Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
Chương I
cơ sở lý luận và thực tiễn về thuỷ lợi và hiệu quả sử dụng công
trình thuỷ lợi phục vụ
sản xuất nông nghiệp
I. công tác thuỷ lợi
1. Một số khái niệm cơ bản
1.1. Thuỷ lợi: là sự tổng hợp các biện pháp khai thác, sử dụng, bảo vệ
nguồn nước trên mặt đất và nước ngầm, đấu tranh phòng chống những thiệt
hại do nước gây ra với sản xuất nông nghiệp nói riêng và nền kinh tế quốc
dân, dân sinh nói chung đồng thời làm tốt công tác bảo vệ môi trường.
1.2. Hệ thống công trình thuỷ lợi: bao gồm các công trình thuỷ lợi có
liên quan trực tiếp với nhau về mặt khai thác và bảo vệ trong mét khu vực
nhất định. Lợi Ých từ công trình thuỷ lợi mang lại là rất lớn, phục vụ cho
nhiều ngành kinh tế quốc dân: thuỷ điện, giao thông, công nghiệp, nông
nghiệp nước sinh hoạt, phòng chống úng lụt,
1.3. Thuỷ nông: là hệ thống công trình thuỷ lợi phục vụ sản xuất nông
nghiệp. Sản phẩm của công trình thuỷ nông là nước tưới, nó là yếu tố đầu
vào không thể thiếu đối với sản xuất nông nghiệp.
1.4. Hệ thống công trình thuỷ nông: là tập hợp các công trình làm
nhiệm vụ lấy nước từ nguồn nước dẫn vào đồng ruộng tưới cho cây trồng và
tiêu hết lượng nước thừa trên đồng ruộng ra ngoài phạm vi đất trồng trọt.
1.5. Hộ dùng nước: là cá nhân, tổ chức được hưởng lợi hoặc làm dịch
vụ từ công trình thuỷ lợi do doanh nghiệp khai thác công trình thuỷ lợi trực
tiếp phục vụ việc tưới, tiêu nước, cải tạo đất, phát điện, nuôi trồng thuỷ sản,
Đào Thị Hảo NN 42A
1
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
giao thông vận tải, du lịch, nghiên cứu khoa học, cấp nước cho công nghiệp
và dân sinh.
1.6. Thuỷ lợi phí: là một phần phí dịch vụ về nước của công trình thuỷ
điện chạy bằng than dầu. Để đáp ứng nhu cầu cho phát triển nông nghiệp,
nguồn điện năng nước ta phát triển chủ yếu dựa vào sự phát triển của các
nhà máy thuỷ điện. Đến nay, nước ta đã xây dựng được các hồ chứa phát
điện với tổng công suất của các nhà máy thuỷ điện lên đến hơn 3000 MW,
hàng năm sản xuất chiếm khoảng 10 tỷ KWH, chiếm hơn 70% năng lực
mang điện quốc gia. Giá thành thuỷ điện lại rẻ chỉ chiếm khoảng 30 – 60%
so với nhiệt điện than, diezen và không khí.
Đối với công nghiệp và dân sinh:
Ở nước ta, vấn đề xây dựng các công trình thuỷ lợi từ nhỏ đến lớn góp
phần điều tiết lại, phân phối lại nguồn tài nguyên nước theo thời gian và
không gian ngoài việc phục vụ cho nông nghiệp, chúng còn phục vụ cho
nước công nghiệp và dân sinh. Có thể thấy được là hàng chục các công trình
hồ đập loại lớn và vừa được xây dựng bằng vốn của ngành thuỷ lợi hoặc các
ngành khác đã cấp nước cho các nhà máy, xí nghiệp công nghiệp suốt từ
miền đông bắc đến phía nam. Mặt khác, thuỷ lợi còn đóng vai trò trong việc
tiêu thoát nước bẩn cho các thành phố, các khu dân cư tập trung như Hà Nội,
Thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng… Cùng với đó là nhiều hồ đập nước
trở thành các điểm du lịch thu hút khách du lịch trong và ngoài nước như
Dầu Tiếng, hồ Núi Cốc, suối Hai…
Đối với ngư nghiệp:
Nước ta có hệ thống sông ngòi dày đặc, đây là một điều kiện rất thuận
lợi để phát triển thuỷ sản. Các hồ, đập, cống, kênh… tạo môi trường nước
ngọt, lợ với những sản phẩm thuỷ sản khá phong phú và đa dạng.
