''''Vốn cố định và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định tại Công ty cổ phần LILAMA 10 - Pdf 29

Website: http://www.docs.vn Email : [email protected] Tel (: 0918.775.368
LỜI MỞ ĐẦU
Hiện nay, trong điều kiện cạnh tranh gay gắt của cơ chế thị trường, doanh
nghiệp Việt Nam đang đứng trước một thách thức lớn đó là làm thế nào để tồn
tại, đứng vững và đạt được mục tiêu đề ra. Do vậy các doanh nghiệp phải chú
trọng quan tâm đến vốn để tạo lập và sử dụng đồng vốn của mình sao cho có
hiệu quả nhất. Để làm được điều đó vấn đề bức thiết đặt ra cho các doanh nghiệp
hiện nay là thừa vốn hay thiếu vốn, hiệu quả sử dụng đồng vốn ra sao và các giải
pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong sản xuất. Đây là vấn đề nóng bỏng
mang tính thời sự không những được các nhà quản lý tài chính quan tâm mà còn
thu hút được sự chú ý của các nhà khoa học trong lĩnh vực tài chính.
Xuất phát từ vai trò và tầm quan trọng của hiệu quả sử dụng vốn cố định
đến với các doanh nghiệp, qua thời gian thực tập tìm hiểu tình hình thực tế tại
Công ty cổ phần LILAMA 10, em chọn đề tài: ''Vốn cố định và một số giải
pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố định tại Công ty cổ phần
LILAMA 10''
Nội dung của đề tài gồm 3 phần:
Phần I: Một số vấn đề cơ bản về vốn cố định và hiệu quả sử dụng vốn
cố định trong doanh nghiệp.
Phần II: Thực trạng quản lý và hiệu quả sử dụng vốn cố định tại Công
ty cổ phần LILAMA 10.
Phần III: Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cố
định ở Công ty cổ phần LILAMA 10.
CHƯƠNG I
MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VỐN CỐ ĐỊNH VÀ HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN
CỐ ĐỊNH TRONG DOANH NGHIỆP
I. TỔNG QUAN VỀ VỐN CỐ ĐỊNH.
1. Khái niệm
Vốn cố định là biểu hiện bằng tiền của TSCĐ, hay vốn cố định là toàn bộ
giá trị bỏ ra để đầu tư vào TSCĐ nhằm phục vụ hoạt động kinh doanh.
Trong nền kinh tế hànghoá, tiến độ để mua sắm, xây dựng tài sản cố định là

sản xuất. Khi tham gia vào quá trình sản xuất, một bộ phận vốn cố định được
luân chuyển và cấu thành chi phí sản xuất sản phẩm (dưới hình thức chi phí
khấu hao) tương ứng vào phần giá trị hao mòn của TSCĐ.
Ba là: Sau nhiều chu kỳ sản xuất vốn cố định mới hoàn thành một vòng
luân chuyển. Sau mỗi chu kỳ sản xuất vốn được luân chuyển vào giá trị sản
phẩm dần dần tăng lên, song phần vốn đầu tư ban đầu vào TSCĐ lại dần giảm
xuống cho đến khi TSCĐ hết thời gian sử dụng, giá trị của nó được chuyển dịch
hết vào giá trị sản phẩm đã sản xuất thì vốn cố định mới hoàn thành một vòng
chu chuyển.
Khi tham gia vào quá trình sản xuất, giá trị sử dụng của tài sản cố định
giảm dần, theo đó vốn cố định cũng được tách thành 2 phần: Một phần sẽ gia
nhập vào chi phí sản xuất sản phẩm tương ứng với sự giảm dần giá trị sử dụng
của tài sản cố định. Phần còn lại là vốn cố định được "cố định" trong nó. Trong
các chu kỳ sản xuất kế tiếp, nếu phần vốn luân chuyển được tăng lên thì phần
vốn "cố định" lại giảm đi tương ứng với mức suy giảm dần vào giá trị sử dụng
của tài sản cố định. Kết thúc sự biến thiên nghịch chiều đó cũng là lúc tài sản cố
định hết thời gian sử dụng và vốn cố định cũng hoàn thành được một vòng luân
chuyển.
3.Tiêu chuẩn và nhận biết TSCĐ
Theo quyết định 206/2003QĐ-BTC ban hành ngày 12/12/2003 của Bộ
Trưởng Bộ Tài chính có hiệu lực từ ngày 01/01/2004.
a. Tài sản cố định hữu hình:
Là những tư liệu lao động chủ yếu có hình thái vật chất (từng đơn vị tài sản
có kết cấu độc lập, hoặc là một hệ thống gồm nhiều bộ phận tài sản riêng lẻ liên
kết với nhau để cùng thực hiện một hay một số chức năng nhất định mà nếu
thiếu bất kỳ một bộ phận nào trong đó thì cả hệ thống không thể hoạt động
được), nếu tham gia vào nhiều chu kỳ kinh doanh nhưng vẫn giữ nguyên hình
thái vật chất ban đầu như nhà cửa, vật kiến trúc, máy móc, thiết bị... đồng thời
thoả mãn cả bốn tiêu chuẩn dưới đây thì được gọi là tài sản cố đinh:
• Chắc chắn thu được lợi ích kinh tế trong tương lai từ việc sử dụng tài

