Lời mở đầu
Đầu tư quốc tế là một nhân tố cực kỳ quan trọng, trực tiếp ảnh hưởng đến
sự phát triển khoa học công nghệ cũng như trình độ kinh tế của một quốc gia,
đặc biệt là một quốc gia có nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, đặc biệt
trong xu hướng hội nhập quốc tế - toàn cầu hóa như hiện nay. Với bản chất là
dòng vốn quốc tế, nên vốn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam đi theo nhiều hướng
khác nhau - sử dụng vào nhiều mục đích khác nhau, và cũng xuất phát từ nhiều
nguồn khác nhau. Chính sự khác biệt đó đã dẫn đến nhiều sự chênh lệch, mất
cân đối trong nguồn vốn đầu tư, đặc biệt là vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài
(FDI). Những mất cân đối đó bao gồm mất cân đối giữa các ngành nghề được
đầu tư, mất cân đối giữa các địa bàn được đầu tư, mất cân đối giữa các ngành
thâm dụng lao động với ngành công nghệ cao, mất cân đối giữa vốn đăng ký và
thực hiện, mất cân đối giữa các đối tác đầu tư. Ngoài ra, nhóm nghiên cứu còn
nhận thấy một số mất cân đối khác, thí dụ như mất cân đối giữa số lượng và giá
trị dự án đầu tư, mất cân đối giữa hiệu quả của các dự án đầu tư…
Bài viết này xin đề cập đến một số khái niệm cũng như thực trạng vốn đầu
tư quốc tế hiện nay ở Việt Nam. Sau đó chúng tôi xin đi vào nghiên cứu các mất
cân đối kể trên, bao gồm thực trạng, nguyên nhân và hậu quả của chúng, từ đó
đề ra các giải pháp thích hợp - bao gồm các giải pháp chung và cả các giải pháp
riêng cho từng mất cân đối đã phân tích.
Bài viết tuy được đầu tư, tìm hiểu nhiều, nhưng vẫn còn nhiều thiếu sót và
mong có thể được nghiên cứu sâu hơn trong tương lai.
1
Dòng vốn ĐTNN
Dòng vốn chính thức
Viện trợ phát triển
chính thức
ODA
Grants
Concessional
loans
Flows
Commercial
Loans
1. CÁC HÌNH THỨC ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI
Dòng vốn đầu tư nước ngoài
2
Tuy nhiên hiện nay ở Việt Nam, đầu tư quốc tế được thực hiện dưới 3 hình thức:
đầu tư trực tiếp, đầu tư gián tiếp và tín dụng quốc tế (chủ yếu thu hutý qua hình thức
thu hút vốn ODA)
1.1. Hỗ trợ phát triển chính thức (ODA - Official Development Assistance)
1.1.1. Khái niệm
* Khái niệm của DAC - Uỷ ban Hỗ trợ Phát triển (Development Assistance
Committee-DAC) - Tổ chức hợp tác kinh tế và phát triển (OECD), năm 1969
ODA là những luồng tài chính chuyển tới các nước đang phát triển và tới
những tổ chức đa phương để chuyển tới các nước đang phát triển mà:
- Được cung cấp bởi các tổ chức chính phủ (trung ương và địa phương)
hoặc bởi cơ quan điều hành của các tổ chức này;
- Có mục tiêu chính là thúc đẩy tăng trưởng kinh tế và phúc lợi của các
nước đang phát triển;
- Mang tính chất ưu đãi và có yếu tố không hoàn lại ≥ 25% (được tính với
tỷ suất chiết khấu 10%)
* Khái niệm của Việt Nam (Theo NĐ/2006/NĐCP)
Hỗ trợ phát triển chính thức là hoạt động hợp tác phát triển giữa Nhà
nước hoặc Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam với nhà tài trợ
là chính phủ nước ngoài, các tổ chức tài trợ song phương và các tổ chức liên quốc
gia hoặc liên chính phủ.
1.1.2. Đặc điểm của ODA
- Các nhà tài trợ (Donors) bao gồm:
+ Chính phủ các nước chủ yếu là các nước phát triển hoặc tương đối phát triển
(cấp ODA dưới dạng này còn gọi là ODA song phương), cấp ODA mà nhà tài trợ không
ân hạn (chỉ trả lãi, chưa phải trả gốc) (25-40 năm mới phải hoàn trả và thời gian ân hạn
8-10 năm) , giá trị cho vay lớn. Từ các ưu đãi trên nên trong ODA luôn có một tỉ lệ
không hoàn lại nào đó. Theo quy định của DAC, tỉ lệ không hoàn lại hay thành tố ưu
đãi (grant element) phải >= 25% thì mới được coi là khoản vốn ODA.