Đối với lâm nghiệp:
Đào Thị Hảo NN 42A
3
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
Rừng có tác dụng điều tiết nguồn nước, giảm lũ, tăng lưu lượng mùa
kiệt. Còn các hồ đập nước làm tăng lượng bốc hơi mặt nước và kết quả là
làm tăng lượng mưa tạo điều kiện cho cây rừng được râm mát thêm, rừng tái
những vùng ven biển ngập mặn đã được đưa vào khai thác dưới hình thức
đầm, vùng nuôi trồng thuỷ sản, tạo ra sự phát triển đặc biệt nhanh chóng ở
vùng hoang hoá.
Thứ hai, hình thành một yếu tố kỹ thuật của thâm canh thích ứng với
những giống lúa có năng suất cao, thời gian sinh trưởng ngắn.
Thứ ba, cung cấp nước 20 – 30 triệu m
3
để cải tạo đất (thau chua, rửa
mặn).
Thứ tư, thuỷ nông góp phần làm tăng năng suất cây trồng. Việc cung
cấp đủ nước cho nhu cầu sinh trưởng hoặc tiêu thoát nước kịp thời đã làm
cho năng suất cây trồng tăng thêm 20- 30%. Theo FAO cho thấy, các giống
lúa mới có tưới, tiêu hợp lý đạt được 80 – 90% năng suất thí nghiệm, nếu
không chỉ đạt 30 – 40%.
Thứ năm, thuỷ nông có tác dụng làm thay đổi cơ cấu cây trồng, cơ cấu
mùa vụ theo hướng mở rộng diện tích cây trồng và mùa vụ có năng suất cao.
Theo tài liệu thử nghiệm và tổng kết thực tế của Vụ quản lý và khai
thác công trình thuỷ lợi cho biết: ở nước ta, tưới tiêu chủ động làm nâng cao
năng suất, chất lượng sản phẩm cây trồng góp phần quan trọng vào cải thiện
đời sống nhân dân, nhờ vậy làm thay đổi tập quán canh tác và cơ cấu cây
trồng… Chẳng hạn, ở Đồng Nai đưa vào sử dụng công trình hồ chứa nước
Gia Ui huyện Xuân Lộc, kênh chính dài 9284 m, năm tuyến kênh cấp I dài
tổng cộng 10.303 m tưới cho hai xã Xuân Tâm và Xuân Hưng, đưa 500 ha
đất canh tác của hai xã từ canh tác 1 vụ lên 2 vô, 3 vụ. Công trình này trị giá
20,519 tỷ đồng.
Hiện nay, cả nước có hệ thống thuỷ lợi phong phú với 650 hồ đập lớn,
3500 hồ đập nhỏ, 2000 trạm bơm công suất tưới 230.000 KW, công suất trên
250.000 KW và 10.000 cống tưới tiêu. Những hệ thống thuỷ lợi này đảm
Đào Thị Hảo NN 42A
5
6
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
Nguồn nước tự nhiên ước tính bình quân trên toàn thế giới là 7.500 m
3
nước/người/năm bao gồm nước trên mặt đất và nguồn nước ngầm trong lòng
đất. Như vậy nếu xét về mặt số lượng thì tài nguyên nước của Việt Nam rất
phong phú. Nguồn nước của nước ta được tạo thành chủ yếu là do lượng
mưa trên bề mặt đa phần ở các vùng đồi núi do vậy các dòng chảy thường có
độ dốc lớn sẽ là tiềm năng phát triển ngành thuỷ điện. Mặt khác, hệ thống
sông ngòi của ta khá dày đặc phân bố rộng khắp các vùng trên cả nước do đó
đã tạo điều kiện thuận lợi cho ngành giao thông đường thủy và ngành thuỷ
lợi phát triển mạnh.
