tiểu luận quy chế về đầu tư quốc tế gián tiếp tại việt nam - Pdf 15


Tiểu luận

Quy chế về đầu tư quốc tế
gián tiếp tại Việt Nam

Chính vì vậy, thúc đẩy thu hút đầu tư gián tiếp quốc tế ổn định và tương xứng với
tiềm năng, góp phần tạo động lực phát trin thị trường vốn và nền kinh tế Việt Nam
đang là vấn đề được các cơ quan hoạch định chính sách, các nhà đầu tư, các
doanh nghiệp quan tâm.

Để nghiên cứu rõ hơn về vấn đề đầu tư quốc tế tại Việt Nam, trong bài viết sẽ trình
bày thành 4 chương :
- Chương 1: Cơ sở lý thuyết về đầu tư quốc tế đầu tư
- Chương 2: Quy chế về đầu tư quốc tế gián tiếp tại Việt Nam
- Chương 3: Thực trạng đầu tư gián tiếp quốc tế vào Việt Nam trong thời gian
qua
-Chương 4: Giải pháp thu hút và quản lý vốn đầu tư nước ngoài trong mối
quan hệ với sự phát triển của thị trường chứng khoán Việt nam. CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ ĐẦU TƯ QUỐC TẾ

1. Khái niệm đầu tư quốc tế gián tiếp:
Đầu tư gián tiếp:
Là hình thức đầu tư thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu, trái phiếu, các giấy tờ có
giá trị khác, thông qua quỹ đầu tư chứng khoán và thông qua các định chế tài chính
trung gian khác mà nhà đầu tư không trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư.

Đầu tư gián tiếp quốc tế:
Cũng là các khoản đầu tư gián tiếp nhưng do các nhà đầu tư nước ngoài thực hiện
để phân biệt với đầu tư trong nước do các nhà đầu tư trong nước thực hiện, cũng
thông qua việc mua cổ phần, cổ phiếu…định chế tài chính trung gian như đầu tư
gián tiếp nói chung.


tạo lao động và kinh nghiệm quản lý như trong FDI.

Theo quan điểm vi mô: Chủ đầu tư góp vốn với tỷ lệ nhỏ, họ không được quyền
tham gia trực tiếp vào việc điều hành, chi phối hoạt động của đối tượng mà chỉ đơn
thuần là góp vốn để được nhận một phần lợi nhuận theo tỷ lệ góp vốn.
Chương 2:

Quy chế về đầu tư quốc tế gián tiếp tại Việt Nam

Nội dung:
- Quy chế về thành lập công ty chứng khoán
- Quy chế về thành lập quỹ đầu tư.
- Quy chế về nhà đầu tư nướng ngoài được phép mua cổ phiếu của các ngân
hàng thương mại Việt Nam, của các công ty Việt Nam.

1. Quy chế về thành lập công ty chứng khoán:
Ngày 24-4-2007 Bộ Tài chính đã có quyết định số 27/2007/QĐ-BTC về việc ban
hành quy chế tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán.

Nội dung cơ bản:

* Quy chế này quy định về tổ chức và hoạt động của công ty chứng khoán thành lập
tại Việt Nam.

Các thuật ngữ:
1. Công ty chứng khoán là tổ chức có tư cách pháp nhân hoạt động
kinh doanh chứng khoán, bao gồm một, một số hoặc toàn bộ các hoạt động: môi
giới chứng khoán, tự doanh chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn
đầu tư chứng khoán.
2. Tổ chức kinh doanh chứng khoán là công ty chứng khoán, công ty

cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập công ty chứng khoán thông qua, phương án
hoạt động kinh doanh trong ba 3 năm đầu phù hợp với nghiệp vụ kinh doanh đề nghị
cấp phép kèm theo các quy trình nghiệp vụ, quy trình kiểm soát nội bộ, quy trình
quản lý rủi ro theo quy định của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước.

2. Quy chế về thành lập quỹ đầu tư:

Ngày 15-05-2007 Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định số 35/2007/QĐ-BTC về
“Quy chế tổ chức và hoạt động của Công ty quản lý quỹ”:
Theo quy chế này, Công ty quản lý quỹ được thực hiện các nghiệp vụ kinh doanh
chứng khoán sau đây: Quản lý quỹ đầu tư chứng khoán, công ty đầu tư chứng
khoán; Quản lý danh mục đầu tư chứng khoán.
Công ty quản lý quỹ phải bảo đảm vốn kinh doanh dành cho hoạt động đầu tư tài
chính của Công ty phải là từ nguồn vốn thực góp của Công ty, không bao gồm các
nguồn vốn vay, vốn ủy thác hoặc vốn chiếm dụng từ các tổ chức, cá nhân khác.
Quy chế này cũng đã đưa ra các quy định khá cụ thể vể điều kiện được cấp phép
thành lập và hoạt động của Công ty quản lý quỹ. Cụ thể là, để được cấp Giấy phép
thành lập và hoạt động, Công ty quản lý quỹ phải có quyền sử dụng trụ sở Công ty
thời hạn tối thiểu 1 năm và trang thiết bị phục vụ hoạt động nghiệp vụ, bảo đảm an
toàn, an ninh cho trụ sở làm việc của Công ty; Công ty quản lý quỹ, công ty quản
lý quỹ có vốn đầu tư nước ngoài, chi nhánh công ty quản lý quỹ nước ngoài
tại Việt Nam phải có vốn điều lệ thực góp tối thiểu là 25 tỷ đồng Việt Nam.
Đồng thời, Công ty Quản lý quỹ phải đảm bảo có đủ số lượng nhân viên có Chứng
chỉ hành nghề quản lý quỹ theo phương án kinh doanh, trong đó tối thiểu phải có 5
nhân viên được cấp Chứng chỉ hành nghề quản lý quỹ tại trụ sở chính,
Về điều kiện tài chính đối với cổ đông, thành viên góp vốn, Quy chế này quy định:
Các cá nhân, tổ chức tham gia góp vốn thành lập Công ty quản lý quỹ chỉ được
phép sử dụng vốn của chính mình, không bao gồm các nguồn vốn ủy thác đầu tư,
vốn chiếm dụng từ các cá nhân, tổ chức khác. Đối với trường hợp cổ đông, thành
viên góp vốn là tổ chức, nguồn vốn góp phải là nguồn vốn hợp pháp và được tổ