- Có ràng buộc: các nước nhận viện trợ phải hội đủ một số điều kiện nhất định
mới được nhận tài trợ, điều kiện này tuỳ thuộc quy định của từng nhà tài trợ. Đó là các
điều kiện về chính trị hay về thương mại. Xu hướng ngày nay các ràng buộc về chính trị
giảm dần về hình thức và chủ yếu là các ràng buộc về thương mại, ví dụ: mua hàng của
nước cấp viện trợ, ưu tiên các nước đồng minh chính trị, trong đó hơn 1/4 viện trợ của
OECD đi kèm điều kiện phải mua hàng của nước tài trợ, thậm chí có những nước tỷ
4
trọng này rất cao như Tây Ban Nha (100%), Mỹ (71,6%), Canada (65%), nhưng cũng
có những nước tỷ lệ này rất thấp thậm chí = 0 như Nhật, Ai len, Bồ Đào Nha. Một số
nước tỉ lệ ràng buộc phải mua hàng của nước tài trợ rất thấp như Thụy Sỹ, Hà Lan… Ví
dụ việc cải tổ hệ thống ngân hàng Việt Nam do WB đứng ra tài trợ trong thời gian qua
kèm theo các điều kiện về điều chỉnh hệ thống lãi suất, hệ thống các ngân hàng, hệ
thống quản lý ngân hàng, quy trình hoạt động của ngân hàng theo quy chuẩn của WB...
Tuy nói rằng các ràng buộc về chính trị không còn xuất hiện nhưng thực chất là các
nước viện trợ nhờ vào ràng buộc kinh tế mà dẫn đến các ràng buộc chính trị.
Các nước giàu khi viện trợ ODA đều gắn với những lợi ích và chiến lược như
mở rộng thị trường, mở rộng hợp tác có lợi cho họ, đảm bảo mục tiêu về an ninh - quốc
phòng hoặc theo đuổi mục tiêu chính trị... Vì vậy, họ đều có chính sách riêng hướng vào
một số lĩnh vực mà họ quan tâm hay họ có lợi thế (những mục tiêu ưu tiên này thay đổi
cùng với tình hình phát triển kinh tế - chính trị - xã hội trong nước, khu vực và trên thế
giới).Ví dụ:
• Về kinh tế, nước tiếp nhận ODA phải chấp nhận dỡ bỏ dần hàng rào thuế
quan bảo hộ các ngành công nghiệp non trẻ và bảng thuế xuất nhập khẩu hàng hoá của
nước tài trợ. Nước tiếp nhận ODA cũng được yêu cầu từng bước mở cửa thị trường bảo
hộ cho những danh mục hàng hoá mới của nước tài trợ; yêu cầu có những ưu đãi đối
với các nhà đầu tư trực tiếp nước ngoài như cho phép họ đầu tư vào những lĩnh vực hạn
khoản viện trợ.
- Có nguy cơ để lại gánh nặng nợ nần cho các quốc gia nhận viện trợ do như
đã nói ở trên lĩnh vực đầu tư thường là những lĩnh vực không sinh lợi nhuận, các chủ
đầu tư không trực tiếp tham gia điều hành quản lý dự án nên hiệu quả sử dụng vốn
thường thấp. Vì thế khi nhận viện trợ dưới hình thức này thì chính phủ các nước nhận
viện trợ phải đề ra các mục tiêu phát triển kinh tế các khu vực được hưởng lợi từ hoạt
động ODA, để sau khi dự án đi vào hoạt động thì thu nhập từ các hoạt động kinh tế
khác mới có thể bù đắp chi phí cho hoạt động ODA và nhờ vào đó quốc gia ấy mới có
thể trả nợ được. Ví dụ: Châu Phi
Tác động của yếu tố tỷ giá hối đoái có thể làm cho giá trị vốn ODA phải hoàn lại
tăng lên.
Ngoài ra, tình trạng thất thoát, lãng phí; xây dựng chiến lược, quy hoạch thu hút
và sử dụng vốn ODA vào các lĩnh vực chưa hợp lý; trình độ quản lý thấp, thiếu kinh
6
nghiệm trong quá trình tiếp nhận cũng như xử lý, điều hành dự án… khiến cho hiệu quả
và chất lượng các công trình đầu tư bằng nguồn vốn này còn thấp... có thể đẩy nước
tiếp nhận ODA vào tình trạng nợ nần.
1.2 Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI – Foreign Direct Investment)
1.2.1. Khái niệm
* Khái niệm của IMF: FDI là một hoạt động đầu tư được thực hiện nhằm đạt
được những lợi ích lâu dài trong một doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ của một
nền kinh tế khác nền kinh tế nước chủ đầu tư, mục đích của chủ đầu tư là giành quyền
quản lý thực sự doanh nghiệp.
* Khái niệm của OECD: Đầu tư trực tiếp là hoạt động đầu tư được thực hiện
nhằm thiết lập các mối quan hệ kinh tế lâu dài với một doanh nghiệp đặc biệt là những
khoản đầu tư mang lại khả năng tạo ảnh hưởng đối với việc quản lý doanh nghiệp nói
trên bằng cách :
Thành lập hoặc mở rộng một doanh nghiệp hoặc một chi nhánh thuộc toàn
quyền quản lý của chủ đầu tư.
