tiểu luận Phác hoạ về tín ngưỡng của các dân tộc ở Việt Nam - Pdf 26

Phác hoạ về tín ngưỡng
của các dân téc ở Việt Nam
I. Về một số quan niệm chung
Trước khi đi vào trình bày một số nét đại lược về tín ngưỡng của các
téc người ở nước ta, chúng tôi thấy cần thiết phải trình bày một số quan
niệm chung, là cơ sở phương pháp luận cho việc nghiên cứu ở các phần
sau.
1. Về khái niệm “Tôn giáo” và “Tín ngưỡng”
Các hình thức khác nhau của tôn giáo hay của tín ngưỡng, như Phật
giáo, Kitô giáo, Islam giáo, Đạo thờ Tổ tiên, thờ Mẫu, thờ Thần Nông
là một thực thể tồn tại trong đời sống của con người từ hàng nghìn năm
nay. Tuy nhiên, trong việc nghiên cứu về các thực thể này, việc dùng các
khái niệm để chỉ nó, trong đó có hai thuật ngữ cơ bản “Tôn giáo”, “Tín
ngưỡng” thì quan niệm của các nhà nghiên cứu còn khác nhau(1).
Ở đây, chóng tôi không có tham vọng thảo luận về các thuật ngữ,
khái niệm mà chỉ đưa ra quan niệm của mình với mục đích dùng các quan
niệm Êy để “xử lý” các vấn đề đặt ra trong công trình nghiên cứu này.
- Theo chúng tôi, cơ sở của mọi tôn giáo, tín ngưỡng là niềm tin của
con người vào cái gì đó thiêng liêng, cao cả, siêu nhiên, hay nói gọn lại là
niềm tin, ngưỡng vọng vào “cái thiêng”, đối lập với cái “trần tục”, hiện
hữu mà ta có thể sê mó, quan sát được. Có nhiều loại niềm tin, nhưng ở
đây là niềm tin của tôn giáo, tÝn ngưỡng, tức là niềm tin vào “cái
thiêng”. Do vậy, niềm tin vào cái thiêng thuộc về bản chất của con người,
nó ra đời và tồn tại cùng với con người và loài người, nó là nhân tố cơ
bản tạo nên đời sống tâm linh của con người, còng giống như đời sống
vật chất, đời sống xã hội tinh thần - tư tưởng, đời sống tình cảm
Tuy nhiên, niềm tin vào “cái thiêng” đó, cũng theo hoàn cảnh và
trình độ phát triển kinh tế - xã hội của mỗi dân téc, địa phương, quốc gia
mà thể hiện ra dưới các hình thức tôn giáo và Tín ngưỡng khác nhau. Thí
dụ như niềm tin vào cái thiêng của Kitô giáo, Phật giáo, của Đạo thờ Tổ
tiên, thờ Thành hoàng, thờ Mẫu, thờ Thần Nông Các hình thức tôn giáo

linh và con người. Chưa mang tính
+ Tách biệt thế giới thần linh và
con người, xuất hiện hình thức
2
cứu thế “cứu thế”.
+ Gắn với cá nhân và cộng đồng
làng xã, chưa thành giáo hội
+ Tổ chức giáo hội, hội đoàn khá
chặt chẽ, hình thành hệ thống giáo
chức
+ Nơi thờ cóng và nghi lễ còn phân
tán và chưa thành quy ước chặt chẽ
+ Nơi thờ cóng riêng, nghi lễ thờ
cóng chặt chẽ (chùa, nhà thờ, thánh
đường)
+ Mang tính chất dân gian, sinh
hoạt của dân gian, gắn với đời sống
nông dân
+ Không mang tính dân gian, có
chăng chỉ là sự biến dạng theo kiểu
dân gian hoá, như Phật giáo dân
gian
- Trong công trình này, đây đó chúng tôi sử dụng thuật ngữ “đạo”,
như Đạo Mẫu, Đạo Tổ Tiên khái niệm đạo ở đây, theo ý nghĩa là “con
đường”, “ cách thức” đưa con người đạt tới niềm tin vào cái thiêng liêng,
siêu nhiên.
Như vậy, đạo theo nghĩa rộng nó có thể bao gồm cả một số hình
thức tín ngưỡng và tôn giáo, còn đạo theo nghĩa hẹp hơn là để chỉ một số
hình thức tín ngưỡng phát triển có xu hướng trở thành tôn giáo sơ khai
hay là tôn giáo dân gian.