những nguồn thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp.
* Nguồn tài trợ bên ngoài: Là những nguồn mà doanh nghiệp huy động từ
bên ngoài như vốn vay, phát hành trái phiếu, cổ phiếu.
5. Phân loại TSCĐ của doanh nghiệp.
Phân loại TSCĐ là việc phân chia toàn bộ tài sản cố định của doanh nghiệp
theo những chiêu thức nhất định nhằm phục vụ yêu cầu quản lý của doanh
nghiệp. Thông thường có những cách phân loại chủ yếu sau:
5.1. Phân loại theo hình thái biểu hiện và công dụng kinh tế:
Theo phân loại này TSCĐ bao gồm:
a. TSCĐ hữu hình: là những tư liệu lao động chủ yếu được biểu hiện bằng
các hình thái vật chất cụ thể bao gồm:
• Nhà cửa, vật kiến trúc.
• Máy móc, thiết bị.
• Phương tiện vận tải, thiết bị truyền dẫn.
• Thiết bị, dụng cụ quản lý.
• Vườn cây lâu năm, súc vật làm việc hoặc cho sản phẩm.
• Các loại TSCĐ khác.
b.TSCĐ vô hình:
• Quyền sử dụng đất.
• Quyền phát hành
• Bản quyền bằng sáng chế.
• Nhãn hiệu hàng hoá.
• Phầm mềm máy vi tính.
• Giấy phép và giấy phép nhượng quyền.
• TSCĐ vô hình khác
c. TSCĐ thuê tài chính: là những tài sản cố định mà doanh nghiệp thuê của
công ty cho thuê tài chính. Khi kết thúc thời hạn thuê, bên thuê được quyền lựa
chọn mua lại tài sản thuê hoặc tiếp tục thuê theo điều kiện đã thoả thuận trong
hợp đồng thuê tài chính. Tổng số tiền thuê một loại tài sản quy định tại hợp đồng
thuê tài chính, ít nhất phải tương đương với giá trị của tài sản đó tại thời điểm ký

a. TSCĐ thuê tài chính: là những TSCĐ doanh nghiệp thuê sử dụng trong
thời gian dài có quyền kiểm soát, sử dụng chúng theo các điều khoản của hợp
đồng thuê TSCĐ dài hạn.
b. TSCĐ cho thuê hoạt động: là những TSCĐ thuê mà không thoả mãn bất
cứ điều khoản nào của hợp đồng thuê tài chính.
Phân loại TSCĐ theo quyền sở hữu có tác dụng trong việc quản lý và tổ
chức kế toán phù hợp với từng loại TSCĐ theo nguồn hình thành để có giải pháp
nâng cao hiệu quả sử dụng TSCĐ trong quá trình sản xuất kinh doanh không chỉ
với những TSCĐ đi thuê mà cả những TSCĐ tự có của doanh nghiệp.
6. Khấu hao Tài sản cố định.
6.1. Hao mòn và khấu hao TSCĐ.
Trong quá trình sử dụng, do chịu ảnh hưởng của nhiều nguyên nhân khác
nhau TSCĐ của doanh nghiệp bị hao mòn dưới hai hình thức: Hao mòn hữu
hình và hao mòn vô hình.
a. Hao mòn hữu hình: là sự hao mòn về vật chất, về giá trị sử dụng và giá
trị của TSCĐ trong quá trình sử dụng. Sự hao mòn của TSCĐ tỷ lệ thuận với
thời gian sử dụng và cường độ sử dụng chúng, sự hao mòn còn do tác động của
các yếu tố tự nhiên như độ ẩm, nắng, mưa..........
b. Hao mòn vô hình: Là sự hao mòn thuần tuý về mặt giá trị của TSCĐ, do
sự tiến bộ của khoa học và công nghệ. Với sự phát triển này làm cho những máy
móc, thiết bị được sản xuất trước đó trở nên lỗi thời và bị mất giá.
Để thu hồi giá trị của TSCĐ do sự hao mòn thì doanh nghiệp phải thực hiện
khấu hao cho tài sản đó nhằm thu hồi TSCĐ để tái sản xuất. Sự khấu hao TSCĐ
trong kỳ thể hiện bằng tiền bộ phận giá trị tài sản cố định hao mòn và được tính
chuyển vào chi phí kinh doanh của doanh nghiệp trong kỳ. Sau khi sản phẩm
được tiêu thụ, một số tiền được rút ra từ tiền thu bán hàng tương ứng với số đã
khấu hao trong kỳ được gọi là tiền khấu hao tài sản cố định. Về nguyên lý, khi
chưa tới thời hạn tái sản xuất TSCĐ thì tiền khấu hao được tích luỹ lại dần dần
dưới hình thái một quỹ tiền tệ dự trữ gọi là quỹ khấu hao.
Thực hiện khấu hao TSCĐ một cách hợp lý có ý nghĩa kinh tế lớn đối với