Mua lại toàn bộ doanh nghiệp đã có.
thường quy định không giống nhau về vấn đề này. Luật Mỹ quy định tỷ lệ này là 10%,
Pháp và Anh là 20%, theo Luật Đầu tư năm 2005 thì Việt nam không quy định vốn góp
tối thiểu của chủ đầu tư nước ngoài nữa, theo qui định của OECD (1996) thì tỷ lệ này là
10% các cổ phiếu thường hoặc quyền biểu quyết của doanh nghiệp - mức được công
nhận cho phép nhà đầu tư nước ngoài tham gia thực sự vào quản lý doanh nghiệp.
- Tỷ lệ đóng góp của các bên trong vốn điều lệ hoặc vốn pháp định sẽ quy
định quyền và nghĩa vụ của mỗi bên, đồng thời lợi nhuận và rủi ro cũng được phân
chia dựa vào tỷ lệ này. Theo Luật đầu tư nước ngoài của Việt Nam, trong doanh nghiệp
liên doanh, các bên chỉ định người của mình tham gia vào Hội đồng quản trị theo tỷ lệ
tương ứng với phần vốn góp vào vào vốn pháp định của liên doanh
1
. Ví dụ công ty liên
doanh phần mềm Việt –Nhật VIJASGATE có vốn điều lệ 500000USD, trong “điều lệ
doanh nghiệp” của công ty có ghi rõ: bên VN góp 200000USD tương đương 40%, bên
Nhật Bản góp 300.000USD tương đương 60%, quyền lợi và nghĩa vụ của các bên phân
chia theo tỷ lệ vốn góp, số người tham gia hội đồng quản trị cũng theo tỷ lệ 4/6. Trong
các trường hợp đặc biệt, quyền lợi và nghĩa vụ các bên không phân chia theo tỷ lệ vốn
góp và điều này được ghi rõ trong điều lệ doanh nghiệp, nó phụ thuộc vào ý chí của
1
8
các chủ đầu tư. Ví dụ vốn góp theo tỉ lệ 40/60 nhưng quyền lợi và nghĩa vụ theo tỷ lệ
50/50.
- Thu nhập mà chủ đầu tư thu được phụ thuộc vào kết quả kinh doanh của
doanh nghiệp mà họ bỏ vốn đầu tư, nó mang tính chất thu nhập kinh doanh chứ
không phải lợi tức.
- Chủ đầu tư tự quyết định đầu tư, quyết định sản xuất kinh doanh và tự chịu
trách nhiệm về lỗ lãi. Nhà đầu tư nước ngoài được quyền tự lựa chọn lĩnh vực đầu tư,
hình thức đầu tư, thị trường đầu tư, quy mô đầu tư cũng như công nghệ cho mình, do đó
sẽ tự đưa ra những quyết định có lợi nhất cho họ. Vì thế, hình thức này mang tính khả
thi và hiệu quả kinh tế cao, không có những ràng buộc về chính trị, không để lại gánh
.
1.3.2. Đặc điểm
- Số lượng chứng khoán mà các công ty nước ngoài được mua có thể bị
khống chế ở mức độ nhất định tuỳ theo từng loại chứng khoán và tuỳ theo từng
nước để nước nhận đầu tư kiểm soát khả năng chi phối doanh nghiệp của nhà đầu
tư chứng khoán.
Ở Việt nam, theo Quyết định số 238/2005 QĐ-TTg ban hành ngày 29/9/2005, tỉ
lệ nắm giữ tối đa cổ phiếu được niêm yết của bên nước ngoài là 49%, đối với trái phiếu
thì không giới hạn tỷ lệ nắm giữ đối với nhà đầu tư nước ngoài.
- Chủ đầu tư nước ngoài không nắm quyền kiểm soát hoạt động của tổ chức
phát hành chứng khoán; bên tiếp nhận đầu tư có quyền chủ động hoàn toàn trong
sản xuất kinh doanh. Đặc điểm này có thể suy ra từ đặc điểm trên, bởi vì chủ đầu tư
nước ngoài chỉ được nắm giữ một tỉ lệ chứng khoán tối đa nào đó mà thôi, tỉ lệ mà trên
mức đó thì hoạt động đầu tư của anh ta sẽ được coi là FDI tức là anh ta có quyền kiểm
soát hoạt động của tổ chức phát hành chứng khoán. Chúng ta cần phân biệt quyền kiểm
soát và quyền sở hữu. Hai quyền này khác nhau. Không phải lúc nào có quyền sở hữu
cũng đồng nghĩa với việc có quyền kiểm soát doanh nghiệp. Ví dụ khi mua cổ phiếu,
nhà đầu tư có quyền sở hữu doanh nghiệp tương ứng với số cổ phiếu xác nhận quyền
sở hữu mà anh ta đã mua, tuy nhiên anh ta có thể không có quyền kiểm soát doanh
nghiệp. Còn khi mua trái phiếu thì nhà đầu tư nước ngoài không có quyền cả về sở hữu
lẫn kiểm soát doanh nghiệp.
- Thu nhập của chủ đầu tư phụ thuộc vào loại chứng khoán mà nhà đầu tư
mua, có thể cố định hoặc không. Nếu nhà đầu tư mua trái phiếu thì sẽ được hưởng trái
2
10
tức cố định, tuy nhiên cũng có những loại trái phiếu một phần thu nhập cố định một
phần thay đổi theo kết quả sản xuất kinh doanh. Còn nếu mua cổ phiếu thì sẽ được
hưởng cổ tức tuỳ theo kết quả kinh doanh của doanh nghiệp và quyết định phân chia lợi
nhuận sau mỗi kỳ kinh doanh của hội đồng cổ đông.