1. Thờ cóng tổ tiên (gia téc, dòng họ, quốc gia) tô tem giáo
2. Tín ngưỡng cá nhân (vòng đời người)
- Thê cóng bà Mụ (sinh đẻ)
- Thê ông Tơ, bà Nguyệt (cưới xin)
- Thê thần bản mệnh
- Tang ma và thờ cóng người chết
3. Tín ngưỡng nghề nghiệp
- Tín ngưỡng nông nghiệp
- Thê Thánh sư (Tổ nghề)
4
- Thê Thần tài (nghề buôn)
- Thê Cá Ông (ngư dân)
4. Tín ngưỡng thờ Thần (đạo thờ Thần)
- Thành hoàng làng
- Đạo Mẫu
- Thê các anh hùng dân téc
- Thê Thổ thần (Thổ công - Thổ thần) Sơn thần, Thuỷ thần.
II. Phác hoạ về tín ngưỡng của các téc người ở Việt Nam
1. Thờ cóng tổ tiên (Đạo thờ Tổ tiên)
Là một hình thức tín ngưỡng cơ bản và phổ biến của người Việt, bất
kể họ ở đồng bằng hay miền núi, nông thôn hay đô thị. Có nhiều cách gọi
khác nhau về tín ngưỡng này, như thờ cóng Tổ tiên, Đạo Tổ tiên, Đạo
Ông bà, thậm chí gần đây có người coi tục thờ Tổ tiên như một thứ tôn
giáo bản địa, tôn giáo dân téc.
Một mặt, với tư cách là một tín ngưỡng bản địa, thờ cóng tổ tiên cởi
mở tiếp thu các ảnh hưởng của tôn giáo, tín ngưỡng khác, nhất là Đạo
Khổng, mặt khác, nó có thể thâm nhập vào nhiều tôn giáo, tín ngưỡng
khác, kể cả các tôn giáo lớn ngoại lai, như Phật giáo, Kitô giáo
Vượt lên trên cả khía cạnh tín ngưỡng, tôn giáo, thờ cóng tổ tiên
thấm đượm đạo lý uống nước nhớ nguồn, một thứ ứng xử cộng đồng gia