Theo số liệu thống kê từ năm 1961-1990 dòng chảy bình quân năm
của toàn bộ các dòng sông nội địa và quốc tế là 837 tỷ m
3
/năm, trong đó từ
ngoài lãnh thổ chảy vào Việt Nam là 522 tỷ m
3
/năm. Xét về khả năng nguồn
nước tự nhiên ở nước ta có thể đáp ứng cho mọi loại nhu cầu về nước cho
sinh hoạt, cho sản xuất công nghiệp, nông nghiệp cũng như các ngành kinh
tế quốc dân khác trong giai đoạn hiện nay cũng như lâu dài với điều kiện
chúng ta phải có những chiến lược đúng đắn để phát triển nguồn tài nguyên
nước quý giá. Đồng thời phải có biện pháp qui hoạnh và quản lý một cách
có hiệu quả mọi hoạt động trong quá trình khai thác sử dụng và bảo vệ
nguồn nước đảm bảo nguồn nước cho các đầu vào và cho các hoạt động là
nước sạch. Bên cạnh đó chúng ta phải có những biện pháp hạn chế những
tác hại của nước gây ra (úng lụt, xói mòn ). Tuy nhiên, để thực hiện được
vấn đề này đòi hỏi chúng ta phải có thời gian cũng như sự tập trung trí tuệ,
tiền của, công sức ngay từ giai đoạn đầu đánh giá, khảo sát thiết kế qui
Đào Thị Hảo NN 42A
8
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
- Nguồn ngân sách Nhà nước hỗ trợ: Để bù đắp tu sửa, nâng cấp công
trình và các khoản chi hợp lý từ hoạt động dịch vụ chính của doanh nghiệp,
hoặc trợ cấp tu sửa công trình trong những năm thời tiết không thuận lợi
(Theo điều 11 của Pháp lệnh quản lý và khai thác công trình thuỷ lợi). Tuy
nhiên, nguồn trợ cấp này hầu hết được cấp có thẩm quyền (Bộ chủ quản và
UBND tỉnh, thành) giao cho kế hoạch trên cơ sở các danh mục công trình tu
sửa thường xuyên, sửa chữa lớn đã có luận chứng kinh tế kỹ thuật và đồ án
thiết kế, dự toán được duyệt hàng năm theo khả năng cân đối ngân sách và
hiện nay thường không đáp ứng yêu cầu của việc tu sửa công trình và sản
xuất.
- Các nguồn thu khác: Là doanh thu từ hoạt động kinh doanh khai thác
tổng hợp công trình thuỷ lợi mang lại, tức là các khoản thu được ngoài phạm
vi cho phép của NĐ 112 - HĐBT và Thông tư 67 - TT/LB như: thi công xây
lắp, sửa chữa thiết bị chuyên dùng, cấp nước công nghiệp, cÊp nước đô thị
Nguồn thu này phải được hạch toán đầy đủ chi phí sản xuất kinh doanh và
thực hiện các nghĩa vụ thuế với Nhà nước.