- Nước tiếp nhận đầu tư không có khả năng, cơ hội tiếp thu công nghệ, kỹ
Chủ đầu tư là trái chủ (bond-
bearer)/chủ nợ của công ty
Thu nhập mà DN
phát hành trả cho nhà
ĐT
- Cổ tức (Divident): là lợi nhuận
công ty đợc chia tương ứng với phần
vốn góp.
=>Thu nhập không cố định*
-Trái tức (Interest): là lãi tương ứng
với phần vốn cho vay.
=>Thu nhập cố định
So sánh giữa chi phí
và thu nhập mà DN
trả cho nhà ĐT (đối
với 1 chứng khoán)
-Chi phí: giá thị trường (market
price)
(không phải mệnh giá-face value-
MG)
-Thu nhập:
Cổ tức = TNDN x (MG/TVĐT DN)
= MG x (TNDN/TVĐTDN)
= MG x ROI
DN
-Chi phí: giá thị trường (market
price)
(không phải mệnh giá-face value-
MG)
-Thu nhập:
1.4.1 ODA
- ODA là một nguồn vốn có vai trò quan trọng đối với các nước đang và chậm
phát triển
Đối với các nước đang phát triển khoản viện trợ và cho vay theo điều kiện ODA
là nguồn tài chính quan trọng. Nhiều nước đã tiếp thu một lượng vốn ODA khá lớn như
một bổ sung quan trọng cho phát triển.
Sau chiến tranh thế giới thứ II, nhiều nước ở Châu á đã tranh thủ được nguồn
vốn ODA từ các nước giàu. Trong giai đoạn đầu phát triển kinh tế, Đài Loan đã nhận
được viện trợ từ Hoa Kỳ tới 1,482 tỷ USD. Vốn viện trợ đã góp phần rất đáng kể trong
quá trình đi lên của Đài Loan. Năm 1945, ngay sau khi chiến tranh thế giới thứ II kết
thúc, Nhật Bản đã gặp rất nhiều khó khăn. Khi đó, Nhật Bản đã nhận được sự giúp đỡ
của Hoa Kỳ, các nước khác trên thế giới, Quỹ nhi đồng Liên Hợp Quốc (UNICEF) và
các tổ chức khác của Liên Hợp Quốc bằng thực phẩm, thuốc men, các dịch vụ y tế và
một số hình thức trợ giúp khác.
Theo báo cáo của WB, từ năm 1971 đến năm 1974, tại Philippin vốn chi phí cho
phát triển giao thông vận tải chiếm tới 50% tổng vốn dành cho xây dựng cơ bản và 60%
tổng vốn vay ODA được chi cho phát triển cơ sở hạ tầng.
Nhiều công trình hạ tầng kinh tế xã hội như sân bay, bến cảng, đường cao tốc,
trường học, bệnh viện, trung tâm nghiên cứu khoa học mang tầm cỡ quốc gia ở Thái
Lan, Singapore, Inđônêxia đã được xây dựng bằng nguồn vốn ODA của Nhật Bản, Hoa
13
Kỳ, WB, ADB và một số nhà tài trợ khác. Một số nước Nhật Bản, Hàn Quốc trước đây
cũng dựa vào nguồn ODA của Hoa Kỳ, WB, ADB để hiện đại hóa hệ thống giao thông
vận tải của mình.
- ODA giúp các nước nghèo tiếp thu những thành tựu khoa học, công nghệ
hiện đại và phát triển nguồn nhân lực
Những lợi ích quan trọng mà ODA mang lại cho các nước nhận tài trợ là công
nghệ, kỹ thuật hiện đại, kỹ xảo chuyên môn và trình độ quản lý tiên tiến. Các nhà tài trợ
còn ưu tiên đầu tư cho phát triển nguồn nhân lực vì họ tin tưởng rằng việc phát triển của
một quốc gia quan hệ mật thiết với việc phát triển nguồn nhân lực.
góp cho ngân sách nhà nước và tạo việc làm cho một bộ phận lao động.
Bên cạnh đó, FDI có vai trò trong chuyển giao công nghệ và các doanh
nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tạo sức ép buộc các doanh nghiệp trong
nước phải tự đổi mới công nghệ, nâng cao hiệu quả sản xuất. Các dự án
FDI cũng có tác động tích cực tới việc nâng cao năng lực quản lý và trình
độ của người lao động làm việc trong các dự án FDI, tạo ra kênh truyền
tác động tràn tích cực hữu hiệu.