ngày). Đầy cữ, nghĩa đen là đủ thời gian tượng trưng cho số vía của đứa
trẻ. Có nghi lễ cũng đầy cữ, gọi là cóng Mô.
Theo quan niệm dân gian, muốn hình thành một con người phải do
12 bà mụ nặn ra, mỗi bà nặn một bộ phận cơ thể. Trong lễ đầy cữ cóng
Bà Mụ, mỗi vật dâng cóng phải đủ con sè 12, như: hài, mũ, quần áo, vàng
mã, trái cây, bánh, ốc, trầu(4)
Trước kia ở người Việt và hiện nay ở một số téc người thiểu số vẫn
có bàn thờ Bà Mụ, thường là đặt trên tường cạnh giường của các bà mẹ.
6
Khi trẻ đau ốm hay gặp điều gì nguy hiểm (bị ngã, bị đau) bà mẹ thường
kêu tên Bà Mụ, thậm chí sắm lễ cóng Bà Mụ. Bà Mụ trở thành vị thần
bảo trợ bà mẹ và trẻ em.
b/ Cưới xin là mốc rất quan trọng của đời sống của một cá nhân. Nếu
việc ra đời và nuôi dưỡng của một con người do Bà Mụ chủ sự, thì việc
kết duyên nam nữ lại do một vị thần khác làm chủ sù - ông Tơ Hồng hay
Nguyệt lão, có khi dân gian “nữ hoá” vị này thành Bà Nguyệt: Ông Tơ -
Bà Nguyệt. Nghi lễ quan trọng trong hôn lễ là Lễ Tơ Hồng. Khi rước dâu
về nhà chồng, phải lập bàn thờ ở giữa sân, có thắp hương, nến. Cô dâu,
chú rể quỳ rước bàn thờ để nghe một vị đọc văn tơ hồng nhắc lại công ơn
của ông Tơ Hồng đã se duyên cho đôi lứa và cầu xin ông Tơ Hồng phù hộ
cho họ hạnh phóc được lâu bền hơn. Sau đó cô dâu, chú rể cùng uống
chung rượu, ăn chung lá trầu, quả cam - biểu tượng sự gắn bó không chia
lìa.
Dân gian đã có huyền thoại và những câu ca dao nói về Ông Tơ
Hồng và việc xe duyên cho nam nữ theo định mệnh, số phận.
Ở các téc Tày, Nùng, Nàng Hai (Nàng Trăng) còn là Vị thần biểu
tượng cho tình yêu và nhân duyên, do vậy trong các dịp Hội Hai, trai gái
tập trung làm nghi lễ cầu nhân duyên đối với vị nữ thần này, có nét gì
giống với ông Tơ Bà Nguyệt ở người Việt.
Theo quan niệm dân gian, mỗi người sinh ra cầm tinh mét con vật

Mường là áng sử thi bất hủ sinh ra chính trong nghi lễ tang ma này.
Ở người Việt có lễ cải táng, các téc người khác không có nghi lễ
này, nhưng ở các téc Tây Nguyên lại có nghi lễ Bỏ mả, mét lễ hội lớn,
tưng bõng và náo nhiệt thuộc loại nhất trong đời sống tinh thần của các
téc người ở Tây Nguyên. Còn ở người Lô Lô, Dao thì lại có tục làm ma
khô, với nhiều nghi thức khá độc đáo, kể cả việc sử dụng trèng đồng (Lô
Lô).
Có lẽ không có một lĩnh vực nào của đời sống tâm linh, siêu nhiên
lại ám ảnh và chi phối đời sống hiện hữu, trần tục của con người bằng cái
8
chết và thế giới người chết. Từ đây, nó thêu dệt lên bao biểu tượng, huyền
thoại và cũng sản sinh ra nhiều giá trị văn hoá mang đầy tính nhân bản.
Đây cũng là điểm hội tụ mà tất cả các tôn giáo đều tập trung khai thác sao
cho phù hợp với quan niệm và mục tiêu của mình.
3. Tín ngưỡng nghề nghiệp
Gắn với từng hoạt động sản xuất của con người đều có các hình thức
tín ngưỡng tương ứng, trong đó quan trọng nhất là tín ngưỡng nông
nghiệp, ngoài ra còn có các nghề nghiệp khác: thủ công, đánh cá (ngư
nghiệp) và buôn bán.
a. Tín ngưỡng nông nghiệp
Người Việt chủ yếu là làm nghề nông trồng lúa nước ở vùng nhiệt
đới gió mùa. Ngay từ thời xa xưa, con người ở đây, cũng như nhiều nước
phương Đông khác chịu ảnh hưởng của quan niệm vũ trô luận nguyên sơ
âm - dương tương khắc tương sinh, sù giao hoà đầy bí Èn giữa âm dương
là nguồn gốc sản sinh ra con người và vạn vật của vò trụ. Hơn thế nữa,
trong điều kiện xã hội cổ truyền còn lạc hậu, với sự trắc trở và khắc
nghiệt của lụt bão, hạn hán, thiên tai, con người đành bất lực và hướng sự
trợ giúp vào thần linh, ma quỷ:
"Trông trời, trông đất, trông mây
Trông mưa, trông gió, trông ngày, trông đêm"