song phương. Lĩnh vực ngân hàng liên quan đến đầu tư tài chính thì Việt Nam
phải nắm một phần để đảm bảo an ninh tài chính nên phải hạn chế tỷ lệ tối đa
của các nhà đầu tư nước ngoài.
Quy chế về nhà đầu tư nước ngoài được phép mua cổ phiếu của các ngân
hàng thương mại Việt Nam:
Ngày 20-4-2007, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 69/2007/NĐ-CP về việc nhà
đầu tư nước ngoài mua cổ phần của ngân hàng thương mại Việt Nam.
Căn cứ pháp lý dựa trên:
- Các cam kết quốc tế của Việt Nam: Cam kết với WTO, Hiệp định thương mại
Việt – Mỹ (BTA), các hiệp định song phương, đa phương với các nước.
- Luật tổ chức chính phủ, Luật các tổ chức tín dụng, Luật ngân hàng nhà nước
Việt Nam, Luật doanh nghiệp, Luật chứng khoán.
Theo đó, quy định: Tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài
(bao gồm cả cổ đông nước ngoài hiện hữu) và người có liên quan của các nhà đầu
tư nước ngoài đó không vượt quá 30% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt
Nam.
Nội dung cụ thể:
1. Nghị định này quy định việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ phần của ngân hàng
thương mại Việt Nam (sau đây gọi tắt là ngân hàng Việt Nam) chưa được niêm
yết chứng khoán.
2. Khi ngân hàng Việt Nam niêm yết chứng khoán, nhà đầu tư nước ngoài được
mua cổ phần của ngân hàng Việt Nam theo các quy định của pháp luật về chứng
khoán và thị trường chứng khoán và phải tuân thủ tỷ lệ sở hữu cổ phần quy định
tại Điều 4 Nghị định này.
Đối tương áp dụng:
1. Các ngân hàng Việt Nam bao gồm:
a) Ngân hàng thương mại Nhà nước được cổ phần hoá;
b) Ngân hàng thương mại cổ phần.
2. Nhà đầu tư nước ngoài.
3. Các tổ chức, cá nhân khác liên quan đến việc nhà đầu tư nước ngoài mua cổ

đ) Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên
của tổ chức đó;
e) Vợ, chồng, cha, cha nuôi, mẹ, mẹ nuôi, con, con nuôi, anh, chị em ruột (và vợ,
chồng của những người này) của người quản lý, thành viên Ban kiểm soát, cổ
đông sở hữu từ 10% tổng số cổ phần phổ thông trở lên của tổ chức đó;
g) Vợ, chồng, cha, cha nuôi, mẹ, mẹ nuôi, con, con nuôi, anh, chị, em ruột (và vợ,
chồng của những người này) của cá nhân đó;
h) Cá nhân được uỷ quyền đại diện cho những người quy định tại các điểm a, b, c,
d, đ, e và g khoản này đối với chính những người uỷ quyền và đối với người
liên quan của người uỷ quyền và người được uỷ quyền.
Nguyên tắc sở hữu cổ phần đối với nhà đầu tư nước ngoài: (điều 4 nghị định)
1. Tổng mức sở hữu cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài (bao gồm cả cổ
đông nước ngoài hiện hữu) và người có liên quan của các nhà đầu tư nước ngoài
đó không vượt quá 30% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam.

2. Mức sở hữu cổ phần của một nhà đầu tư nước ngoài không phải là tổ chức
tín dụng nước ngoài và người có liên quan của nhà đầu tư nước ngoài đó không
vượt quá 5% vốn điều lệ của một ngân hàng Việt Nam.

3. Mức sở hữu cổ phần của một tổ chức tín dụng nước ngoài và người có liên
quan của tổ chức tín dụng nước ngoài đó không vượt quá 10% vốn điều lệ của
một ngân hàng Việt Nam.

4. Mức sở hữu cổ phần của nhà đầu tư chiến lược nước ngoài và người có liên
quan của nhà đầu tư chiến lược nước ngoài đó không vượt quá 15% vốn điều lệ
của một ngân hàng Việt Nam.

Trường hợp đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ căn cứ đề nghị của Ngân hàng Nhà
nước Việt Nam, quyết định mức sở hữu cổ phần của một nhà đầu tư chiến lược
nước ngoài và người có liên quan của nhà đầu tư chiến lược nước ngoài đó vượt

nhà đầu tư chiến lược nước ngoài, ngoài các điều kiện quy định trên, phải có văn
bản cam kết về việc hỗ trợ ngân hàng Việt Nam trong việc phát triển sản phẩm, dịch
vụ ngân hàng, nâng cao năng lực quản trị, điều hành và áp dụng công nghệ hiện
đại…
Bên cạnh đó, nhà đầu tư chiến lược nước ngoài và người có liên quan chỉ được
phép chuyển nhượng cổ phần thuộc sở hữu của mình cho tổ chức, cá nhân khác
(kể cả trong nước và ngoài nước) tối thiểu sau 5 năm kể từ khi trở thành là nhà đầu
tư chiến lược nước ngoài tại một ngân hàng Việt Nam.
3.2 QUY CHẾ GÓP VỐN, MUA CỔ PHẦN CỦA NHÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
TRONG CÁC DOANH NGHIỆP VIỆT NAM