1.4.2.2. FDI dối với dầu tư xã hội
VN tiến hành công cuộc đổi mới với xuất phát điểm rất thấp. Do vậy,
xét về nhu cầu vốn, FDI được coi là một nguồn vốn bổ sung quan trọng cho
vốn đầu tư trong nước, nhằm đáp nhu cầu đầu tư cho phát triển. Vốn đầu tư
của khu vực FDI chiếm khoảng 25% trong tổng đầu tư trong giai đoạn 1991-
1995 với mức cao nhất là 30,4% trong name 1995, bình quân 1991-1995 là 3.533
triệu USD; và khoảng 21% trong giai đoạn 1996-2000, bình quân 1996-2000 là
5.252 triệu USD; sau đó giảm còn 16% tính bình quân cho giai đoạn 2001-2005,
bình quân 2001-2005 là 4.144 triệu USD, và tăng lean 23,6% trong giai đoạn
2006-2008, bình quân 2006- 2008 là 7.876 triệu USD. Năm 2009, la 1208 dự án với
số vốn thực hiện là 10 tỷ USD.
Xu hướng trên của nguồn vốn FDI cho thấy mặc dù đóng vai trò là nguồn
vốn bổ sung quan trọng trong tổng đầu tư xã hội của VN, nhưng sự phát
triển nguồn vốn. FDI là thiếu ổn đònh theo các giai đoạn phát triển.
15
Có thể thấy đầu tư FDI vào Việt Nam trong nửa đầu năm 2010 là khá cao. Vốn tổng
vốn đầu tư trên 7.9 tỷ USD bao gồm khoảng 438 dự án. Trong đó trong năm 2010 này,
hà Lan là nhà đầu tư lớn nhất với chỉ 5 dự án nhưng tổng vốn đầu tư đã lên đến hơn 2.2
tỷ USD. Tiếp đó là hàn quốc với số vốn đầu tư 1.563 triệu USD.
1.5 Mặt trái của đầu tư quốc tế
1.5.1 Về phía nước nhập khẩu vốn đầu tư
1.5.1.1. ODA
Dù là nguồn vốn hỗ trợ chính thức (ODA) có điều kiện ưu đãi cao nhất, cho đến
lượng cần thiết theo kế hoạch định hướng sự phát triển kinh tế-xã hội của mình. Song,
trong lĩnh vực tưởng chừng toàn những điều tốt lành này, những tác động mặt trái của
FDI vẫn ẩn khuất đâu đó:
Thứ nhất, thực tiễn thế giới cho thấy, dòng vốn đầu tư này chỉ thực sự tích cực
và góp phần làm dịu lạm phát khi chúng làm tăng cung những hàng khan hiếm, tăng
nhập khẩu phụ tùng thiết bị sản xuất và công nghệ tiên tiến, từ đó làm tăng tiềm lực
xuất khẩu, khả năng cạnh tranh, cải thiện cán cân thanh toán, tăng thu ngân sách cho
nước chủ nhà và giúp hạn chế sức ép tăng tỷ giá tiền tệ thực tế. Ngược lại, nếu thiên về
khuynh hướng kích thích nền kinh tế bong bóng, kích thích và thoả mãn những tiêu
dùng cao cấp vượt quá khả năng kinh tế và sự tích luỹ cần thiết của nước tiếp nhận đầu
tư, thì về lâu dài, chúng sẽ có hại cho các nguồn lực tăng trưởng kinh tế, tăng nhập siêu
và làm mất cân đối tài khoản vãng lai, do đó làm tăng các xung lực lạm phát tương lai
của đất nước.
Thứ hai, nếu việc chuyển giao công nghệ (cả phần “cứng” lẫn phần “mềm”)
không được thực hiện đầy đủ, hoặc chỉ chuyển giao những công nghệ lạc hậu, thì mặc
nhiên “những lợi thế tương đối của nước bắt đầu muộn” sẽ bị tước bỏ – đó là một mặt.
Mặt khác, khi đó nước tiếp nhận không chỉ không cải thiện được tình trạng công nghệ,
khả năng xuất khẩu, mà còn phải chịu thêm gánh nặng nuôi dưỡng và dỡ bỏ những
công nghệ “bất cập” này theo kiểu “bỏ thì vương, thương thì tội”. Ngoài ra, còn phải kể
thêm tình trạng phụ thuộc một chiều vào đối tác nước ngoài về kinh tế – kỹ thuật của
nước tiếp nhận dòng đầu tư kiểu ấy gây ra. Do đó, hiệu quả tiếp nhận vốn đầu tư sẽ
không như mong đợi, hoặc không tương xứng với chi phí của nước chủ nhà bỏ ra, cả về
chi phí tài chính, nhân lực và môi trường, tức “một tiền gà, ba tiền thóc”.
Thứ ba, để hấp thụ được 1 USD đầu tư nước ngoài, theo tính toán của các
chuyên gia thế giới, nước tiếp nhận cũng phải có sự bỏ vốn đầu tư đối ứng từ 0,5 – 3
USD, thậm chí nhiều hơn. Thêm nữa, lượng ngoại tệ đổ vào trong nước sẽ làm tăng
lượng cung tiền tệ lẫn lượng cầu hàng hoá và dịch vụ tương ứng. “Hợp lực” của những
yếu tố đó sẽ tạo nên những xung lực lạm phát mới do tính chất “quá nóng” của tăng
trưởng kinh tế gây ra.
