đồ án công nghệ thông tin THIẾT KỂ LẮP ĐẶT MẠNG LAN CHO MỘT CÔNG TY VỪA VÀ NHỎ - Pdf 26


TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
KHOA ĐIỆN TỬ VIỄN THÔNG
LUẬN VĂN TỐT NGHIỆP
ĐỀ TÀI
“THIẾT KỂ LẮP ĐẶT MẠNG LAN CHO MỘT CÔNG TY VỪA VÀ NHỎ”
Sinh viên thực hiện: Trần Minh Hiền
Lớp : Cao đẳng bách khoa khóa 1 trạm trường
Cán bộ thương mại trung ương
Giáo viên hướng dẫn: Nguyễn Vũ Thắng
Hà nội ngày 30 tháng 4 năm 2008
LỜI NÓI ĐẦU
Trong cuộc sống hàng ngày của chúng ta luôn tồn tại nhưu cầu trao đổi
thông tin, nhất là trong các cơ quan và xí nghiệp. Vì vậy việc lắp đặt một hệ
thống mạng có tầm quan trọng hết sức lớn lao. Nó giúp chúng ta có thể truyền
tải thông tin một cách nhanh chóng, kịp thời, tiết kiệm một phần không nhỏ
thời gian, tiền bạc và công sức của người sử dụng.
Cuộc sống số làm tăng lượng máy tính và thiết bị di động cá nhân được
sử dụng tại nhà. Nhiều gia đình đồng thời sử dụng hai, ba thậm chí là bốn máy
tính. Bên cạnh việc sử dụng mạng để chia sẻ tài nguyên giữa các máy thì nhu
cầu kết nối Internet bằng laptop, ĐTDĐ hay thiết bị PDA từ bất cứ đâu cho dù
đang ở phòng khách, trên giường ngủ, kể cả trong lúc đợi chờ bữa cơm
thường nhật gia đình ở trong bếp ngày càng tăng nhanh.
Xuất phát từ ý tưởng trên , em quyết định chọn đề tài “ Thiết kế một
mạng máy tính cho gia đình hoặc một công ti vừa và nhỏ ” cho luận văn tốt
nghiệp của mình. Nhưng do thời gian cũng như sự hiểu biết của mình còn có
hạn nên bài viết của em còn rất nhiều thiếu sót,em mong được sự giúp đỡ góp
ý của các thầy cô và các bạn bè để có thể hoàn thành tốt bài luận văn này.
MỤC LỤC
Ph n I: Gi i thi u chungầ ớ ệ
Chương I: Giới thiệu đề tài.

2. Nối kết tầng 2 bằng switch .
3. Thiết kế mạng ở tầng 3.
4. Xác định vị trí đặt Server.
5. Lập tài liệu cho tầng 3.
6. Các bước thực hiện
Chương III: Tiến trình lắp đặt.
1. Giới thiệu về mạng wifi.
2. tiến trình lắp đặt.
3. ý tưởng mở rộng .

Ph n IV: K t lu nầ ế ậ
Ph n I: Gi i thi u chungầ ớ ệ
Chương I: Giới thiệu đề tài.
1. Mục đích yêu cầu của đề tài.
Ngành công nghệ thông tin liên lạc đã phát triển nhanh chóng cùng với các
ngành công nghệ khác, nhằm đáp ứng nhưu cầu ngày càng cao của xã hội.
Công nghệ thông tin đóng vai trò cốt lõi trong việc cập nhật thông tin cho
mọi người. Với những nhu cầu về mạng internet cũng như LAN hay WAN
ngày càng thấm sâu vào đời sống hàng ngày của chúng ta với rất nhiều ứng
dụng thực tiễn như email, chat, điện thoại IP, web, … Vì vậy với suy nghĩ là
ứng dụng kiến thừc đã học ở trường và tìm hiểu thêm trong sách vở, em
quyết định chọn đề tài này với mong muốn sau khi thực hiện xong có thể
đem ra ứng dụng trong thực tiễn.
Từ mục đích trên mô hình lắp đặt mạng phải đảm các yêu cầu sau:
- Sử dụng tiện lợi và có thể lắp đặt được ở mọi địa hình trên khắp
cả nước
- Gọn nhẹ, đễ lắp đặt và tháo dỡ.
- Có tính thẩm mỹ, bền và giá thành rẻ.
- Có tính bảo mật cao. Sử dụng tối đa các ứng dụng của internet.
2. Giới hạn của đề tài.

