VỀ BỐI CẢNH LỊCH SỬ, XÃ HỘI CỦA PHONG TRÀO THỨC TỈNH
DÂN TÉC TRUNG HOA - PHONG TRÀO NGÒ TỨ
PGS. Nguyễn Văn Hồng
Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn
Đại học Quốc gia Hà Nội
Phong trào Ngò tứ (ngày 4 tháng 5 năm 1919) đã đi vào lịch sử như một sự
kiện đánh dấu bước ngoặt của lịch sử Trung Quốc. Đó là sự kiện đánh dấu độ
chín của một giai đoạn phát triển về tư tưởng của cách mạng Trung Quốc. Có
lẽ chính vì vậy mà có nhiều sử gia, nhà chính trị Trung Quốc đã xem phong
trào này như mốc mở đầu của giai đoạn lịch sử hiện đại.
Phong trào Ngò tứ nổ ra ở Bắc Kinh và sau lan toả ra hầu khắp Trung
Quốc, là kết quả phát triển của quá trình đấu tranh của nhân dân Trung Quốc
qua những chặng dường cứu nước bị thất bại. Nhân dân Trung Quốc trước sự
xỉ nhục của dân téc, trước sự xâu xé, bắt nạt của chủ nghĩa đế quốc đã đứng lên
đấu tranh.
Nhìn vào thời gian bùng nổ từ ngày 4 tháng 5 năm 1919 đến ngày 28 tháng
6, trước sức đấu tranh của phong trào yêu nước chống đế quốc phong kiến của
quần chúng nhân dân, học sinh sinh viên, đoàn sứ của Trung Quốc đã buộc
không kí tên vào Hoà ước Paris, ta thấy rõ sự giác ngộ về sức mạnh dân téc,
tinh thần đoàn kết đấu tranh của dân téc Trung Hoa đã bước sang mét giai đoạn
mới.
1. Quân phiệt và đế quốc thống trị và nhiệm vụ lịch sử chống đế quốc
phong kiến
Như ta biết, cuộc cách mạng Tân Hợi năm 1911 đã đánh đổ vương triều
Mãn Thanh, nhưng thành quả cách mạng đã bị Viên Thế Khải và bọn quân
phiệt Bắc Dương cướp mất. Các chiến sĩ cách mạng cộng hoà bị sát hại, Tôn
Trung Sơn bị đánh đuổi. Viên Thế Khải âm mưu khôi phục chế độ phong kiến,
lên ngôi vương vị. Năm 1916, Viên Thế Khải chết. Trung Quốc thành một
1
nước do nhiều thế lực quân phiệt cát cứ. Ta có thể thấy những thế lực chia cắt
Trung Quốc như sau:
chính là thời kỳ các nước đế quèc đua nhau phát triển công nghiệp với tốc độ
nhanh; chúng tăng cường khai thác. Những ngành công nghiệp khai thác quặng
sắt, quặng than, ngành dệt, xây dựng đường sắt không chỉ tăng nhanh việc phát
triển nhanh chóng nền công nghiệp mà còn tạo nên một đội ngò công nhân
đông đảo. Trước chiến tranh thế giới lần thứ nhất, công nhân công nghiệp có
khoảng chõng 60 vạn; Đến thời kỳ đại chiến nhanh chóng tăng tới 200 vạn
(2)
.
Điều đặc biệt là tầng líp công nhân này đều tập trung ở các thành phố và bị
bóc lột nặng nề. Giai cấp công nhân có sự gắn bó với nông thôn và dân tộc nên
lòng yêu nước như nằm sẵn trong tiềm thức. Mặc dù các phong trào đấu tranh
của giai cấp công nhân còn ở giai đoạn tự thân, đều vì quyền lợi kinh tế nhưng
dễ dàng và rất nhạy cảm với các cuộc đấu tranh yêu nước.
Chính những tiền đề điều kiện này làm cho giai cấp công nhân Trung Quốc
nhanh chóng bước lên con đường tự giác.