người thiểu số nhất là các téc làm nương rẫy, lễ nghi nông nghiệp giữ vai
trò quan trọng hàng đầu trong đời sống tín ngưỡng của đồng bào. Có thể
nói, trong bất cứ một khâu nào của canh tác nương rẫy, từ tìm đất, phát
rẫy, đốt rẫy, dọn nương, tra hạt đến thu hoạch, đưa lúa vào kho, ăn cơm
mới, đều diễn ra các nghi lễ. Có điều, khác với ở người Việt, các nghi lễ
này thường đơn sơ, có khi thuần tuý chỉ là nghi lễ, không có hội với các
sinh hoạt văn hoá kèm theo.
Nội dung cơ bản của tín ngưỡng nông nghiệp là quan niệm Hồn Lúa.
10
Hồn Lúa, trong quan niệm của cư dân nương rẫy, là sức sống của cây lúa,
quyết định sự sinh trưởng của cây lúa, mang lại phong đăng của mùa
màng. Do vậy, toàn bộ lễ nghi nông nghiệp là làm sao mời mọc, vỗ về,
dẫn dắt hồn lúa ở lại nương rẫy, giúp cho cây lúa sinh sôi, ra bông chắc
hạt, ở nhiều téc người, khi tra hạt và thu hoạch, thường tổ chức nghi lễ
lớn, biểu tượng của Hồn Lúa là Mẹ Lúa, hiện thân trong người phụ nữ, đi
gieo hay gặt những bông lúa đầu tiên.
Người Tày, Nùng có lễ hội Lồng Tồng (xuống đồng), Hội Nàng Hai
(Nàng Trăng) liên quan tới việc mở đầu mùa vụ gieo trồng hàng năm, cầu
mong mùa màng tươi tốt, thời tiết ôn hoà,
b/ Tín ngưỡng thờ Thánh sư (tổ nghề)
Thánh sư còn có các tên gọi khác như: Tiên sư, Nghệ sư, Tổ sư, Tổ
nghề, tức là người đã có công sáng tạo hay truyền dạy một nghề nào đó
cho những người đời sau. Do vậy, đây là thứ tín ngưỡng của cộng đồng
những người cùng nghề nghiệp, thường là nghề thủ công. Trong một làng
hay mét khu phố, thành phố, họ họp chung thành Phường. Mét số trường
hợp vị Thánh sư, Tổ sư nghề trở thành Thành hoàng của cả làng, như
trường hợp cụ Hoàng Đôn Hoà là Thánh sư nghề thuốc ở làng Đa Sĩ, Hà
Đông.
Người ta thờ riêng Thánh sư ở miếu, đền, nhưng ở mỗi nhà, cạnh
bàn thờ gia tiên cũng có thêm bàn thờ Thánh sư. Một số phường lín ngoài