băng rộng: 90-120 USD.

MẠNG KHÔNG DÂY (WI-FI)
Ưu điểm: Không cần đi dây cáp xuyên
tường hay xuyên tầng, dùng máy tính
xách tay để duyệt web từ khắp nơi.
Nhược điểm: Đắt tiền hơn mạng có dây,
phải cài đặt cẩn thận để đảm bảo bảo mật
và tầm phủ sóng, các chuẩn đang trong
giai đoạn hoàn thiện có thể không tương
thích, tốc độ giảm khi khoảng cách tăng.
Chi phí: Card PCMCIA 802.11b
(11Mbps): 30-45 USD; card PCI
802.11b: 36-45 USD; card PCMCIA
802.11g (54Mbps): 70-90 USD; card
PCI 802.11g: 75-80 USD, router băng
rộng không dây: 120-200 USD

Kết nối mạng không dây đang dần trở thành một xu thế hiện đại, bên cạnh
các loại hình kết nối mạng truyền thống dùng dây cáp. Chất lượng tin cậy,
hoạt động ổn định, thủ tục cài đặt đơn giản, giá cả phải chăng là những yếu tố
đặc trưng chứng tỏ kết nối không dây đã sẵn sàng đáp ứng mọi nhu cầu trao
đổi thông tin khác nhau từ sản xuất, kinh doanh đến nhu cầu giải trí Vì vậy
em quyết định đi theo hướng này.
Chương II: Cơ sở lý thuyết
II.1. Giới thiệu sơ lược về mô hình OSI và giao thức TCP/IP.
1. Mô hình mạng OSI.
Để dễ dàng cho việc nối kết và trao đổi thông tin giữa các máy tính với
nhau, vào năm 1983, Tổ chức tiêu chuẩn thế giới ISO đã phát triển một mô
hình cho phép hai máy tính có thể gửi và nhận dữ liệu cho nhau. Mô hình này

Tầng 2: Tầng liên kết dữ liệu (Presentation Layer)
Tầng này đảm bảo truyền tải các khung dữ liệu (Frame) giữa hai máy
tính có đường truyền vật lý nối trực tiếp với nhau. Nó cài đặt cơ chế phát hiện
và xử lý lỗi dữ liệu nhận.
Tầng 3: Tầng mạng (Session Layer)
Tầng này đảm bảo các gói tin dữ liệu (Packet) có thể truyền từ máy tính
này đến máy tính kia cho dù không có đường truyền vật lý trực tiếp giữa
chúng. Nó nhận nhiệm vụ tìm đường đi cho dữ liệu đến các đích khác nhau
trong mạng.
Tầng 4: Tầng vận chuyển (Transport Layer)
Tầng này đảm bảo truyền tải dữ liệu giữa các quá trình. Dữ liệu gửi đi
được đảm bảo không có lỗi, theo đúng trình tự, không bị mất mát, trùng lắp.
Đối với các gói tin có kích thước lớn, tầng này sẽ phân chia chúng thành các
phần nhỏ trước khi gửi đi, cũng như tập hợp lại chúng khi nhận được.
Tầng 5: Tầng giao dịch( Network Layer)
Tầng này cho phép các ứng dụng thiết lập, sử dụng và xóa các kênh
giao tiếp giữa chúng (được gọi là giao dịch). Nó cung cấp cơ chế cho việc
nhận biết tên và các chức năng về bảo mật thông tin khi truyền qua mạng.
Tầng 6: Tầng trình bày (Datalink Layer)
Tầng này đảm bảo các máy tính có kiểu định dạng dữ liệu khác nhau
vẫn có thể trao đổi thông tin cho nhau. Thông thường các máy tính sẽ thống
nhất với nhau về một kiểu định dạng dữ liệu trung gian để trao đổi thông tin
giữa các máy tính. Một dữ liệu cần gửi đi sẽ được tầng trình bày chuyển sang
định dạng trung gian trước khi nó được truyền lên mạng. Ngược lại, khi nhận
dữ liệu từ mạng, tầng trình bày sẽ chuyển dữ liệu sang định dạng riêng của nó.
Tầng 7: Tầng ứng dụng (Physical Layer)
Đây là tầng trên cùng, cung cấp các ứng dụng truy xuất đến các dịch vụ
mạng. Nó bao gồm các ứng dụng của người dùng, ví dụ như các Web Browser
(Netscape Navigator, Internet Explorer), các Mail User Agent (Outlook
Express, Netscape Messenger, ) hay các chương trình làm server cung cấp