Ngày 11-3-2003, Chính phủ ban hành Quyết định 36/2003 về quy chế góp vốn,
mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp Việt Nam.
Quy chế nhằm khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài góp vốn, đồng thời huy
động vốn, công nghệ, phương pháp quản lý doanh nghiệp của nước ngoài và mở
rộng thị trường, tăng sức cạnh tranh của các doanh nghiệp Việt Nam.
Mức góp vốn, mua cổ phần của các nhà đầu tư nước ngoài ở doanh nghiệp
Việt Nam theo Điều 3 Quy chế này tối đa bằng 30% vốn điều lệ của doanh
nghiệp Việt Nam.
Ngày 29 tháng 9 năm 2005, THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ ra QUYẾT ĐỊNH
238/2005/QĐ-TTg Về tỷ lệ tham gia của bên nước ngoài vào thị trường
chứng khoán Việt Nam. Quyết định này thay thế Quyết định số 146/2003/QĐ-TTg
ngày 17 tháng 7 năm 2003 của Thủ tướng Chính phủ. Nội dung:
Tổ chức, cá nhân nước ngoài mua, bán chứng khoán trên thị trường
chứng khoán Việt Nam được nắm giữ:
- Tối đa 49% tổng số cổ phiếu niêm yết, đăng ký giao dịch của một tổ
chức niêm yết, đăng ký giao dịch trên Trung tâm giao dịch chứng khoán. Đối
với tổ chức niêm yết, đăng ký giao dịch là doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài
chuyển sang hoạt động theo hình thức công ty cổ phần theo Nghị định số
38/2003/NĐ-CP ngày 15 tháng 4 năm 2003 thì tổng số cổ phiếu niêm yết là số cổ

ty lớn nhất thế giới với tổng vốn trên 70 tỷ USD, dự kiến vào VN với quy mô vốn
đầu tư tới 5 tỷ USD, xây dựng 1 thành phố chuyên sản xuất các sản phẩm thuộc
lĩnh vực điện tử, công nghệ cao. Tiếp đó là dự án nhiệt điện Kiên Giang có tổng
vốn khổng lồ, tới 4 tỷ USD và một dự án tại Nha trang trên 3 tỷ USD. Cả 2 dự án
này đều sẽ được cấp phép trong năm 2007. Bộ KH - ĐT cũng cho biết hàng loạt
các dự án khác như ALCOA và VINACOMIN: 1,5 tỷ USD; Dự án thép tại Hà Tĩnh:
3,2 - 3,5 tỷ USD; Dự án điện BOT Mông Dương 2 của Tập đoàn AES: 1,4 - 1,5 tỷ
USD cũng đều là các dự án FDI với số vốn chưa từng có từ trước tới nay.)

Tiềm năng to lớn của thị trường vốn Việt Nam đối với đầu tư gián tiếp:
Theo phân tích của giới chuyên gia, thị trường vốn của Việt Nam có thể huy động
100.000 tỉ đồng đối với trái phiếu Chính phủ; 100.000 tỉ đồng đối với trái phiếu
doanh nghiệp; 150.000 tỉ đồng đối với chương trình cổ phần hoá của Nhà nước và
có thể huy động 100.000 tỉ đồng trong các doanh nghiệp.
Như vậy, thị trường vốn Việt Nam có thể cung cấp một con số 30 tỉ USD, tăng hơn
20% so với kế hoạch đặt ra cho 5 năm tới, đó là một sự đóng góp khá lớn không
chỉ về lượng mà về chất.
Hiện nay, Chính phủ Việt Nam đang đẩy mạnh thực hiện cổ phần hoá (CPH). Hàng
loạt công ty lớn của Nhà nước như Bảo Việt, VNPT, EVN khi CPH sẽ cung cấp
lượng cổ phiếu hàng tỷ USD ra thị trường. Thị trường Việt Nam hiện có nhiều cơ hội
cho đầu tư tài chính. Ví dụ, nếu hai Công ty MobiPhone và VinaPhone CPH sẽ có
một lượng hàng hoá rất lớn bán ra, Nhà nước sẽ thu về khoảng 5 tỷ USD. Nếu tiếp
tục đẩy mạnh CPH các nhà máy điện, xi măng, than, dầu khí, nước, vận tải biển,…
Nhà nước cũng sẽ thu hút nhiều chục tỷ USD là chuyện rất bình thường. Đặc biệt,
Việt Nam đã có 20 năm sau đổi mới, lượng vốn chủ sở hữu hàng trăm tỷ USD
Đầu tháng 6/2007 công ty Bảo Việt đã tiến hành đấu thầu giá cổ phần. Cuộc đấu
giá 60 triệu cổ phiếu của tập đoàn Bảo Việt mới kết thúc hôm Chủ Nhật (3/6/2007)
với giá đấu trúng bình quân 73.910 đồng/1 cố phiếu (mệnh giá 10.000 đồng) đã và
đang thu hút từ thị trường chứng khoán 4.434 tỷ đồng (khoảng 275 triệu USD)
Ngày 1/6, Thủ tướng đã ký Nghị quyết về việc phát hành trái phiếu Chính phủ

Mặc dù TTCK tại Việt Nam còn rất non trẻ, khai trương ngày 20/7/2000 và thực hiện
phiên giao dịch đầu tiên vào ngày 28/7/2000 nhưng đã thể hiện là một kênh huy
động vốn tích cực cho các doanh nghiệp. TTCK VN ngày càng được các nhà đầu tư
nước ngòai, công ty quản lý qũy nước ngòai quan tâm.
Hiện nay có 55 công ty CK, 26 Quỹ đầu tư và 18 công ty quản lý Quỹ đang họat
động trên thị trường chứng khóan Việt Nam.