một thế giới vô hình, ở đó các thần linh ở khắp mọi nơi dõi theo và phù
trợ cho thế giới của người sống.
Trong gia téc, các Thần linh tổ tiên được thờ cóng ở các nhà thờ họ,
ở ngay bàn thờ gia tiên của từng gia đình. Ngoài tổ tiên còn có các vị thần
linh khác, như Thần thổ địa (Thổ Công), Thần Tài (với các gia đình buôn
bán),
Ngoài làng xã, đó là các vị Thành hoàng, các Thánh sư,
Với cả nước thì đó là tín ngưỡng Đạo Mẫu, mét hình thức đặc thù
12
của Đạo giáo Việt Nam, một Đạo Nội mang sắc thái dân tộc độc đáo. Đó
còn là Đạo thờ Thần với việc thờ cóng các vị Vua, Chóa, các Anh hùng
dân téc, từ Hùng Vương, An Dương Vương, Hai Bà Trưng, Lý Bôn, Ngô
Quyền, Lê Hoàn, Lý Bát Đế (8 vị vua nhà Lý), Trần Hưng Đạo, Lê Lợi,
Quang Trung, Lê Văn Duyệt, Trương Định và cả Hồ Chí Minh Đó vốn
là các nhân vật lịch sử, có nhiều công lao đóng góp cho đất nước, khi mất
đi trở thành Thần Thánh, được nhân dân lập đền miếu tôn thờ.
Tuy cùng một loại là Đạo Thờ thần, nhưng nó không có một thần
chủ chung, giáo đường chung, giáo lý và nghi lễ chung như nhiều tôn
giáo khác, mà mỗi anh hùng dân téc được tôn thờ trở thành một giáo chủ,
vị thần thánh cao nhất và duy nhất, được thờ phụng ở các đền miếu khắp
mọi nơi (tất nhiên có nơi thờ chính và các nơi thờ vọng), không có đội
ngò đệ tử riêng, mà người dân Việt Nam nào cũng có thể đến thờ cóng
các vị thần thánh đó ở đền miếu để tỏ lòng ngưỡng vọng và cầu xin sù
che chở.
Việc thê cóng tổ chức trong phạm vi nào (gia đình, xóm làng, quốc
gia, ) là do bản thân chủ gia téc, trưởng họ, chủ làng, quan lại địa
phương hay vua chóa đứng ra làm chủ lễ. Họ trực tiếp giao cảm với thần
linh chứ không thông qua một thầy cóng hay pháp sư nào cả. Ngày kỵ lễ
cũng không nhất loạt, mà là ngày sinh hay mất của vị thần chủ đó. Cùng
với nghi lễ, là các ngày hội của làng, của cả vùng hay cả nước với các

Ở các téc người thiểu số cũng có một số hình thức thờ cóng ở một
nơi nhất định như miếu, chùa, đình (Tày, Mường), bàn thờ trong nhà (thê
tổ tiên, ma nhà, thờ Bà Mụ, bàn thờ của Then, Tào, Mo, )
*
* *
Trên đây là những phác thảo hết sức sơ lược về các hình thức tín
ngưỡng của người Việt và các téc người thiểu số, giúp người đọc có được
một ý niệm chung nhất về sự đa dạng, phức tạp của một phần đời sống
tâm linh là vì, ngoài các tín ngưỡng, người dân Việt Nam còn tôn thờ các
tôn giáo khác nữa, như Phật giáo, Đạo giáo, Khổng giáo, Kitô giáo. Đó là
chưa kể giữa tín ngưỡng bản địa với các tôn giáo kể trên đã diễn ra quá
14
trình ảnh hưởng, tiếp thu qua lại, một mặt vừa làm phong phú hơn các tín
ngưỡng dân gian bản địa, mặt khác, cũng làm biến dạng bản thân các tôn
giáo ngoại lai theo hướng bản địa hoá. Cùng với các tôn giáo, tín ngưỡng
kể trên, còn có cả một hệ thống các lễ nghi, phong tục, kiêng kỵ hết sức
phức tạp. Từ đó tạo nên một bức tranh hết sức đa dạng, phong phú và
sống động của đời sống tâm linh con người Việt Nam.
Từ những phác hoạ kể trên, để giúp chúng ta xem xét các mối quan
hệ tác động qua lại giữa tín ngưỡng và đời sống văn hoá dân gian của
người nông dân Việt Nam ở nông thôn, chúng tôi đi sâu vào giới thiệu
một số hình thức, loại hình tín ngưỡng chính, tiêu biểu. Đó là:
1) Đạo thờ Tổ tiên
2) Thờ cóng Thành hoàng làng
3) Đạo Mẫu
4) Tín ngưỡng thờ Đức Thánh Trần
5) Tín ngưỡng thờ Chử Đạo Tổ
6) Một số tín ngưỡng nghề nghiệp:
- Thê Tứ Pháp (cầu mưa)
- Tín ngưỡng Phồn thực


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status