trao đổi thông tin được với nhau. Với sự lớn mạnh của mạng Internet, các máy
tính cài đặt các hệ - Xử lý dữ liệu qua các tầng điều hành khác nhau đòi hỏi
phải giao tiếp được với nhau, tức phải sử dụng chung một giao thức. Đó chính
là bộ giao thức TCP/IP, giao thức của mạng Internet.
2. Mô hình mạng TCP/IP, và giao thức TCP.
A, Mô hình mạng TCP/IP
Chúng ta đã khảo sát mô hình OSI 7 lớp, mô hình này chỉ là mô hình
tham khảo, việc áp dụng mô hình này vào thực tế là khó có thể thực hiện
( hiệu suất kém vì dữ liệu phải truyền từ máy này sang máy kia trong mạng
qua tất cả các lớp của mô hình OSI ở cả hai máy), nó chỉ là tiêu chuẩn để các
nhà phát triển dựa theo đó mà phát triển các mô hình khác tối ưu hơn. Có rất
nhiều các mô hình khác nhau, hiện nay phổ biến nhất là mô hình TCP/IP.
Tương tự như mô hình OSI,mô hình TCP/IP được phân thành 4 lớp, trong
đó 2 lớp dưới (1 và 2) của mô hình OSI được gộp lại thành một lớp, hai lớp
sesion và presentation của OSI không có trong mô hình TCP/IP. Dữ liệu từ
một máy cũng truyền từ lớp cao nhất đi xuống, thông qua đường truyền vật lý
đến máy khác trong mạng: dữ liệu ở đây sẽ lại được truyền ngược từ dưới lên
trên, giữa các lớp của hai máy giao tiếp với nhau thông qua một protocol, giữa
lớp này với lớp khác trong cùng một máy gọi là interface. Lớp bên dưới cung
cấp các dịch vụ cho lớp bên trên.
OSI TCP/IP
7. Application
4. Application
6. Presentation
5. Sesstion
4. Transport 3. Transport
3. Network 2. Internet
2. Datalink 1. Host-to-
network
1. Physical