a. Họat động của các Công ty chứng khóan:
Hiện nay 55 công ty chứng khóan họat động trên thị trường CKVN dưới sự quản lý
của 2 trung tâm giao dịch CK: TTGDCK TP.HCM và TTGDCK Hà Nội.
Tính đến cuối năm 2006, tổng giá trị vốn hóa của thị trường cổ phiếu tăng gần 20
lần với khối lượng giá trị tương đương 22,7% GDP, đây là một kỷ lục của sự bùng
nổ. Số lượng các công ty niêm yết trên cả 2 thị trường tăng vọt lên 5 lần 193 công ty
năm 2006 so với 41 công ty năm 2005.
Tại TTGD CK TP.HCM cuối năm 2006, tổng giá trị niêm yết của hơn 80 lọai cổ phiếu
đạt hơn 12.000 tỷ đồng, nếu tính theo giá thị trường hay mức độ vốn hóa thì đạt đến
150.000 tỷ đồng tương đương 9 tỷ USD. Bình quân doanh số mua bán hàng ngày
đạt từ hàng trăm đến hàng nghìn tỷ đồng.
Tại TTGD CK Hà Nội cuối năm 2006, tổng giá trị niêm yết của 54 lọai cổ phiếu đạt
hơn 9.700 tỷ đồng, nếu tính theo giá thị trường hay mức độ vốn hóa thì đạt đến
70.000 tỷ đồng tương đương 4 tỷ USD (tăng 27 lần so với 2005). Bình quân doanh
số mua bán hàng ngày đạt từ 200-300 tỷ đồng.
Trên TTCK OTC đến cuối 2006 có trên 90 lọai cổ phiếu niêm yết với tổng thị giá lên
tới hơn 100.000 tỷ đồng tương đương 6 triêu USD. Doanh số mua bán bình quân
đạt 300-400 tỷ đồng/ngày.
Giá cổ phiếu đạt tốc độ tăng trưởng rất cao trong năm 2006, tăng 446,49 điểm
(146%) từ 305,28 điểm (31/12/2005) lên 751,77 điểm (29/12/2006).
Giao dịch của các nhà đầu tư nước ngòai chiếm khỏang 15% giao dịch tòan thị
trường.


các nhà đầu tư nước ngoài rót vốn vào TTCK Việt Nam là khoản lợi nhuận kếch xù
có được từ thị trường này từ năm ngoái đến nay. Tính trung bình, một quỹ đầu tư
đầu tư vào Việt Nam trong vòng 1 năm trở lại đây đều có thể mang về cho các cổ
đông mức lợi nhuận cao gấp khoảng 2 lần vốn đầu tư.
Ngoài các quỹ đầu tư nước ngoài, hiện tại, các công ty quản lý quỹ đầu tư trong
nước có quy mô lớn như VietFund Management, Công ty Quản lý Quỹ Prudential
Vietnam, các công ty quản lý quỹ thuộc các ngân hàng thương mại lớn như
Vietcombank, BIDV… đều đang có chiến lược mở rộng hoạt động nhằm đón bắt
những cơ hội lớn trên thị trường trong thời gian tới. Đây cũng chính là những yếu tố
góp phần tạo nên "sức bật" lớn cho TTCK Việt Nam thời gian tới.

c. Họat động của các nhà đầu tư lẻ
Số lượng các nhà đầu tư chứng khóan tham gia thị trường tăng theo cấp số nhân
trong thời gian qua. Đến hết năm 2006, số tài khỏan giao dịch đã đạt hơn 100.000,
gấp 3 lần so với cuối năm 2005 và gấp 30 lần so với khi mới thành lập thị trường.
Trong đó có 1.700 tài khoản của các nhà đầu tư nước ngòai, gồm cả những nhà đầu
tư tầm cỡ quốc tế như Merrill Lynch, Citygroup…, hiện các nhà đầu tư nước ngòai
đang nắm giữ 30% lượng cổ phiếu của các công ty niêm yết.
Hơn 90% số nhà đầu tư chứng khóan là các cá nhân, chiếm hơm 70% lượng cổ
phiếu giao dịch. Số đông các nhà đầu tư này còn thiếu kiến thức căn bản và hệ
thống về đầu tư chứng khóan, chưa nhiều kinh nghiệm kinh doanh. Họ thường
phạm vào 5 sai lầm trong việc kinh doanh chứng khóan (mua bán quá nhiều – trả
phí giao dịch nhiều, đầu tư dựa vào danh tiếng – không dựa vào phân tích tài chính,
đầu tư theo đám đông – đẩy giá cố phiếu lên cao hơn giá trị thực, không đa dạng
hóa – rủi ro cao khi công ty làm ăn thua lỗ, cứ nghĩ mình luôn luôn đúng – giá cổ
phiếu giảm nhưng không chịu bán để chặn lỗ, bán sớm khi thấy cổ phiếu lên giá)
Hành vi mang tính tự phát cao, thiếu kinh nghiệm, thiếu phân tích của các nhà đầu
tư lẻ dễ làm cho thị trường biến động khó lường, đặt thị trường trườc nguy cơ rủi ro
cao.
Theo ước tính của IMF hệ số giá/lợi nhuận (P/E) trung bình của 20 công ty lớn nhất

hoạt động hiệu quả ở trong nước, cũng như cùng với việc nới rộng tỉ lệ nắm giữ cổ
phần của các nhà đầu tư nước ngoài trong các doanh nghiệp đó.