T
kh:
Tỷ lệ khấu hao của TSCĐ.
Mức khấu hao trung bình hàng tháng bằng số khấu hao phải trích cả năm
chia cho 12 tháng.
- Trường hợp thời gian sử dụng hay nguyên giá của TSCĐ thay đổi, doanh
nghiệp phải xác định lại mức khấu hao trung bình của tài sản cố định bằng cách
lấy giá trị còn lại trên sổ kế toán chia (:) cho thời gian sử dụng xác định hoặc
thời gian sử dụng còn lại ( được xác định là chênh lệch giữa thời gian sử dụng
đã đăng ký trừ thời gian đã sử dụng) của tài sản cố định.
- Mức trích khấu hao cho năm cuối cùng của thời gian sử dụng tài sản cố
định được xác định là hiệu số giữa nguyên giá tài sản cố định và số khấu hao luỹ
kế đã thực hiện đến năm trước năm cuối cùng của tài sản cố định đó.
Nếu doanh nghiệp trích khấu hao hàng tháng thì lấy mức khấu hao hàng
năm chia cho 12 tháng.
Ưu điểm của phương pháp này là việc tính toán đơn giản, tổng khấu hao
của TSCĐ được phân bổ vào giá thành một cách đều đặn làm cho giá thành ổn
định.
Nhược điểm, do mức khấu hao, tỷ lệ khấu hao hàng năm được xác định ở
mức đồng đều nên khả năng thu hồi vốn chậm, khó tránh khỏi bị hao mòn vô
hình.
Xác định mức trích khấu hao đối với những tài sản cố định đưa vào sử
dụng trước ngày 01/01/2004:
- Căn cứ vào số liệu trên sổ kế toán, hồ sơ của tài sản cố định để xác định
giá trị còn lại trên sổ kế toán của tài sản cố định.
- Xác định thời gian sử dụng còn lại của tài sản cố định theo công thức:
T = T
2
(1- )
Trong đó:

* Tỷ lệ khấu hao tài sản cố định theo phương pháp đường thẳng xác định
như sau:
= x100
* Hệ số điều chỉnh xác định theo thời gian sử dụng của tài sản cố định quy
định tại bảng dưới đây:
Thời gian sử dụng của tài sản cố định Hệ số điều chỉnh (lần)
Đến 4 năm (t ≤ 4 năm) 1,5
Trên 4 đến 6 năm (4 năm < t ≤ 6 năm) 2,0
Trên 6 năm (t>6 năm) 2,5
Những năm cuối, khi mức khấu hao năm xác định theo phương pháp số dư
giảm dần nói trên bằng (hoặc thấp hơn) mức khấu hao tính bình quân giữa giá trị
còn lại và số năm sử dụng còn lại của tài sản cố định, thì kể từ năm đó mức khấu
hao được tính bằng giá trị còn lại của tài sản cố định chia số năm sử dụng còn lại
của tài sản cố định (gọi là phương pháp kết hợp phương pháp số dư giảm dần và
phương pháp bình quân).
- Mức khấu hao hàng tháng bằng số khấu hao phải trích cả năm chia cho 12
tháng.
Theo phương pháp này vốn được thu hồi nhanh, phòng ngừa được hiện
tượng hao mòn vô hình. Tuy nhiên, phương pháp này có hạn chế là tính số khấu
hao luỹ kế đến năm cuối cùng sẽ không đủ bù đắp giá trị ban đầu của TSCĐ ( để
khắc phục nhược điểm này người ta dùng phương pháp kết hợp nói trên).
c. Phương pháp khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm:
Tài sản cố định trong doanh nghiệp được trích khấu hao theo phương pháp
khấu hao theo số lượng, khối lượng sản phẩm như sau:
- Căn cứ vào hồ sơ kinh tế- kỹ thuật của tài sản cố định, doanh nghiệp xác
định tổng số lượng, khối lượng sản phẩm sản xuất theo công thức thiết kế của tài
sản cố định, gọi tắt là sản lượng theo công suất thiết kế.
- Căn cứ tình hình thức tế sản xuất, doanh nghiệp xác định số lượng, khối
lượng sản phẩm thực tế sản xuất hàng tháng, hàng năm của tài sản cố định.
- Xác định mức trích khấu hao trong tháng của tài sản cố định theo công

: Tỷ lệ khấu hao tổng hợp bình quân TSCĐ
Xác định nguyên giá bình quân TSCĐ phải tính khấu hao trong kỳ xác định
như sau:

NGkh
= NG
d
+
NGt
-
NGg
Trong đó: NG
d
: Nguyên giá TSCĐ phải tính khấu hao ở đầu kế hoạch.