Như vậy, để hai process của hai máy tính bất kì trong mạng có thể giao
tiếp với nhau thì mỗi frame ở cấp network có IP gồm :
- Protocol (là TCP/UDP)
- Địa chỉ IP của máy gửi.
- Số hiệu port của máy gửi.
- Địa chỉ IP của máy đích.
- Số hiệu port của process ở máy đích.
Ví dụ :{ TCP, 127.28.11.83,6000,127.28.11.241,7000}
Tầng 4:Application layer (process layer)
Chứa các dịch vụ như trong các lớp Session, Presentation, Application của
mô hình OSI, ví dụ : Telnet (Terminel Acess) cho phép user thâm nhập vào
mộ host ở xa và làm việc ở đó như đang làm việc trên máy local (máy cục
bộ), FPT (File transfer protocol ) cũng là một định dạng của FTP nhưng nó có
nhiều đặc điểm riêng, DNS (Domain name service ) dùng để ánh xạ tên host
thành các địa chỉ IP và ngược lại.
B. Giao thức TCP.
TCP cung cấp khả năng truyền không lỗi từng gói dữ liệu gửi đi đến
máy nhận, theo giao thức này phải có trách nhiệm thông báo và kiểm tra xem
dữ liệu có đến đủ hay chưa, có lỗi hay không. Trước khi truyền dữ liệu bao
giờ cũng có việc thiết lập kênh truyền giữa hai máy.Do phải dung trì mối kết
nối và kiểm tra dữ liệu nên sử dụng TCP phải đòi hỏi chếm thêm một số tài
nguyên và cách lập trình cho giao thức này hơi khó ( Phải thực hiện các bước
kiểm tra dữ liệu theo yêu cầu của TCP).truyền dữ liệu theo giao thức này
thường áp dụng cho các dịch vụ như truyền tập tin, các dịch vụ trực tuyến trên
internet đòi hỏi có độ chính xác cao.
3. Địa chỉ IP.
A, Tổng quan về địa chỉ IP.
Tất cả các máy trong hệ thống mạng đều có ít nhất 2 địa chỉ: địa chỉ vật
lý (Mac Address) và địa chỉ Internet. Địa chỉ vật lý còn được gọi là
Ethernet address là một dãy bít gồm 48 bit được gán bởi các nhà sản xuất,

).
- Lớp B: Dùng cho hệ thống mạng trung bình với số lượng host ID
lên đến khoảng 65 ngàn địa chỉ.
31 30 29 16 15 0
1 0 Network ID Host ID
Địa chỉ lớp B được nhận biết qua bit đầu tiên trong phần Network ID
bit đầu tiên có giá trị 1. Phần Network ID có 16 bits và phần host ID có 16
bits như vậy số địa chỉ đường mạng trong lớp này là 16.382 (2
14
- 2)và địa
chỉ host là 2
16
– 2 = 65.534 địa chỉ.
- lớp C: Địa chỉ lớp C dùng cho mạng nhỏ có số lượng máy không vượt
quá 254 máy.
31 30 29 28 8 7 0
1 1 1 Network ID Host ID
Có thể nhận biết địa chỉ lớp này thông qua hai bit đầu tiên trong phần
network ID, hai bit này nhận giá trị 1. Phần network ID có 2
21
– 2 =
2.907.150 địa chỉ đường mạng và 2
8
– 2 = 254 địa chỉ host.
C. Subnet Mask (mặt nạ con):
subnet mask là một dãy 32 bits giống như địa chỉ IP đươc dùng kèm với
địa chỉ IP để xác định mạng con. Khi có một địa chỉ IP và kèm theo là một
subnet mask chúng ta có thể xác định địa chỉ đường mạng con của địa chỉ IP
đó bằng cách thực hiện toán tử AND giữa IP và subnet, đây là cách mà
router xác định cho gói dữ liệu đi theo đường mạng nào để đến máy nhận.