Thứ tư, cần tính đến tác động kinh tế-xã hội và môi trường tổng hợp của các dự
hoá thành nhà đầu tư trực tiếp. Thậm chí, về lô-gích, quá trình “diễn biến hoà bình” này
đạt tới quy mô và mức độ nào đó còn có thể làm chuyển đổi về chất quyền sở hữu và
tính chất kinh tế ban đầu của doanh nghiệp và quốc gia.
Tăng quy mô, tính chất và sự cấp thiết đấu tranh với tình trạng tội phạm kinh tế
quốc tế như: Hoạt động lừa đảo, hoạt động rửa tiền, hoạt động tiếp vốn cho các kinh
doanh phi pháp và hoạt động khủng bố, cùng các loại tội phạm và các đe doạ an ninh
phi truyền thống khác. Sự cộng hưởng của các hoạt động tội phạm và tác động mặt trái
của các dòng vốn kể trên, nhất là khi chúng diễn ra một cách “có tổ chức” của giới đầu
cơ hay lực lượng thù địch chính trị quốc tế, sẽ ít nhiều, trực tiếp hay gián tiếp, trước
mắt và lâu dài gây tổn hại tới hoạt động kinh tế lành mạnh và làm tăng tính dễ tổn
thương và có thể gây ra lạm phát cao của nền kinh tế nước tiếp nhận đầu tư trong bối
cảnh toàn cầu hoá hiện nay; Thậm chí trong một số trường hợp, chúng còn làm mất uy
tín nhà nước và gây sụp đổ một nội các chính phủ…
1.5.2. Về phía nước xuất khẩu vốn đầu tư
• Việc chuyển đổi ra nước ngoài ồ ạt làm cho cán cân thanh toán quốc gia bị giảm,
khả năng đầu tư cho phát triển kinh tế trong nước bị hạn chế.
• Vốn và tài sản từ hoạt động bất hợp pháp: tham nhũng, kinh doanh bất chính…
được chuyển ra nước ngoài đầu tư làm cho đất nước bị thấ thoát tài sản mà chính
phủ khó kiểm soát và thu hồi rất tốn kém.
• Chảy máu chất xám, sự mất vị thế độc quyền về công nghệ cũng có nguyên nhân
từ chuyển vốn và công nghệ ra nước ngoài để đầu tư.
• Tạo ra thị trường cạnh tranh với sản xuất và kinh doanh trong nước.
1.6 Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư của các nuớc và giải pháp rút ra cho Việt
Nam
1.6.1. Kinh nghiệm thu hút vốn đầu tư của các nuớc
1.6.1.1. Kinh nghiệm thu hút FDI
1.6.1.1.1 Kinh nghiệm thu hút FDI của Trung quốc
18
Trong các nước đang phát triển thì Trung Quốc là nước có môi trường đầu tư
hấp dẫn thứ hai sau Singapore. Theo con số thống kê của Bộ Mậu dịch đối ngoại và
khoán quản lý kinh doanh các xí nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài và các xí nghiệp
Trung Quốc tại các tỉnh miền tây và miền Trung.
-Cho phép các tỉnh, khu tự trị, thành phố trực thuộc tỉnh và khu vực tự trị của miền tây
và miền trung lựa chọn thành lập khu phát triển cấp nhà nước
- Nhà nước ưu tiên lựa chọn một số hạng mục về nông nghiệp, giao thông, năng lượng,
nguyên vật liệu để bảo vệ đầu tư nước ngoài vào các tình miền tây và miền Trung.
Đồng thời tăng cường sự hỗi trợ của chính phủ về vốn và các biện pháp khác đối với
các hạng mục trên.
Thứ ba: Chính sách chi viện về tài chính đối với các xí nghiệp đầu tư nước ngoài.
19
- Xí nghiệp đầu tư tại Trung Quốc có nhu cầu về vốn căn cứ theo quy định của pháp
luật được vay vốn của các ngân hàng tại Trung Quốc. Thời hạn, lãi suất và phí vay về
cơ bản áp dụng như các xí nghiệp của Trung Quốc
- Xí nghiệp nước ngoài khi muốn vay vốn tại Trung Quốc được các ngân hàng thương
mại của Trung Quốc bảo lãnh. Các khoản tiền vốn ngoại tệ của các đơn vị này có thể
dùng để thế chấp vay vốn.
- Cho phép xí nghiệp nước ngoài đầu tư dùng tài sản của họ ở hải ngoại để thế chấp vay
vốn tại các chi nhánh ngân hàng Trung Quốc ở nước ngoài.
- Các xí nghiệp nước ngoài ở Trung Quốc nếu có đủ tiêu chuẩn được xin phép phát
hành cổ phiếu.
- Căn cứ theo nguyên tắc chủ động và thoả đáng, Chính phủ Trung Quốc cung cấp sự
đảm bảo về rủi ro chính trị, bảo hiểm về thực hiện hợp đồng, bảo hiểm về bảo lãnh đối
với những hạng mục đầu tư trọng điểm trong các lĩnh vực năng lượng , giao thông mà
chính phủ khuyến khích đầu tư.