NGt
; (
NGg
): Nguyên giá bình quân TSCĐ phải tính khấu hao
tăng lên trong kỳ (hoặc giảm trong kỳ)
NGt
= ;
NGg
=
Trong đó:
NGt
;
NGg
: Nguyên giá TSCĐ phải tính khấu hao tăng lên hoặc giảm bớt
trong kỳ.

t
: Số tiền khấu hao TSCĐ trong tháng.
NG
Di
: Nguyên giá cần trích khấu hao ở đầu tháng từng loại TSCĐ
t
ki
: Tỷ lệ khấu hao theo tháng của từng loại TSCĐ
t : loại tài sản cố định.
Để đơn giản việc tính toán, số tiền khấu hao trong tháng được xác định theo
công thức sau:
= + -
Phương pháp này tính khấu hao theo từng loại TSCĐ nên có ưu điểm là kết
quả tính toán chính xác hơn so với phương pháp gián tiếp, nhưng khối lượng
tính toán nhiều, phức tạp.
7.3. Phân phối và sử dụng tiền trích khấu hao:
Theo quy định của pháp luật hiện hành, tiền khấu hao đối với TSCĐ trong
doanh nghiệp Nhà nước được hình thành từ nguồn vốn Nhà nước hoặc từ nguồn
vốn do doanh nghiệp tự bổ sung để lại làm nguồn tái đầu tư TSCĐ cho doanh
nghiệp. Trong khi chưa thu hồi đủ vốn, doanh nghiệp có thể dùng tiền khấu hao
để bổ sung vốn kinh doanh.
Đối với TSCĐ được hình thành từ nguồn vốn vay, về nguyên tắc tiền khấu
hao là một nguồn để trả tiền vay.
Thông thường trong hoạt động kinh doanh việc tính khấu hao TSCĐ của
doanh nghiệp được thực hiện hàng tháng. Tiền khấu hao nhằm để tái đầu tư
TSCĐ, nhưng do chưa có nhu cầu đầu tư, doanh nghiệp được sử dụng linh hoạt
số tiền khấu hao để bổ sung vốn kinh doanh nhằm đạt mức sinh lời cao.
II. CÁC CHỈ TIÊU PHẢN ẢNH HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN CỐ ĐỊNH.
Để đánh giá hiệu quả sử dụng vốn cố định thông thường người ta sử dụng
các chỉ tiêu sau:

6. Hệ số trang bị kỹ thuật cho công nhân trực tiếp sản xuất: Dùng để đánh
giá trang bị kỹ thuật cho người lao động cao hay thấp, chỉ tiêu này càng lớn thì
càng góm phần giải phóng lao động cho con người.
=
7. Sức sinh lợi của VCĐ:
Sức sinh lợi của VCĐ =
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng giá trị nguyên giá bình quân TSCĐ mang
lại mấy đồng lợi nhuận thuần.
Ngoài ra còn sử dụng công thức:
=
Chỉ tiêu này phản ánh 1 đồng vốn cố định bình quân sử dụng trong kỳ
mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận.
III. NHỮNG NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ SỬ
DỤNG VỐN CỐ ĐỊNH.
1. Những nhân tố khách quan.
- Chính sách kinh tế của Đảng và Nhà nước: Trên cơ sở pháp luật kinh tế
và các biện pháp kinh tế, Nhà nước tạo môi trường và hành lang pháp lý cho các
doanh nghiệp phát triển sản xuất kinh doanh và hướng hoạt động đó theo kế
hoạch kinh tế vĩ mô. Vì thế, các doanh nghiệp chịu sự tác động rất lớn của các
quy chế quản lý Nhà nước.
- Thị trường cạnh tranh: Doanh nghiệp phải đổi mới máy móc thiết bị, cải
tiến quy trình công nghệ thì những sản phẩm xuất xuất ra mới có chất lượng cao,
giá thành hạ do đó mới đủ sức cạnh tranh trên thị trường. Đồng thời lãi xuất tiền
vay cũng là một nhân tố ảnh hưởng quan trọng. Lãi xuất tiền vay ảnh hưởng đến

Trích đoạn Tỡnh hỡnh thực hiện khấu hao TSCĐ:
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status