Về khách hàng: Là các chủ thể sản xuất nông nghiệp với đối tượng
khách hàng chủ yếu là nông dân. Đây là bộ phận khách hàng có đời sống thu
nhập thấp, có trình độ canh tác khác nhau, tập quán canh tác mang nặng tính
chất sản xuất nhỏ. Do vậy ở họ luôn tồn tại tính bảo thủ, bao cấp, khó chấp
nhận cái mới. Chính vì thế, phải xây dựng những mô hình dịch vụ thuỷ lợi
thích hợp với đặc điểm dân cư, tập quán canh tác của từng vùng, từng hệ
thống. Bên cạnh đó phải kết hợp biện pháp kinh tế thuần tuý với các biện
pháp hành chính, tuyên truyền giáo dục theo cách trực tiếp hay gián tiếp qua
các cơ quan đoàn thể. Mặt khác, khách hàng là ổn định nhưng nhu cầu dịch
vụ là thì luôn thay đổi theo thời gian, mùa vụ. Sản phẩm hàng hoá dịch vụ
Đào Thị Hảo NN 42A
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
đồng bằng trung tâm sản xuất lúa gạo năng suất lao động tăng lên 4 lần (đạt
mức 1%/năm). Xu hướng đầu tư vào thuỷ lợi hiện nay của Thái Lan là giảm
đầu tư vào các công trình có quy mô lớn thay vào đó là các dự án có quy mô
nhỏ, nhằm giải quyết nguồn nước tại chỗ và giải quyết kịp thời các nhu cầu
về nước của nhân dân. Tất cả các dự án thuỷ lợi đều được chính phủ đứng ra
quy hoạch và đầu tư trực tiếp, người dân không phải chịu bất cứ một chi phí
nào cho việc tưới tiêu nước.
Ở Inđonexia, năm 1987 Chính phủ tuyên bố toàn bộ chính sách
chuyển giao các công trình thuỷ lợi có diện tích dưới 500 ha cho các hội
người sử dụng nước. Trước khi thực hiện chuyển giao, hội những người sử
dụng nước của nông dân được thành lập và tham gia vào các quá trình nâng
cấp các công trình này. Cùng với sự tham gia của nông dân vào các công
trình thuỷ lợi nhỏ, thuỷ lợi phí cũng được sử dụng như là một yếu tố của các
công trình tham gia quản lý thuỷ lợi. Đến năm 1989, Chính phủ Inđônêxia
mới áp dụng chính sách thu thuỷ lợi phí đối với người dùng nước trong
khuôn khổ các chính sách mới lúc bấy giờ về việc vận hành và bảo dưỡng
các công trình thuỷ lợi trên phạm vi toàn quốc.
Ở Trung Quốc có các dự án tưới đã làm cho một số cấc vùng đất
hoang hoá biến thành đất trồng trọt màu mỡ cho năng suất cao ở một số
tỉnh. Hệ thống thuỷ lợi được hình thành trên nguyên tắc ai là người đầu tư
xây dựng công trình thì người đó làm chủ và quản lý công trình. Thay đổi có
tính chất quyết định nhất là việc chuyển hình thức quản lý từ các đội thuỷ lợi
mà các thành viên của nó chỉ gồm các uỷ ban làng, xã thành các nhóm thuỷ
nông làng, xã bao gồm các thành viên là những người nông dân hoạt động
tương đối độc lập với các uỷ ban làng, xã. Chuyển đổi hình thức quản lý
thuỷ nông ở Trung Quốc bắt đầu từ cải cách kinh tế 1978. Việc quan trọng
Đào Thị Hảo NN 42A
11
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
Trong giai đoạn này, mỗi hệ thống công trình thành lập một Ban quản
lý hệ thống hoặc công ty nông giang quản lý từ công trình đầu mối đến kênh
dẫn hoặc tháo nước cho các HTX. Mạng lưới công trình trên kênh
mươngtrong phạm vi xã, HTX do UBND xã hoặc HTX nông nghiệp quản lý
thong qua tổ đội thuỷ lợi thuỷ nông thuộc xã và HTX. Nghị định 66 CP
(1962) đã đưa ra đIều lệ thu thuỷ lợi phí nhằm tăng cường công tác quản lý
khai thác hệ thống nông giang bằng việc đóng góp hợp lý và công bằng cảu
nhân đảm bảo tính đoàn kết nhất trí ở nông thôn.
Năm 1963, Chính phủ ban hành NĐ 141/CP về đIề lệ qủn lý khai thác
và bảo vệ công trình thuỷ lợi trong đó đề cập đến việc trả tiền nước sử dụng
do công trình thuỷ lợi mang lại.