3. Trí thức, học sinh, sinh viên với ý thức dân téc
Phong trào Duy tân 1898 thất bại nhưng những tư tưởng Duy tân về cải
cách học phong và giáo dục như ngọn gió mới trong việc tiếp thu những tư
tưởng khoa học kỹ thuật và tư tưởng triết học tự do phương Tây. Trường Đại
học Bắc Kinh được thành lập năm 1898 trở thành cái nôi ươm mầm nuôi
dưỡng nhiều tư tưởng mới của những nhà hoạt động khai sáng và tuyên truyền
đấu tranh cho học thuật đấu tranh của thời đại. Phong trào cải cách giáo dục,
thành lập các trường học cơ sở đã tạo nên đội ngò học sinh từ tiểu học đến
trung học đông đảo. Năm 1915, ở Trung Quốc đã có tới 444 trường trung học,
66.7000 học sinh và có tới 84 trường cao đẳng với 19.800 học sinh sinh viên
(3)
.
Thế kỷ XX, do nhu cầu kinh tế - xã hội, việc đào tạo lực lượng trí thức ngày
càng đông đảo, và số lưu học sinh đi du học ở nước ngoài tiếp thu văn hoá
3
Thời kỳ này, đối diện với phong trào văn hoá mới là việc Viên Thế Khải
muốn làm vua, khôi phục lại chế độ phong kiến. Những tư tưởng lập lại trật tù
phong kiến trong xã hội, khôi phục lại Khổng Nho với khuôn đạo đức bảo thủ
cũ trỗi dậy. Vì vậy, khẩu hiệu của phong trào văn hoá mới là phá bỏ "Quán
Khổng gia" (Khổng gia điếm)
(4)
.
Những nhà văn hoá mới như Trần Độc Tó, Lý Đại Chiêu, Lỗ Tấn, Dị Bạch
Sa, Ngô Ngu đã bóc trần những tệ hại của Nho giáo, phê phán lễ giáo phong
kiến là lễ giáo làm cho con người mất độc lập tự chủ và nhân cách. Đặc biệt,
những nhà văn hoá mới phê phán quan niệm Trung, Hiếu, Tiết cổ hủ tạo nên
nhân cách nô lệ và là trở ngại cho Trung Quốc thức tỉnh. Mòi nhọn đấu tranh
nhằm vào việc mở rộng dân chủ, nhằm tạo nên một không khí tự do sáng tạo,
tù do nhận thức, dọn lối phong quang cho Trung Quốc đi tới.
Lý Đại Chiêu chống lại Khổng giáo cổ hủ và tư tưởng khôi phục chuyên
chế. Quan điểm tiến bộ nhân văn của ông chứng minh luận thuyết: xã hội biến
đổi, đạo đức cũng phải biến đổi theo. Sự khác biệt của xã hội hôm nay khắc
làm cho đạo đức tự phải khác. Những nhà văn hoá đã tuyên bố một cách động
trời là "nếu phải tội danh là chống lại phép tắc, xoá bỏ thánh hiền cũng không
có gì phải sợ"
(5)
.
Trần Độc Tó thì quyết liệt vạch trần sự mê tín mù quáng, xem Nho giáo là
quốc giáo.
Báo Thanh niên mới (Tạp chí Thanh niên đổi tên năm 1916) luôn có
chuyên đề đề cập đến vấn đề giải phóng phô nữ, nâng cao địa vị phụ nữ, quyền
bình đẳng nam nữ, tự do hôn nhân, phụ nữ về có quyền tù do chọn nghề nghiệp
trong xã hội.
Về mặt khoa học, phong trào văn hoá mới chú trọng giới thiệu cuộc đời và
công lao cống hiến của các nhà khoa học trên thế giới. Các nhà văn hoá mới
Phong trào văn hoá mới với ý nghĩa lịch sử đã mở đường cho những luồng
tư tưởng mới tràn vào Trung Quốc, tạo nên một cuộc tranh luận sôi nổi, đánh
những đòn chí mạng vào tư tưởng phong kiến bảo thủ, trì trệ, phản động. Nó
thức dậy tinh thần dân téc, hướng tới cái mới để tiến vào xã hội văn minh. Nó
đánh mạnh vào chủ nghĩa quân phiệt chia cắt lỗi thời tàn bạo, áp bức dân téc
và đầu hàng đế quốc. Nhưng có lẽ cái lớn lao hơn và có ý nghĩa lâu dài căn bản
là nó dọn đường cho tư tưởng Mác - Lênin vào Trung Quèc, chiếm lĩnh trận
địa tư tưởng rồi trở thành tư tưởng chỉ đạo phong trào công nhân từ tự phát đến
tự giác và khẳng định thành tư tưởng chỉ đạo cách mạng dân téc dân chủ Trung
Quốc.