3.2 Tác động của đầu tư gián tiếp quốc tế nói chung:
3.2.1 Tác động tích cực
* Đối với nước tiếp nhận đầu tư:
- Đây là kênh huy động vốn quan trọng từ nước ngoài, tiếp thu vốn dưới nhiều
quy mô
- Vốn đầu tư tiếp nhận bằng tiền nên để sử dụng theo mục đích của mình
- Nhà đầu tư không can thiệp vào quá trình hoạt động của dự án.
* Đối với chủ đầu tư:
- Dễ bán, dễ chuyển nhượng để thay đổi mục đích đầu tư
- Dễ thực hiện đầu tư
+ Thực hiện nhanh
+ Chi phí thấp
+ Không bị giới hạn bởi tuổi, sức khoẻ của nhà đầu tư
3.2.2 Tác động tiêu cực
* Đối với nước tiếp nhận đầu tư:
- Hạn chế khả năng thu hút công nghệ, kinh nghiệm quản lý
- Tính bất ổn cao cho đổi mv hệ thống tài chính và chứng khoán (vì dễ chuyển
vốn từ dạng này qua dạng khác.
- Không trực tiếp quản lý dự án mình bỏ vốn
- Không có điều kiện nắm thông tin chính xác nhất về dự án đầu tư.
3.3 Tác động của đầu tư gián tiếp quốc tế đối với Việt Nam
3.3.1 Tác động tích cực
- Trực tiếp làm tăng tổng vốn đầu tư gián tiếp và gián tiếp làm tăng tổng vốn
đầu tư trực tiếp của xã hội
Khi vốn đầu tư gián tiếp quốc tế đổ vào Việt Nam sẽ trực tiếp làm tăng lượng vốn
đầu tư gián tiếp trên thị trường vốn trong nước. Hơn nữa, vốn đầu tư gián tiếp quốc
tế gia tăng sẽ gia tăng dây chuyền tới dòng vốn đầu tư gián tiếp trong nước. Hay

trung gian để mua - bán các cổ phiếu, trái phiếu và chứng khoán có giá khác của
Việt Nam trên thị trường tài chính trong nước và nước ngoài. Việc đầu tư này sẽ cho
phép họ thu nhận được lợi nhuận từ sự chênh lệch giá cả khi mua - bán chứng
khoán, cũng như từ lãi suất và cổ tức các chứng khoán mà họ sở hữu theo thoả
thuận hoặc thực tế kết quả kinh doanh của cơ quan, tổ chức, doanh nghiệp phát
hành chứng khoán đó. Điều này cũng đồng nghĩa với việc cải thiện thu nhập, mức
sống của đông đảo các nhà đầu tư là người dân, tuỳ theo lượng vốn và kỹ năng đầu
tư chứng khoán mà họ có. Hơn nữa, thông qua quá trình tham gia đầu tư gián tiếp
này, các nhà đầu tư trong nước sẽ được dịp "cọ xát", rèn luyện và bồi dưỡng kiến
thức, kinh nghiệm, kỹ năng, bản lĩnh đầu tư, nâng cao trình độ bản thân nói riêng,
chất lượng nguồn nhân lực nói chung, phù hợp yêu cầu và điều kiện kinh doanh thị
trường, hiện đại

- Góp phần nâng cao năng lực và hiệu quả quản lý nhà nước theo các nguyên
tắc và yêu cầu kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế.
Việc quản lý và quản trị doanh nghiệp phát hành chứng khoán sẽ được thực hiện
nghiêm túc, hiệu quả hơn do yêu cầu về báo cáo tài chính doanh nghiệp và minh
bạch hoá, cập nhật hoá thông tin liên quan đến các chứng khoán mà doanh nghiệp
đã và sẽ phát hành. Hơn nữa, về nguyên tắc, các nhà đầu tư chỉ ưa lựa chọn đầu tư
vào chứng khoán của các doanh nghiệp đáng tin cậy, đang và sẽ có triển vọng phát
triển tốt trong tương lai. Chính điều này sẽ cho phép quá trình "chọn lọc nhân tạo",
"bỏ phiếu" cho sự hỗ trợ và phát triển các doanh nghiệp này trở nên khách quan và
phù hợp cơ chế thị trường hơn (còn những doanh nghiệp khác mà chứng khoán của
họ không hấp dẫn sẽ phải điều chỉnh lại định hướng và chất lượng quản trị kinh
doanh, sáp nhập hoặc giải thể). Hệ thống luật pháp, cũng như các cơ quan, bộ phận
và cá nhân trong hệ thống quản lý nhà nước liên quan đến thị trường tài chính, nhất
là đến đầu tư gián tiếp nước ngoài sẽ phải được hoàn thiện, kiện toàn và nâng cao
năng lực hoạt động hơn theo yêu cầu, đặc điểm của thị trường này, cũng như theo
các cam kết hội nhập quốc tế. Đồng thời, thông qua tác động vào thị trường tài
chính, nhà nước sẽ đa dạng hoá các công cụ và thực hiện hiệu quả việc quản lý của