Cho đến nay trải qua nhiều giai đoạn phát triển của đất nước, nhiều
thông tư, Chỉ thị của Chính phủ được ban hành nhằm thúc đẩy và hoàn thiện
việc quản lý khai thác và bảo vệ công trình thuỷ lợi như Thông tư 13 TN
(1970) tiếp tục quy định về tổ chức quản lý hệ thống thuỷ nông, thành lập
các công ty quản lý thuỷ nông, trạm quản lý.
Năm 1972, phong trào hoàn chỉnh thuỷ nông đã được tiến hành rầm rộ
ở 11 tỉnh phía Bắc và sau Chỉ thị 100 CT – TW (1981) là khoán sản phẩm
đến người lao động và Nghị định 112 – HĐBT (1984) đã ban hành quy định
về mức thu thuỷ lợi phí. Cho đến nay định mức thu thuỷ lợi phí vẫn được
duy trì nhưng thực tế nhiều tỉnh mới đạt được ở mức từ 5 – 6% thậm chí có
những tỉnh chỉ cóầu như
Theo tài liệu thống kê năm 1996 thuỷ lợi phí trong cả nước mới thu
được khoảng 50% so với yêu cầu nhưng nó cũng góp một phần đáng kể
Đào Thị Hảo NN 42A
13
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
trong công tác bảo dưỡng và vận hành hằng năm. Tuy vậy hệ thống thuỷ lợi
vẫn chưa đáp ứng được nhu cầu ngày càng tăng của sản xuất nông nghiệp.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng này, như những nguyên nhân về
thuỷ lợi thì vấn đề quản lý sử dụng cũng phải được nghiên cứu ngày càng
hoàn thiện tốt hơn, có như vậy hiệu quả đem lại từ các công trình này mới
ngày càng được nâng cao.
Hệ thống công trình thuỷ lợi của huyện An Lão - Hải Phòng đã được
đầu tư xây dựng tương đối đồng bộ về công trình thuỷ lợi nội đồng sau hoàn
chỉnh thuỷ nông (1974-1976).
Từ đầu những năm 80 đến nay, hệ thống htuỷ lợi của huyện cũng như
của thành phố được Nhà nước tiếp tục đầu tư xây dựng những công trình
thuỷ lợi đầu mối lớn trong hệ thống nhằm đảm bảo cả về tưới và tiêu phục
vụ cho phát triển sản xuất nông nghiệp, công nghiệp, dân sinh và một số
ngành kinh tế khác của huyện, thành phố.
Để phát triển ngày càng cao hiệu Ých của công trình thuỷ lợi huyện,
thực tế đã đòi hỏi phải có một chế độ tập trung, thống nhất sự quản lý và
khai thác hệ thống công trình này với một bộ máy tổ chức chuyên ngành,
trên cơ sở qui trình kỹ thuật vận hành hệ thống. Do vậy, hệ thống công trình
thuỷ lợi của được công ty QLKTCTTL Đa Độ kết hợp cùng các HTX và
chính quyền địa phương xã để quản lý theo sự phân cấp quản lý của thành
phố: công ty quản lý hồ chứa, công trình đầu mối, kênh chính; HTX quản lý
kênh nhánh và kênh mương nội đồng hay các công trình nhỏ nằm gọn trên
địa bàn xã.
II. lý luận chung về hiệu quả sử dụng công trình thuỷ lợi
1. Một số quan điểm về hiệu quả đối với công trình thuỷ lợi
Đào Thị Hảo NN 42A
15
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
Đối với dịch vụ thuỷ lợi, hàng hoá nước là sản phẩm không cạnh
tranh, không được tự do lựa chọn thị trường, đối tượng cung và đối tượng
cầu đã được xác định từ trước, đồng thời có sự can thiệp của cơ quan Nhà
nước. Trong quá trình cung cầu này, do nhiệm vụ chính trị phục vụ sản xuất
nên đối tượng mua không ký hợp đồng mua thì bên bán vẫn phải bán, nếu
một công trình thuỷ lợi đạt được khi kết hợp 3 yếu tố: tài chính, xã hội và
môi trường.
2. Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả công trình thuỷ lợi
Hiệu quả xây dựng, quản lý và sử dụng công trình thuỷ lợi luôn chịu
tác động bởi những nhân tố sau:
2.1. Nhân tố tự nhiên: là nhân tố khách quan sẵn có từ trước ảnh
hưởng đến hiệu quả công trình thuỷ lợi, bao gồm có: công nghệ được áp
dụng vào công trình thuỷ lợi như tưới tiêu tự chảy hay bơm điện tưới ngầm,
tưới tràn hoặc tưới phun. Đối với các công trình thuỷ lợi thì dạng tưới tiêu
chủ yếu là dạng tự chảy.
2.2. Nhân tố tổ chức: ảnh hưởng đến hiệu quả công trình thuỷ lợi là
các hình thức tổ chức để quản lý sử dụng công trình như: công trình do Nhà
nước quản lý, hoặc do nhân dân quản lý dưới hình thức HTX dùng nước hay
nhóm hộ dùng nước, sự đồng nhất giữa người quản lý và người sử dụng
công trình.
2.3. Nhân tố xã hội: bao gồm các đặc điểm và các yếu tố xã hội liên
quan đến người sử dụng công trình, như: tính cộng đồng, trình độ kỹ thuật,
tập quán canh tác của nông dân.
Đào Thị Hảo NN 42A
17
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
Ngoài ra, còn có các nhân tố khác như: chính sách của Đảng và Nhà
nước cho việc đầu tư, trợ giá thuỷ lợi phí… cũng có tác động đến hiệu quả
công trình thuỷ lợi.
3. Phương pháp xác định hiệu quả
Công trình thuỷ lợi với đặc điểm nổi bật là phạm vi hoạt động rộng
lớn và có mối liên hệ hữu cơ với nhau, thời gian hoạt động lâu dài. Hơn nữa,
hiệu quả hoạt động của các công trình thuỷ lợi phụ thuộc nhiều vào điều
kiện thời tiết như: mưa, bão, gió, chế độ canh tác… Vì vậy, việc đánh giá
hiệu quả sử dụng công trình thuỷ lợi là rất khó khăn, nhiều khi không lượng
Đào Thị Hảo NN 42A
19
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
Trong đó:
F: diện tích đất nông nghiệp tăng lên sau khi công trình hoàn thành
Fs, Ftr: diện tích đất nông nghiệp trước và sau khi đưa công trình vào
sử dụng
4.2. Năng suất cây trồng
Năng suất cây trồng tăng thêm:
Y = Ys – Ytr (tấn/ha)
Trong đó:
Ys: năng suất cây trồng sau khi xây dựng công trình
Ytr: năng suất cây trồng trước khi xây dựng công trình
4.3. Chỉ tiêu về sự thay đổi giá trị sản lượng
- Sù thay đổi giá trị sản lượng trong thiết kế:
Mtk = g.(Ws.Ys.P + Ws.Ys.B.(1-P) – Wtr.Ytr)
Trong đó:
Mtk: giá trị sản lượng gia tăng hàng năm khi thi công xây dựng công
trình thuỷ lợi
Ytr, Ys: năng suất cây trồng
Wtr, Ws: diện tích cây trồng canh tác trước và sau khi xây dựng công
trình
P: tần suất thiết kế công trình
Đào Thị Hảo NN 42A
20
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
(1-P): phản ánh những năm công trình phục vụ ngoài tần xuất thiết kế
B: hệ số giảm sản phẩm phản ánh mức độ giảm sản lượng công trình
những năm công trình làm việc ngoài công suất thiết kế
G: giá đơn vị sản phẩm cây trồng
27'30" đến 106
0
41'15"
Vĩ độ từ 20
0
42'30" đến 20
0
52'30"
- Phía bắc An Lão giáp huyện An Hải.
- Phía Nam giáp huyện Tiên Lãng.
- Phía Đông giáp quận Kiến An.
- Phía Đông Nam giáp huyện Kiến Thuỵ.
- Phía Tây và Tây Bắc giáp hai huyện Nam Thanh và Kinh Môn thuộc
tỉnh Hải Dương.