Thứ tư: Ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp nước
ngoài
Trung Quốc ban hành các văn bản pháp luật điều chỉnh hoạt động đầu tư nước ngoài
như: như Luật xí nghiệp chung vốn kinh doanh giữa Trung Quốc với nước ngoài của
nươc Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa. Điều lệ chi tiết thi hành Luật Xí nghiệp chung
vốn kinh doanh giữa Trung Quốc với nước ngoài: Luật xí nghiệp do nước ngoài đầu tư,
ngoại hối mà để cho thị trường này hoạt động tự do theo những quy luật của thị trường.
- Về quy định vay vốn, quản lý đất đai: Nhà đầu tư có thể huy động vốn qua phát hành
cổ phiếu, trái phiếu, vay tổ chức tài chính trong nước và nước ngoài.
- Thủ tục đầu tư: Các thủ tục này được thực hiện theo chế độ một cửa, đảm bảo giải
quyết nhanh gọn về các thủ tục cho nhà đầu tư.
- Về lĩnh vực đầu tư: Mở cửa hầu hết đối với các lĩnh vực kinh tế trừ lĩnh vực liên
quan đế an ninh quốc phòng và an toàn xã hội.
Như vậy, mỗi quốc gia đều có những chiến lược riêng trong việc thu hút vốn FDI của
các TNCs. Tuỳ từng điều kiện cụ thể và phương hướng chiến lược phát triển kinh tế của
mỗi nước mà các quốc gia này xây dựng cho mình những chính sách thu hút TNCs
riêng. Đối với Việt Nam, để thành công trong việc thu hút vốn FDI từ TNCs chúng ta
cũng nên học hỏi và tham khảo những chính sách của một số quốc gia đã rất thành công
trong việc thu hút FDI từ TNCs ở trên.
1.6.1.2 Kinh nghiệm thu hút FII (FPI)
Trung Quốc luôn giữ được mức tăng trưởng kinh tế cao trong nhiều thập niên trở lại
đây. Dù có những chính sách điều tiết vốn khá nghiêm ngặt nhưng giới đầu tư nước
ngoài vẫn rất quan tâm đến nền kinh tế này và xem ra chính sách điều tiết nghiêm ngặt
sự di chuyển của dòng vốn nước ngoài đã giúp Trung Quốc ổn định được các điều kiện
kinh tế vĩ mô và thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Qua xem xét quá trình thu hút FPI của
Trung Quốc, những thành công nổi bật là:
Thứ nhất, các giải pháp thu hút FPI mang tính đồng bộ, có lộ trình cụ thể, phù hợp với
từng giai đoạn lịch sử của Trung Quốc, kết hợp chặt chẽ với các biện pháp phát triển
kinh tế, hoàn thiện và phát triển TTCK, nâng cao khả năng quản lý của Chính phủ.
Thứ hai, Trung Quốc đã xác định chiến lược, mục tiêu, phương hướng thu hút vốn FPI
đúng đắn, phù hợp với đặc điểm nền kinh tế. Trung Quốc xác định rõ muốn thu hút FPI
có hiệu quả, trước hết phải cải thiện môi trường trong nước, dựa vào trong nước là
chính, khi TTCK phát triển, môi trường đầu tư tốt tất yếu vốn chảy vào; đồng thời
không ngừng nâng cao chất lượng hàng hoá trên TTCK Trung Quốc.
Thứ ba, Trung Quốc đã biết kết hợp thu hút FPI và quản lý dòng vốn này một cách hiệu
quả, không thu hút FPI với mọi giá. Khi thu hút FPI, Trung Quốc đã tính toán những
pháp kiểm soát vốn gián tiếp (kiểm soát dựa trên thị trường).
Việc Việt Nam gia nhập WTO và sự phát triển mạnh mẽ của TTCK trong nước những
năm qua là cam kết đầy hứa hẹn của dòng vốn FPI vào nước ta. Việc thu hút nguồn vốn
này có một ý nghĩa rất quan trọng trong sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất
nước trong những năm tới. Là quốc gia nước láng giềng có nhiều nét tương đồng về
điều kiện chính trị, văn hoá và thể chế kinh tế xã hội, Việt Nam và Trung Quốc có
những điểm tương đồng trong việc hình thành, quản lý và phát triển TTCK, đều đang
đứng trước những vấn đề liên quan đến việc hội nhập kinh tế quốc tế trong lĩnh vực tài
chính.
1.6.2 Giải pháp rút ra cho Việt Nam
1.6.2.1 ODA
Từ những kết quả đã đạt được và những yếu kém trong thu hút và sử dụng ODA, có
thể rút ra những bài học chủ yếu sau:
a. ODA là một nguồn lực bên ngoài có ý nghĩa quan trọng, song không thể thay thế
được nguồn lực trong nước ở cấp độ quốc gia cũng như trong phạm vi một lĩnh vực cụ
thể. Do vậy, cần phải coi ODA là một chất xúc tác một nguồn lực bổ sung cho quá trình
phát triển.
b. Để sử dụng có hiệu quả nguồn vốn ODA, cần gắn kết và lồng ghép một cách
đồng bộ chiến lược và kế hoạch thu hút và sử dụng ODA với các chiến lược phát triển,
22
các chính sách và quy hoạch phát triển ngành, vùng và quốc gia cũng như các kế hoạch
dài hạn và hàng năm bảo đảm sự chủ động của ta trong sử dụng ODA.