định các hoạt động sản xuất - kinh doanh và các chủ quyền khác của doanh nghiệp,
tổ chức phát hành chứng khoán, thậm chí lũng đoạn doanh nghiệp theo phương
hướng, kế hoạch, mục tiêu riêng của mình, kể cả các hoạt động mua lại, sáp nhập
doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa là, tính chất gián tiếp của vốn đầu tư nước ngoài đã
chuyển hoá thành tính trực tiếp. Nhà đầu tư gián tiếp sẽ chuyển hoá thành nhà đầu
tư trực tiếp.
- Làm tăng quy mô, tính chất và sự cấp thiết đấu tranh với tình trạng tội phạm
kinh tế quốc tế
Đầu tư gián tiếp quốc tế không chỉ làm gia tăng các nguy cơ và tác hại của các hoạt
động đầu cơ, lũng đoạn kinh tế vi phạm các quy định pháp lý của nước tiếp nhận
đầu tư, mà còn là mảnh đất mầu mỡ sinh sôi và phát triển các loại tội phạm kinh tế
có yếu tố nước ngoài, thậm chí xuyên quốc gia, như hoạt động lừa đảo, hoạt động
rửa tiền, hoạt động tiếp vốn cho các vụ kinh doanh phi pháp và hoạt động khủng bố,
cùng các loại tội phạm và các đe doạ an ninh phi truyền thống khác.
Sự cộng hưởng của các hoạt động tội phạm và tác động mặt trái của dòng vốn Đầu
tư gián tiếp quốc tế nói trên, nhất là khi chúng diễn ra một cách "có tổ chức" của giới
đầu cơ hay lực lượng thù địch chính trị quốc tế, sẽ ít nhiều, trực tiếp hay gián tiếp,
trước mắt và lâu dài gây tổn hại tới hoạt động kinh tế lành mạnh và làm tăng tính dễ
tổn thương của nền kinh tế nước tiếp nhận đầu tư trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện
nay; Thậm chí trong một số trường hợp, chúng còn làm mất uy tín nhà nước và gây
sụp đổ một nội các chính phủ
Ngoài ra, sự gia tăng dòng vốn Đầu tư gián tiếp quốc tế vào Việt Nam còn đặt ra yêu
cầu Chính phủ và các cơ quan TW phải chủ động đổi mới và sử dụng hiệu quả các
công cụ quản lý kinh tế của mình theo nguyên tắc thị trường hơn, trong đó có việc
sử dụng bảo lãnh nhà nước, quy định tỷ lệ và sử dụng các công cụ dự phòng, dư nợ
cũng như các công cụ khác của các định chế tài chính - tiền tệ quốc gia và địa
phương những điều cần thiết để đảm bảo sự thu hút và khai thác có hiệu quả các
tác động tích cực của dòng vốn Đầu tư gián tiếp quốc tế.
Chương 4:
GIẢI PHÁP THU HÚT VÀ QUẢN LÝ VỐN ĐẦU TƯ NƯỚC

kinh doanh của doanh nghiệp.
Hiện có nhiều nhược điểm cản trở dòng vốn FII đổ vào Việt nam.
Điều quan trọng nhất đối với nhà đầu tư là muốn hiểu được hoạt động
của doanh nghiệp một cách chân thực và chính xác qua bản báo cáo tài
chính, nhưng phần lớn doanh nghiệp ở Việt nam đều coi việc báo cáo tài
chính chỉ để đối phó với cơ quan thuế chứ không phải dành cho cổ đông
cũng như các nhà đầu tư tiềm năng. Doanh nghiệp Việt nam hiện nay
thường lập 2 loại sổ sách kế toán, một dành cho mình và một dành cho
việc báo cáo thuế. Trong khi đó hệ thống kiểm toán còn nhiều bất cập,
có những qui đònh không theo chuẩn mực quốc tế. Phương pháp xác đònh
giá trò doanh nghiệp nhà nước khi cổ phần hóa chủ yếu là tính theo giá
trò sổ sách chứ không sử dụng phương pháp chiết khấu dòng tiền, nên
để đánh giá giá trò thực của một doanh nghiệp là rất khó. Hệ thống
thông tin của doanh nghiệp còn yếu, không cung cấp đầy đủ cho nhà đầu
tư về tình hình hoạt động cũng như những dự báo trong tương lai. Hoạt động
thâu tóm giữa các doanh nghiệp gần đây mới được công bố công khai.
Hầu hết doanh nghiệp Việt nam đều ngại công khai tình hình hoạt động kinh
doanh. Hội đồng quản trò chưa phải là tổ chức qui tụ những cổ đông lớn
và không hoạt động độc lập bởi tại nhiều doanh nghiệp Giám đốc lại
kiêm luôn chức chủ tòch Hội đồng quản trò.
Vì tính chất nguồn vốn FII là đầu tư vào doanh nghiệp cổ phần nên
để thu hút được nguồn vốn này, ngoài hệ thống pháp lý cần cải thiện,
thay đổi phù hợp với các qui tắc chung thì Việt nam còn phải tăng cường
cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước, cơ cấu lại hệ thống doanh nghiệp và
thúc đẩy thò trường chứng khoán phát triển bằng việc đưa nhiều doanh
nghiệp mạnh lên niêm yết. Trước đây, vào những năm 90, dòng vốn FII
đã được đổ nhiều vào Việt nam. Sự xuất hiện của hơn 10 quỹ đầu tư
nước ngoài đã thể hiện nhà đầu tư nước ngoài coi thò trường Việt nam là
một thò trường nhấp dẫn, có thể mang lại lợi nhuận cao. Nhưng vào thời
điểm đó, ở Việt nam khu vực kinh tế tư nhân còn rất yếu, khu vực kinh tế