Cơ cấu hành chính huyện An Lão gồm 16 xã và một Thị Trấn( Thị
Trấn An Lão).
Với vị trí địa lý như trên đã và sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu
kinh tế với các tỉnh thuộc đồng bằng sông Hồng, Thành Phố Hải Phòng và
có nhiều tiến bộ lớn trong việc tiếp thu tiến bộ khoa học kỹ thuật, đầu tư
Đào Thị Hảo NN 42A
22
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
nước ngoài để thúc đẩy phát triển các ngành kinh tế, xã hội của Huyện phát
triển trên địa bàn như: công nghiệp, thương mại, du lịch và dịch vụ
1.2. Địa hình, địa mạo
Huyện An Lão có địa hình tương đối bằng phẳng, có độ cao trung
bình từ 3 -5 m, thấp nhÊt từ 0,4 - 1,0 m so với mặt nước biển. Xen vào đó là
một dãy núi trải từ Tây Bắc xuống Đông Nam, với nhiều điểm cao trên
1000m và trong đó có Núi Voi với diện tích 300 ha nằm ở xã An Tiến và
Trường Thành là một khu di tích lịch sử có giá trị văn hoá, du lịch rất cao.
chế độ nước mất cân bằng, lượng bốc hơi lớn hơn lượng mưa nên xẩy ra khô
hạn, thiếu nước.
Đào Thị Hảo NN 42A
23
Đại học kinh tế quốc dân Chuyên đề tốt nghiệp
+ Lượng mưa bình quân cả năm là 1.740 mm ( số đo trung bình từ
1965 - 1995). Lượng mưa trung bình hàng năm là: 1.820 mm.
+ Mùa mưa ( tháng 5 - tháng 10) lượng mưa chiếm 80- 90% lượng
mưa cả năm, tập trung vào các tháng 6 tháng 7 và tháng 8. Lượng mưa trung
bình/ tháng thời gian này là trên 400 mm, cao nhất 683,3 mm (1995). Mùa
khô (tháng 10 đến tháng 3 năm sau), đầu mùa khô thường hanh, cuối mùa
Èm ướt và có mưa phùn từ tháng 2 - tháng 4.
+ Tổng lượng mưa trung bình thấp nhất trong năm là tháng 12, tháng
1 và tháng 2, số đo trung bình là 20 mm.
+ Tổng số ngày nắng 150 - 160 ngày/ năm, tháng 5 và tháng 7 có giờ
nắng cao nhất là 188 giờ/tháng.
+ Huyện An Lão chịu ảnh hưởng của 2 loại gió chính:
Gió mùa Đông Bắc vào mùa khô (từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau)
tốc độ gió trung bình là 2,2 m/s.
Gió Đông Nam vào mùa mưa từ tháng 5 đến tháng 10, vận tốc trung
bình 2,5 m/s. Mùa mưa luôn biến động do ảnh hưởng của bão lũ, dòng triều.
Gió mang nhiều hơi nước. Tốc độ trung bình trong năm từ 1,7 - 4 m/s, cực
đại đạt 20- 25 m/s vào mùa mưa bão.
+ Bão lũ thường xuất hiện từ tháng 5 đến tháng 9, bình quân 3 - 5
trận/năm. Bão kèm theo mưa lớn, gió mạnh, gió giật gây lụt lội, nước dâng
cao nhất là khi triều cường. Huyện An Lão rất nhạy cảm với bão do bao bọc
trực tiếp bởi hệ thống sông Thái Bình ( Văn Óc, Lạch Tray, Đa Độ) và chịu
ảnh hưởng của thuỷ triều.
1.4. Sông ngòi
Hệ thống sông ngòi của huyện đều thuộc hệ thống sông Thái Bình.
- Đất lâm nghiệp: 108,95 ha.
- Đất chuyên dùng: 1550,40 ha.
- Đất ở: 521,72 ha.
- Đất chưa sử dụng: 1029,91 ha.
Đào Thị Hảo NN 42A
25