LUẬT TỤC CỦA CÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM - Pdf 26

ĐẶT VẤN ĐỀ
Đối với một dân tộc, di sản văn hoá cổ truyền là một tài sản vô giá
mà văn hoá là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất và tình thần do con
người sáng tạo ra và tích luỹ qua qúa trình thực tiễn trong sự tương tác
giữa con ngươi với môi trường tự nhiên và xã hội. Qua quá trình tồn tại và
phát triển mỗi một cộng đường người đều để lại một di sản văn hoá lâu đời
được lưu truyền từ đời này sang đời kia, nó được khẳng định đứng vững rồi
trở thành văn hoá cổ truyền của một dân tộc. Trong vốn văn hoá cổ truyền
ấy có những di sản văn hoá vật thể như thành quách, lâu đài, đình đền, nhà
ở… có những di sản văn hoá phi vật thể như chuyện kể dân gian, ca dao,
phong tục tập quán, tập tục, hương ước, lễ hội…. Tuy nhiên giữa cái vật
thể và phi vật thể có sự gắn bó hữu cơ với nhau. Một ví dụ điển hình cho
sự gắn bó này đó là mối quan hệ giữa luật tục và môi trường sinh thái tự
nhiên. Sự tương tác ấy diễn ra ở hai phương diện bảo vệ và phát huy. Mà
bảo vệ và phát huy môi trường sinh thái tự nhiên đó là một hành động văn
hoá mang tính nhân văn để phát triển và tồn tại. Các Mác nói “Văn minh
nếu như nó phát triển một cách tự giác mà không được hướng dẫn một cách
tự giác thì sẽ để lại phía sau nó một hoang mạc”.

I. LUẬT TỤC CỦA CÁC DÂN TỘC Ở VIỆT NAM
1. Hình thức tồn tại của luật tục
Luật tục là một hình thức của tri thức bản địa, tri thức địa phương
được hình thành trong qúa trình lịch sử lâu dài qua kinh nghiệm ứng xử với
môi trường và xã hội đã được định hình dưới nhiều dạng thức khác nhau,
được truyền từ đời này sang đời khác qua trí nhớ, qua thực hành sản xuất
và thực hành xã hội. Nó hướng đến việc hướng dẫn, điều chỉnh và điều hoà
các quan hệ xã hội, quan hệ con người với môi trường thiên nhiên. Những
chuẩn mực ấy được cả cộng đồng thừa nhận và thực hiện tạo nên sự thống
nhất và cân bằng xã hội của mỗi cộng đồng.
Ở mỗi dân tộc có tên gọi luật tục riêng như hương ước của người
Việt, Hịt khỏng của người Thái, Phat Kdi người Ê đê,…

máy quản lý hành chính.
2. Quy định về các quan hệ xã hội: trong đó nổi lên các chuẩn mực:
trọng lão, trọng chức vị, trọng nam và trọng trưởng nam.
3. Quy ước về an ninh làng xã:
4. Quy ước về khuyến nông, khuyến học:
5. Quy ứơc về sưu thuế, lao dịch theo từng loại người trong làng xã.
Luật tục của người Thái và Chăm.
Luật tục Thái (Hịt khoỏng bản mường) tồn tại dưới hai dạng:
+ Luật Mường
+ Những tục lệ liên quan đến cưới xin, ma chay, cúng lễ v.v…
Nội dung của luật Mường đề cập tới các vấn để:
1- Lai lịch của Mường
2- Ranh giới Mường
3- Bộ máy quản lý Mường và quyền lợi của các chức dịch.
4- Nghĩa vụ và quyền lợi của người dân.
5- Việc cúng lễ, tế tự của bản mường
6- Các quy định thưởng phạt liên quan đến việc sở hữu, quan
hệ hôn nhân gia đình, đến việc xâm phạm đến thân thể, các phong tục tập
quán…

Luật tục Chăm (Adát) được bắt đầu từ hình thức truyền miệng, rồi
sau đó được văn bản hoá vào những thập kỷ giữa thế kỷ 19. Phần luật tục
Chăm về hôn nhân gia đình đề cập đến các vấn đề: điều kiện kết hôn, hôn
nhân và ly hôn, phân chia tài sản, quan hệ giữa cha mẹ và con cái, quyền
của người phụ nữ, quyền của người đàn ông…
c. Luật tục tồn tại dưới dạng các thực hành xã hội. Loại này phổ biến
ở hầu hết các tộc người rất khó phân biệt nó với phong tục và lệ tục cổ
truyền.
Dù tồn tại dưới hình thức nào thì hiện nay luật tục của các dân tộc
cũng đang đứng trước sự mai một phá hoại bởi thời gian và con người.

và sở hữu, tổ chức và các quan hệ xã hội, hôn nhân, gia đình, tín ngưỡng,
phong tục và lễ nghi… Đó là các chuẩn mực ứng xử đã được hình thành và
định hình trong qúa trình lịch sử lâu dài của tộc người được mọi người
chấp nhận và tự giác thực hiện như một thói quen, tập quán.
- Luật tục là di sản văn hoá tộc người: luật tục đặc biệt là luật tục
truyền miệng của các dân tộc ở Tây Nguyên là di sản văn hoá quý báu.
Trong mỗi bộ luật tục nó không chỉ chứa đựng những sắc thái văn hoá độc
đáo của mỗi tộc người khiến có người đã ví von nó như là “Bộ từ điển
Bách khoa sống của mỗi dân tộc” mà bản thân mỗi bộ luật tục đó thực sự
còn là một tác phẩm văn học dân gian truyền miệng có giá trị nội dung và
nghệ thuật.
- Luật tục là kho tàng tri thức dân gian phong phú. Đó là tri thức về
môi trường tự nhiên, về sản xuất nương rẫy, hái lượm, săn bát, đánh cá, tri
thức về xã hội và ứng xử giữa người với người, tri thức về đời sống văn
hoá, nghi lễ phong tục…
Trước hết luật tục là tri thức quản lý cộng đồng, làng buôn. Đó là sự
kết hợp giữa quản lý và tự quản lý, kết hợp giữa giáo dục và trừng phạt,
giữa ý thức cá nhân và dư luận xã hội, kết hợp giữa các nguyên tắc và tập

quan - một hình thức luật pháp sơ khai với các quan niệm về tâm linh, tín
ngưỡng để giải quyết các xung đột xã hội…
Luật tục còn chứa đựng những tri thức hết sức phong phú và đa dạng
về môi trường tự nhiên và việc quản lý khai thác các nguồn tài nguyên
thiên nhiên. Đó là việc xác định các quan hệ sở hữu của cộng đồng và cá
nhân đối với các nguồn tài nguyên đất, rừng, nước, lâm nghiệp, thổ sản…
Việc “thiêng hoá” tự nhiên để bảo vệ tự nhiên, việc đặt con người trong sự
tương tác bình đẳng hoà đồng với thiên nhiên.

II. LUẬT TỤC VÀ VIỆC QUẢN LÝ, KHAI THÁC TÀI
NGUYÊN THIÊN NHIÊN


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status