Một trong những chính sách quan trọng trong quá trình đổi mới của
Việt nam là thay đổi cơ cấu nền kinh tế theo sự tính toán sẵn nên đã giữ
được ổn đònh, nhưng sự thay đổi này vẫn còn chậm. Tuy nhiện, so với các
nước Đông Âu thì Việt nam thành công hơn. Và một trong các thế mạnh
của Việt nam là xuất khẩu. Đây chính là động lực để tăng trưởng kinh
tế. Các thò trường xuất khẩu quan trọng của Việt nam là châu Âu, Mỹ,
Nhật bản, Asean và Trung quốc. Ngoài ra còn một số thò trường khác. Sự
đa dạng hóa thò trường xuất khẩu sẽ giúp Việt nam phát triển mạnh hơn
trong thời gian tới.
Hiện nay cũng như trong tương lai, Việt nam vẫn giữ được vò thế tốt
để thu hút các nguồn vốn đầu tư. Sư thuận lợi của môi trường đầu tư
được chứng minh bằng con số thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI)
tăng cao trong năm 2005. Nếu Trung quốc đựơc xem là thò trường nóng thu
hút nhiều FDI thì hiện nay Việt nam được xếp hạng cao hơn cả Trung quốc
trong việc thu hút đầu tư. Và một trong những dấu hiệu quan trọng đánh
dấu sự tăng trưởng thành công của nền kinh tế là trái phiếu của Việt
nam đã nhận được sự quan tâm và đánh giá cao trên thò trường trái phiếu
quốc tế.
Bên cạnh đó, các nhà đầu tư sẽ được đảm bảo bằng sự ổn đònh
chính trò, sự công bằng trong cạnh tranh và sự minh bạch trong các thể chế.
Mặt khác, một trong những lý do để các nhà đầu tư hướng về Việt nam
là Chính phủ Việt nam rất coi trọng khu vực kinh tế tư nhân và luôn khẳng
đònh tầm quan trọng của khu vực kinh tế này.
Kết quả của sự chuyển đổi là thu nhập của người dân Việt nam
đã tăng gấp đôi. Tăng trưởng GDP của Việt nam có thể duy trì 8%/năm
trong 5 năm tới, thậm chí còn có thể nhanh hơn nếu có chính sách cởi
mở, thông thoáng hơn. Tuy nhiên, những thách thức còn lại đối với nền
kinh tế Việt nam là cơ sở hạ tầng đang có nhu cầu đầu tư rất lớn, sự
phân bố nguồn lực về đất đai và tài chính cho khu vực kinh tế nhà nước.
Theo kinh nghiệm của các nước trong khu vực, đến giai đoạn nào đó

đònh thì nhà đầu tư nước ngoài có quyền mang cả vốn lẫn lãi của mình
ra.
Tuy nhiên , đối với các nhà đầu tư gián tiếp thì hơi phức tạp hơn
bởi vì một lý do nào đó các đầu tư gián tiếp phải chấm dứt và muốn
thu hồi vốn thì họ phải tìm kiếm đối tác để chuyển nhượng hoặc bán lại
dự án doanh nghiệp mình đã và đang đầu tư. Để làm được điều này,
ngoài những nghò đònh hướng dẫn cụ thể về qui đònh đặc thù đối với
đầu tư gián tiếp (hiện luật của chúng ta chưa có nghò đònh hướng dẫn cụ
thể cho qui chế này) thì thò trường vốn chúng ta phải phát triển mạnh đủ
để có người mua- người bán và cần có nhiều công cụ chuyển nhượng
vốn tinh vi hơn.
Tp. Hồ chí Minh là thành phố trọng điểm kinh tế của cả nước, đã
đạt được mức tăng trưởng 11,8% trong năm qua so với mức tăng trưởng
chung của cả nước là 7,4%. Để thu hút FII, về phần mình trước mắt
Tp.HCM phải giới thiệu những lónh vực mà các nhà đầu tư quan tâm và
có thể bỏ tiền vào; tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các quỹ đầu tư đang
hoạt động ở Việt nam ; mở cửa những lónh vực mà hiện nay họ đang quan
tâm như bất động sản,… Mặt khác, thành phố đang và sẽ kiến nghò với
chính phủ mở cửa thêm một số lónh vực mà các nhà đầu tư quan tâm
đồng thời tạo điều kiện tối đa cho thò trường vốn phát triển.
3. Phát triển hơn nữa thò trường tiền tệ:
Để thúc đẩy thò trường tiền tệ phát triển đáp ứng được các yêu
cầu cần thiết để thu hút được vốn đầu tư gián tiếp nước ngoài, cần có
sự phối hợp chặt chẽ của các ngành, các cấp đồng thời thực hiện đồng
bộ các giải pháp sau đây:
Một là, chuẩn hóa các giao dòch trên thò trường tiền tệ: Để thò
trường thứ cấp phát triển thì một mặt, phải tạo nên nhiều hàng hóa
đồng thời phải chuẩn hóa các công cụ tài chính trên thò trường. Trong
thời kỳ đầu, cần phải tăng cường việc ban hành các giấy tờ có giá
dưới dạng chứng chỉ để công chúng nắm giữ (sau này khi thò trường đã

chức tạo lập thò trường, cụ thể là:
- Phải quan tâm và dành một nguồn vốn nhất đònh để tam gia trên
thò trường tiền tệ và đưa ra nhiều “sản phẩm“ để đáp ứng nhu cầu về
vốn, đầu tư, phòng ngừa rủi ro của thò trường như chiết khấu giấy tờ có
giá, các hợp đồng REPO, các hợp đồng SWAPS, Option,…).
- Phải niêm yết giá chào 2 chiều (cả cho vay và đi vay) trên thò
trường liên ngân hàng và sẵn sàng thực hiện các giao dòch theo mức lãi
suất đã niêm yết.
- Phải niêm yết lãi suất chiết khấu; giá mua, giá bán các giấy tờ
có giá công khai tại các hội sở và chi nhánh của ngân hàng và thực
hiện các giao dòch theo các mức giá đã niêm yết đó. Đối với các trái
phiếu do ngân hàng phát hành, phải cam kết sẽ chiết khấu (mua lại)
trước hạn theo mức lãi suất chiết khấu của ngân hàng tại thời điểm
chiết khấu.
- Thực hiện việc liên kết giữa các ngân hàng trong việc sẵn sàng
chiết khấu các giấy tờ có giá do các ngân hàng phát hành hoặc tổ
chức thanh toán bù trừ về nghiệp vụ này.
- Nâng cao vai trò người cho vay cuối cùng của Ngân hàng nhà
nước thông qua nghiệp vụ thò trường mở và nghiệp vụ cho vay qua đêm
đối với các ngân hàng.
Bốn là, hiện đại hóa công nghệ ngân hàng để phục vụ cho các
giao dòch trên thò trường tiền tệ và thu thập xử lý thông tin của thò
trường.
Các giao dòch trên thò trường tiền tệ đòi hỏi phải thực hiện nhanh
và trên phạm vi rộng (toàn cầu) vì vậy đòi hỏi việc chào giá, thỏa
thuận và thực hiện giao dòch phải thông qua hệ thống mạng có độ an
toàn cao. Hiện nay, gần 30 ngân hàng thương mại đã thực hiện việc giao
dòch vốn (gửi tiền/cho vay và nhận tiền gửi/đi vay) liên ngân hàng thông
qua hệ thống giao dòch của hãng Reuters.
Tuy nhiên, do thông tin (lãi suất, thời hạn,…) trên thò trường liên