nhau để có thể liên lạc và trao đổi thông tin. Trên quan điểm Client/ Server thì
có thể xem internet như là mạng của các mạng sever, có thể truy xuất bởi hàng
triệu client. Việc chuyển và nhận thông tin trên internet được thực hiện bằng
nghi thức TCP/IP. Nghi thức này gồm hai thành phần là TCP và IP, Ip cắt nhỏ
và đóng gói thông tin chuyển qua mạng, khi đến máy nhận thì thông tin đó sẽ
được ráp nối lại. TCP bảo đảm cho sự chính xác của thông tin được chuyển đi
cũng như ráp nối lại, mặt khác TCP cũng sẽ yêu cầu truyền lại thông tin thất
lạc hay hư hỏng. Tùy theo thông tin lưu trữ và mục đích phục vụ mà các sever
trên internet sẽ được phân chia thành các loại khác nhau như web sever, email
sever hay FTP sever, mỗi loại sever sẽ được tối ưu hóa theo mục đích sử
dụng.
Từ quan điểm người sử dụng, internet như là tập hợp các chương trình
ứng dụng sử dụng những cơ sở hạ tầng của mạng để chuyển tải thông tin. Hầu
hết người sử dụng internet thực hiện công việc đơn giản là chạy các chương
trình ứng dụng trên một máy tính nào đó (gọi là máy client) mà không cần
hiểu loại máy tính đang được truy suất (sever), kỹ thuật TCP/IP, cấu trúc hạ
tầng của mạng hay internet hoặc ngay cả con đường mà dữ liệu được truyền
qua để đến được đích của nó.
Hình 4 : liên lạc trên internet
1. Khởi nguồn của mạng internet.
Internet bắt đầu từ năm 1969 đưới cái tên là Arpanet( Advanced
Research Projects Agency) còn gọi là ARPA Nó thuộc bộ quốc phòng
Mỹ (DoD). Đầu tiên nó chỉ có 4 máy được thết kế để minh họa khả năng
xây dựng mạng bằng cách dùng máy tính nằm rải rác trong một vùng rộng.
Vào năm 1972 khi ARPANET được trình bày công khai đã được 50 trường
đại học và các viện nghiên cứu nối kết vào. Mục tiêu của ARPANET là
nghiên cứu hệ thống máy tính cho các mục đích quân sự. Chính phủ và
quân đội tìm kiếm những phương pháp để làm cho mạng tránh được lỗi,
mạng này được thiết kế cho phép các văn thư lưu hành từ máy tính này đến
máy tính khác, đối với chính phủ và quân đội máy tính đã có các công

phương pháp để có thể đăng ký kết nối, và luôn có các phương pháp mới
trong quá trình thiết kế. Ba phương pháp phổ biến nhất hiện nay là : Dịch
vụ trực tuyến, nhà cung cấp dịch vụ Internet ( ISP) và truy cập trực tuyến.
- Dịch vụ trực tuyến (online service) là một doanh nghiệp như AOL,
CompuServe, Microsoft Network (MSN), cung cấp nhiều dịch vụ truyền
thông, trong đó có truy cập internet. Khi sử dụng dịch vụ trực tuyến, bạn
chạy chương trình kết nối của họ để đăng nhập dịch vụ do họ cung cấp,
đến lúc kết nối để chạy internet Explorer. Dịch vụ trực tuyến thu cước phí
hàng tháng (không áp dụng cho người Việt Nam )
- Nhà cung cấp dịch vụ Internet (ISP) là một công ty nhỏ hơn, chuyên
dụng hơn, cung cấp tùy chọn không nhiều bằng dịch vụ trực tuyến,nó cho
phép truy nhập internet theo giờ với cước phí thấp, hoặc truy nhập không
giới hạn với cước phí cao hơn. Họ còn cấp cho khách hàng một tài khoản
Email. Ở Việt Nam hiện nay có một số dịch vụ ISP đang hoạt đông như
VNN,FPT, NETNAM…
- Truy nhập trực tuyến ( direct access) khả dụng ở nhiều học viện giáo
dục hoặc công ty lớn. Thay vì sử dụng modem, những tổ chức này thuê
một đường truyền chuyên dụng để cung cấp truy nhập internet 24/24 giờ.
4. Cơ sở về cầu nối
a, Giới thiệu về liên mạng
Liên mạng (Internetwork) là một tập hợp của nhiều mạng riêng lẻ được
nối kết lại bởi các thiết bị nối mạng trung gian và chúng vận hành như chỉ là
một mạng lớn. Người ta thực hiện liên mạng (Internetworking) để nối kết
nhiều mạng lại với nhau nhờ đó mở rộng được phạm vi, số lượng máy tính
trong mạng, cũng như cho phép các mạng được xây dựng theo các chuẩn khác
nhau có thể giao tiếp được với nhau.
Liên mạng có thể được thực hiện ở những tầng khác nhau, tùy thuộc
vào mục đích cũng như thiết bị mà ta sử dụng.
Tầng nối
kết

