
giá bán thành phẩm tăng điều này khiến cho DN gặp khó khăn trong việc thu hút
khách hàng, đẩy mạnh tiêu thụ sản phẩm. Do đó đòi hỏi DN phải đặc biệt quan
tâm đến công tác quản lý chi phí sản xuất.
Đội ngũ nhân lực: là nhân tố chủ quan thuộc về DN. Nó đòi hỏi đóng góp
vai trò trực tiếp quyết định hiểu quả công tác tiêu thụ vì toàn bộ nội dung của quá
trình tiêu thụ đều do đội ngũ cán bộ, nhân viên của DN xây dựng và tổ chức thực
hiện. Chiến lợc tiêu thụ của DN có đợc xây dựng thực sự hay không và có đợc
thực thi đúng hay không là do nhân tố này quyết định. Do vậy DN phải hết sức
quan tâm đến công tác đào tạo, tuyển chọn đề bạt nhân lực của DN phục vụ hoạt
động tiêu thụ sản phẩm nói riêng và hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn DN
nói chung.
II. Phân tích thực trạng tiêu thụ sản phẩm của Xí nghiệp sản xuất
dịch vụ thơng mại da giầy Việt Nam.
20
Song song với công tác sản xuất sản phẩm thì xí nghiệp cũng xây dựng
cho mình một chiến lợc tiêu thụ sản phẩm phù hợp với điều kiện sản xuất,
49,79% trong tổng doanh thu, so với năm 2003 giảm 11,16%.
21
- Mặt hàng giầy da:
Doanh thu mặt hàng này năm 2004 đạt 3.509,276 tr/đ so với năm 2003 tăng
3.215,857 trđ với tỷ lệ tăng 63,25%, xét về tỷ trọng năm 2004 chiếm 13,92% trong
tổng doanh thu, so với năm 2003 tăng 11,78%.
- Mặt hàng giầy thể thao:
Doanh thu mặt hàng này năm 2004 đạt 1.670,550 tr/ đ, chiếm tỷ trọng 6,63%
trong tổng doanh thu. Sở dĩ chỉ tiêu chỉ đạt đợc thấp nh vậy vì đây là mặt hàng mới
bắt đầu xâm nhập cho nên cha thực sự tìm đợc thị trờng của mình.
Vậy qua sự phân tích trên cho ta thấy rằng, doanh thu bán hàng tăng nhanh
trong hai năm qua với tốc độ tăng rất nhanh 119,34% và mặt hàng giầy vải là mặt
hàng chủ lực, truyền thống của xí nghiệp. Xí nghiệp cần quan tâm hơn nữa đến số
lợng, chất lợng, giá cả, mẫu mã để đáp ứng nhanh nhu cầu ngày càng tăng của
ngời tiêu dùng. Xét về tỷ trọng, mặt hàng này năm 2004 giảm so với năm 2003.
Nguyên nhân là do năm 2004 có nhiều biến động về thị trờng thế giới và khu vực:
* Sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh trong và ngoài nớc. Nớc ngoài có
Trung Quốc - một đất nớc hơn tỷ dân, giá lao động rẻ, có nhiều lợi thế cạnh tranh
hơn Việt Nam, sản phẩm đa dạng phong phú giá rẻ có tính cạnh tranh cao. Bên
cạnh đó các công ty trong nớc nh công ty giầy Thăng Long, công ty da giầy Th-
ợng Đình
Về mặt hàng giầy thể thao là mặt hàng mũi nhọn đang đợc thị trờng chấp
nhận. Mặt hàng giầy da mặc dù là tỷ trọng không lớn nhng tăng rất nhanh với tốc
độ tăng doanh thu là 126,25%. Nguyên nhân là do bắt đầu từ tháng 8/1999 xí
nghiệp mới quyết định tận dụng dây chuyền sản xuất giầy da cũ để đầu t dây
chuyền giầy nữ. Năm 2003 cha sản xuất đợc nhiều, sang năm 2004 mới phát huy
đợc công suất và mặt hàng này đã đợc thị trờng chấp nhận. Thị trờng tiêu thụ chủ
yếu của mặt hàng này là Anh, Newzealand, Italia và một số thị trờng khác. Vậy
mặt hàng giầy da chủ yếu là phục vụ xuất khẩu, còn tiêu dùng trong nớc là rất ít.
Công ty cần quan hơn nữa đến mặt hàng này để mở rộng thị trờng tiêu thụ. Còn
Thực hiện
2004
Thực hiện
2005
Tổng doanh thu 11.985,891 25.210,699 53.299000
1. Doanh thu trong nớc:
+ Bán buôn
+ Bán lẻ
2.222,641
1.701,19
521,451
5.282,342
4.675,752
606,59
30.769000
29.315,621
1.453,379
2. Doanh thu xuất khẩu:
+ Trực tiếp
+ Xuất khẩu qua ủy thác
9.763,25
9.372,72
390,53
19.928,357
19.928,357
22.530000
22.530000
Năm 2005 đạt tổng doanh thu 53.299000 tr/đ tăng 28.088,301 so với năm
những cuộc khủng hoảng kinh tế, chính trị tại châu Âu, châu Mỹ Song phần chủ
yếu nhất vẫn là do chính sách mới của xí nghiệp là tập trung nghiên cứu mở rộng
thị trờng nội địa, nâng cao thị phần sản phẩm xí nghiệp tạo tầm ảnh hởng lớn hơn
trong tơng lai.
3. Địa bàn tiêu thụ sản phẩm.
* Thị trờng xuất khẩu:
25