trình độ về chuyên môn, ngoại ngữ để thực hiện kinh doanh trên thò trường
tiền tệ trong nước và quốc tế là hết sức quan trọng, đảm bảo hoạt động
hiệu quả và thành công của ngân hàng trên thò trường tiền tệ.
4. Phát triển mạnh thò trường chứng khoán
1. Các giải pháp trước mắt:
Để tăng cường thu hút luồng vốn đầu tư gián tiếp trên thò trường
chứng khoán Việt nam thì trước mắt cần áp dụng các giải pháp sau:
Cải thiện môi trường đầu tư nhằm tăng tính cạnh tranh của thò
trường chứng khoán Việt nam so với các nước trong khu vực. Giữa đầu tư
trực tiếp (FDI) và đầu tư gián tiếp (FII) có mối liên hệ với nhau. Nếu
đầu tư trực tiếp được tăng cường thì góp phần nâng cao lượng vốn đầu tư
gián tiếp trên thò trường chứng khoán . Sở dó như vậy là vì các nhà đầu
tư nước ngoài cần đầu tư nguồn vốn tạm thời rỗi của họ mà một trong
những biện pháp tốt nhất là đầu tư trên thò trường chứng khoán . Do đó
nhà nước cần đẩy mạnh hơn nữa cải cách và hoàn thiện môi trường
đầu tư thông qua thiết lập hệ thống quản lý hành chính rõ ràng, minh
bạch và chi phí thấp nhằm khuyến khích đầu tư nước ngoài. Ngoài ra, chính
phủ cần xây dựng hệ thống cung cấp thông tin kòp thời và đáng tin cậy
cho các nhà đầu tư, hoàn thiện các qui chế kiểm soát thu nhập và ngoại
tệ theo hướng rõ ràng, hợp lý nhằm đảm bảo bình đẳng cho các nhà đầu
tư trong và ngoài nước.
Sớm hình thành dòch vụ chuẩn hóa về cung cấp thông tin cho người
đầu tư chỉ khi nào hệ thống thông tin của thò trường chứng khoán được
hiện đại hóa theo chuẩn mực thì thò trường chứng khoán mới có cơ sở
vận hành công bằng và hiệu quả, thu hút nhiều nhà đầu tư vào thò
trường chứng khoán . Hiện tại những nỗ lực cung cấp thông tin của Trung
tâm giao dòch chứng khoán và công ty chứng khoán chưa đáp ứng yêu
cầu thông tin của nhà đầu tư do việc cung cấp thông tin còn đơn điệu, sơ
lược, chưa đầy đủ. Những qui đònh cụ thể về trách nhiệm cung cấp thông
tin của các tổ chức niêm yết cũng chưa rõ ràng, hiện tượng cung cấp

kiện niêm yết khá hơn nhưng đều trù trừ chưa nhập cuộc ngay. Lý doanh
nghiệp họ đưa ra rất nhiều trong đó có nguyên nhân thò trường chứng
khoán chưa đủ sức khuyến khích các doanh nghiệp tham gia. Do đó để
khuyến khích các công ty cổ phần đủ điều kiện ra niêm yết, trước mắt
nhà nước nên hỗ trợ có thời hạn cho doanh nghiệp trên các mặt:
+ Đối với công ty cổ phần hình thành từ cổ phần hóa thì nhà nước
cần có chính sách ưu đãi về thuế, ưu tiên chuyển giao quyền sử dụng đất
theo cơ chế thò trường, đònh hướng tín dụng ưu đãi khuyến khích đầu tư,…
nhằm khuyến khích các doanh nghiệp này niêm yết cổ phiếu trên thò
trường chứng khoán .
+ Cải tiến chế độ kế toán tài chính các công ty cổ phần, đồng
thời tăng cường giám sát để các công ty này cung cấp thông tin chính
xác cho thò trường. Bên cạnh đó cần giáo dục, tuyên truyền cho cổ đông
ở những công ty có đủ điều kiện niêm yết ý thức được quyền lợi của
họ khi công ty niêm yết trên thò trường chứng khoán .
+ Cải tiến thủ tục xét duyệt cho phép niêm yết để rút ngắn thời
gian và tạo điều kiện dễ dàng cho công ty cổ phần muốn niêm yết từ
đó tăng sức hấp dẫn của thò trường chứng khoán đối với công ty cổ
phần.
Tăng cường hàng hóa có chất lượng trên thò trường chứng khoán
bằng cách cổ phần hóa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và
khuyến khích các doanh nghiệp này niêm yết trên thò trường chứng khoán
. Cổ phần hóa các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là một biện
pháp trước mắt nhằm cung cấp hàng hóa chất lượng cao cho thò trường
chứng khoán. Ở Việt nam thời gian qua các doanh nghiệp có vốn đầu tư
nước ngoài hoạt động tương đối hiệu quả do các doanh nghiệp này có
mô hình quản trò hiện đại, được hưởng những ưu đãi của nhà nước trong
khuyến khích xuất khẩu….Những giải pháp cần thực thi để cổ phần hóa
các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài là:
+ Nhà nước cần đònh hướng rõ ràng trong việc xử lý các vấn đề


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status