Trong chương này ta sẽ xem xét các vấn đề liên quan đến việc liên
mạng ở tầng 2, giới thiệu về cơ chế hoạt động, tính năng của cầu nối
(Brigde).Nhược điểm của các thiết bị liên mạng ở tầng 1 (Repeater, HUB)
Xét một liên mạng gồm 2 nhánh mạng LAN1 và LAN2 nối lại với nhau
bằng một Repeater. Giả sử máy N2 gởi cho N1 một Frame thông tin. Frame
được lan truyền trên LAN1 và đến cổng 1 của Repeater dưới dạng một chuỗi
các bits. Repeater sẽ khuếch đại chuỗi các bits nhận được từ cổng 1 và chuyển
chúng sang cổng 2. Điều này vô tình đã chuyển cả khung N2 gởi cho N1 sang
LAN2. Trên LAN1, N1 nhận toàn bộ Frame. Trên LAN2 không có máy trạm
nào nhận Frame cả. Tại thời điểm đó, nếu N5 có nhu cầu gởi khung cho N4
thì nó sẽ không thực hiện được vì đường truyền đang bị bận.
Ta nhận thấy rằng, Frame N2 gởi cho N1 không cần thiết phải gởi sang
LAN 2 để tránh lãng phí đường truyền trên LAN 2. Tuy nhiên, do Repeater
hoạt động ở tầng 1, nó không hiểu Frame là gì, nó sẽ chuyển đi mọi thứ mà nó
nhận được sang các cổng còn lại. Liên mạng bằng Repeater hay Hub sẽ làm
tăng vùng đụng độ của mạng, khả năng đụng độ khi truyền tin của các máy
tính sẽ tăng lên, hiệu năng mạng sẽ giảm xuống.
B, Giới thiệu về cầu nối
Bây giờ ta thay thế Repeater bằng một Bridge. Khi Frame N2 gởi cho
N1 đến công 1 của Bridge nó phân tích và thấy rằng không cần thiết phải
chuyển Frame sang LAN 2.
Hình 5 : Bridge khắc phục nhược điểm của Repeater/HUB
Bridge là một thiết bị hoạt động ở tầng 2 trong mô hình OSI. Bridge
làm nhiệm vụ chuyển tiếp các khung từ nhánh mạng này sang nhánh mạng
khác. Điều quan trọng là Bridge là thiết bị thông minh nó chuyển frame một
cách có chọn lọc dựa vào địa chỉ MAC của các máy tính. Bridge còn cho phép
các mạng có tầng vật lý khác nhau có thể giao tiếp được với nhau. Bridge chia
liên mạng ra thành những vùng đụng độ nhỏ, nhờ đó cải thiện được hiệu năng
của liên mạng tốt hơn so với liên mạng bằng Repeater hay Hub.
Có thể phân Bridge thành 3 loại:


Hình 6 – Bảng địa chỉ cục bộ của cầu nối
Cầu nối sử dụng bảng địa chỉ cục bộ này làm cơ sở cho việc chuyển tiếp
khung. Khi khung đến một cổng của cầu nối, cầu nối sẽ đọc 6 bytes đầu tiên
của khung để xác định địa chỉ máy nhận khung. Nó sẽ tìm địa chỉ này trong
bảng địa chỉ cục bộ và sẽ ứng xử theo một trong các trường hợp sau:
1 􀂃Nếu máy nhận nằm cùng một cổng với cổng đã nhận khung, cầu
nối sẽ bỏ qua khung vì biết rằng máy nhận đã nhận được khung.
2 􀂃Nếu máy nhận nằm trên một cổng khác với cổng đã nhận khung,
cầu nối sẽ chuyển khung sang cổng có máy nhận.
3 􀂃Nếu không tìm thấy địa chỉ máy nhận trong bảng địa chỉ, cầu nối
sẽ gởi khung đến tất cả các cổng còn lại của nó, trừ cổng đã nhận
khung.
Trong mọi trường hợp, cầu nối đều cập nhật vị trí của máy gởi khung
vào trong bảng địa chỉ cục bộ.
Cầu nối trong suốt thành công trong việc phân chia mạng thành những
vùng đụng độ riêng rời. Đặc biệt khi quá trình gởi dữ liệu diễn ra giữa hai máy
tính nằm về cùng một hướng cổng của cầu nối, cầu nối sẽ lọc không cho luồng
giao thông này ảnh hưởng đến các nhánh mạng trên các cổng còn lại. Nhờ
điều này cầu nối trong suốt cho phép cải thiện được băng thông trong liên
mạng.
+ Vấn đề vòng quẩn - Giải thuật Spanning Tree
Cầu nối trong suốt sẽ hoạt động sai nếu như trong hình trạng mạng xuất
hiện các vòng. Xét ví dụ như hình dưới đây:
Hình 7Vấn đề vòng quẩn trong mạng
Giả sử M gởi khung F cho N, cả hai cầu nối B1 và B2 chưa có thông tin
gì về địa chỉ của N. Khi nhận được khung F, cả B1 và B2 đều chuyển F sang
LAN 2, như vậy trên LAN 2 xuất hiện 2 khung F1 và F2 là phiên bản của F
được sao lại bởi B1 và B2. Sau đó F1 đến B2 và F2 đến B1. Tiếp tục B1 và
B2 lại lần lượt chuyển F2 và F1 sang LAN1, quá trình này sẽ không dừng, dẫn

nhất).
Sau khi đường đi đã được xác định, nó được đưa vào các khung dữ liệu
gởi cho Y trong trường thông tin về đường đi (RIF- Routing Information
Field). RIF chỉ được sử dụng đến đối với các khung gởi ra bên ngoài LAN.
+ Cấu trúc khung
Cấu trúc của RIF trong khung được mô tả như hình dưới đây:
Hình 8 Cấu trúc của trường thông tin về đường đi
Trong đó:
1 􀂃Routing Control Field: là trường điều khiển đường đi, nó bao
gồm các trường con sau:
1 o Type: Có thể có các giá trị mang ý nghĩa như sau:
2 􀂃Specifically routed: Khung hiện tại có chứa đường đi đầy đủ
đến máy nhận
3 􀂃All paths explorer: Là khung thăm dò.
4 􀂃Spanning-tree explorer: Là khung thăm dò có sử dụng giải
thuật nối cây để giảm bớt số khung được gởi trong suốt quá trình
khám phá.
5 o Length: Mô tả chiều dài tổng cộng (tính bằng bytes) của trường RIF.
6 o D Bit: Chỉ định và điều khiển hướng di chuyển (tới hay lui) của
khung.
0 o Largest Frame: Chỉ định kích thước lớn nhất của khung mà nó có thể
được xử lý trên tiến trình đi đến một đích.
2 􀂃Routing Designator Fields:
Là các trường chứa các Bộ chỉ định đường đi. Mỗi bộ chỉ định đường đi
bao gồm 2 trường con là:
1 o Ring Number (12 bits): Là số hiệu nhận dạng của một LAN.
2 o Bridge Number (4 bits)—Là số hiệu nhận dạng của cầu nối. Sẽ là 0
nếu đó là máy tính đích.
Ví dụ: Đường đi từ X đến Y sẽ được mô tả bởi các bộ chỉ định đường đi
như sau:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status