c. ODA nguồn hỗ trợ của Chính phủ, các Tổ chức quốc tế và liên Chính phủ dành
cho Chính phủ. Do vậy, Chính phủ nước tiếp nhận phải nhận trách nhiệm điều phối và
sử dụng ODA với nhận thức sâu sắc rằng nhân dân sẽ là người gánh chịu cái giá phải
trả cho sự thất bại nếu nguồn vốn ODA không được sử dụng có hiệu quả.
d. Cần nhận thức đúng đắn về ODA, coi ODA là nguồn lực bên ngoài có tính chất
bổ sung chứ không thay thế nguồn lực nội sinh đối với quá trình phát triển ở cấp độ
quốc gia, ngành, địa phương và đơn vị thụ hưởng. ODA không phải là "thứ cho không"
mà chủ yếu là vay nợ nước ngoài theo các điều kiện ưu đãi, gắn với uy tín và trách
Kinh nghiệm cho thấy, để tiến hành hoàn thiện hệ thống pháp luật tạo môi
trường
23
thuận lợi thu hút FDI cần nghiêm túc và nhất quán cải cách kinh tế theo hướng thị trường
nhiều hơn, vì quan hệ kinh tế thị trường là điều kiện cần thiết thúc đẩy nền kinh tế hội nhập
sâu rộng vào đời sống KTQT theo xu hướng tự do hóa thương mại, tự do hóa đầu tư. Từ đó,
chính sự nhất quán, ổn định và hiệu lực cao trong thực thi các cam kết quốc tế sẽ tạo uy tín và
môi trường mang tính cạnh tranh để tăng cường thu hút FDI của nước ta. Điều đó cũng có
nghĩa là, vai trò của nhà nước không chỉ đẩy nhanh tốc độ cải thiện môi trường đầu tư mà
còn chú ý định hướng chất lượng của môi trường đầu tư. Từ kinh nghiệm của Malaixia cho
thấy, để tiếp tục thúc đẩy thu hút FDI, nhà nước cần:
- Nhanh chóng ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện Luật Đầu tư năm 2005 và các luật
liên quan đến FDI. Thực tế, các doanh nghiệp FDI là do các nhà đầu tư nước ngoài ở các nước
có nền kinh tế phát triển, có quan hệ đối ngoại rộng lớn và có quan hệ hợp tác đa phương; họ
luôn phải quan tâm đến lợi ích của đồng vốn đầu tư bỏ ra ở nước ngoài, cho nên đòi hỏi về việc
hiểu biết và tuân thủ luật pháp quốc tế ở các nước sở tại là hết sức cần thiết. Đồng thời khi Việt
Nam đã trở thành thành viên của WTO, ảnh hưởng của một số thiết chế toàn cầu như vấn đề tự
do hóa thương mại và đầu tư đã trở thành một khuynh hướng không thể đảo ngược và có ảnh
hưởng trực tiếp đến chính sách và pháp luật về phát triển đầu tư đối với nước ta.
Đồng thời về môi trường pháp lý, cần tiếp tục thực hiện các chính sách ưu đãi đối với các
nhà đầu tư. Trong thời gian tới, để ưu đãi đầu tư có hiệu quả, về nguyên tắc nên tuân thủ các
yêu cầu sau: Sử dụng các ưu đãi một cách chọn lọc và thận trọng trong việc đưa ra các ưu đãi cụ
thể sát với điều kiện thực tế; ưu đãi phải được thực hiện đơn giản, dễ dàng; các ưu đãi phải được
ban hành rõ ràng, cụ thể và công bố công khai để tránh tình trạng áp dụng tùy tiện; những ưu
đãi đầu tư phải dựa trên cơ sở kết quả hoạt động của dự án đầu tư mà không dựa trên
kế
hoạch hay những đề xuất trong kế hoạch của các nhà đầu tư. Dựa trên các nguyên tắc chung
này, nhà nước cần có sự đổi mới chính sách ưu đãi trong hoạt động đầu tư ở nước ta hiện nay
như sau:
nên gây cản trở về thủ tục hành chính đối với các nhà đầu tư nước ngoài về vấn đề này.
Về giải quyết các tranh chấp trong thời gian tới cần nghiên cứu tiếp tục sửa đổi Luật
Khiếu nại, tố cáo theo hướng mở rộng quyền khiếu kiện của các nhà đầu tư nước ngoài ra
toà án, kể cả đối với quyết định hành chính hoặc hành vi hành chính của cơ quan nhà nước.
Ngoài ra, cần nghiên cứu để tham gia Công ước giải quyết tranh chấp giữa nhà đầu tư nước
ngoài với nước nhận đầu tư Công ước ISCID) nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của
nhà đầu tư nước ngoài.
1.6.2.2.2. Thu hút FDI cần gắn với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội chung
của đất nước
Thời gian qua, chủ trương đa dạng hóa các lĩnh vực, hình thức và đối tác đầu tư đã
25