Giai đoạn này cũng là giai đoạn các nhà cách mạng Trung Quốc về nhận
thức, đấu tranh những tư tưởng, đã có sự tiếp thu rất nhiều các tư tưởng tự do
tư sản, tiểu tư sản, tư tưởng tự do Âu - Mỹ. ChÝnh Mao Trạch Đông cũng thừa
nhận thời kỳ đầu đến Bắc Kinh trước năm 1917 ông vẫn đang là một người
chưa giác ngộ chủ nghĩa Mác. Trong đoạn trao đổi với Ðtga Nâu (Edgar Snow)
năm 1937, Mao đã nói rõ vÒ mình thêi kỳ Êy: Đến Bắc Kinh làm việc ở đại
học Bắc Kinh "Tôi đối với chính trị ngày càng cảm thấy quan tâm thích thó,
đầu óc ngày càng cấp tiến. Tôi đã nói với ông về bối cảnh đó. Nhưng lúc bấy
giê tôi còn mơ hồ, nếu theo cách nói của tôi thì là tôi đang tìm đường. Tôi đọc
một số sách của chủ nghĩa vô chính phủ, rất chịu ảnh hưởng! Tôi thường thảo
luận với một sinh viên Bắc Đại tên là Chu Khiêm Chi về chủ nghĩa vô chính
phủ và khả năng của nó ở Trung Quốc. Lóc bấy giê, tôi tán thành nhiều chủ
trương của chủ nghĩa vô chính phủ"
(6)
.
Những dòng trên cho ta hiểu rõ những tác động lớn lao của thực tiễn xã hội
và tư chất con người có khả năng làm cho con người trưởng thành, thuần thục.
Các nhà sáng lập Đảng Cộng sản Trung Quốc trong đó có Mao Trạch Đông đã
tự tắm mình trong phong trào dân téc, nhận ngọn giã tư tưởng thời đại, rèn
luyện, nhận thức, trưởng thành và đóng góp những phần mình vào sự phát triển
8
Cuộc cách mạng tháng Mười Nga như một nhân tố thời đại, nó cổ vũ các
phong trào đấu tranh dân téc ở Trung Quốc. Tin tưởng ở tương lai và cái quý
nhất là cách mạng tháng Mười Nga đã giúp Trung Quốc trả lời con đường đi
tới thắng lợi của cách mạng Trung Quốc. Những trí thức tiên tiến cã cảm tình
với chủ nghĩa Mác - Lênin đã có được một ví dụ đích thực, mét tấm gương,
một sức mạnh để tạo lực.
Những trí thức tiên tiến thấy rằng ở cuộc cách mạng này những người lao
động đã có một vũ khí mạnh, có hiệu quả giúp mình tìm được con đường cứu
dân téc.
Như ta biết các cuộc đấu tranh của Trung Quốc từ 1840 đều lần lượt thất
bại. Ngay cả cuộc cách mạng Tân Hợi tuy đã làm được sứ mạng lớn lao của
lịch sử là đánh đổ chế độ phong kiến cũng không thay đổi được tính chất xã
hội và thân phận phụ thuộc của đất nước Trung Hoa. Chính vì lý do đó, ta thấy
các nhà tư tưởng cách mạng tiên tiến và nhân dân Trung Quốc đã vui mừng
chào đón cuộc cách mạng tháng Mười Nga.
Cách mạng tháng Mười Nga trên thực tế đã lay động ảnh hưởng lớn đến
Trung Quốc bằng những tác động tinh thần và thực tiễn.
Nã mang đến cho nhân dân Trung Quốc nhận thức về sức mạnh của quần
chúng lao động. Lý Đại Chiêu nói: "Muốn cải tạo triệt để xã hội không thể
không đoàn kết giữa trí thức và tầng líp lao động"
(7)
. Tầng líp thanh niên trí
thức về nông thôn, xưởng máy tuyên truyền tổ chức cách mạng. Cuộc cách
mạng tháng Mười đã có tác động thay đổi cách nhìn của tầng líp trí thức về sức
mạnh quần chúng. Trần Độc Tó vốn là người coi thường nhân dân lao động
cũng kêu gọi nhân dân đứng lên chống quân phiệt, quan lại, chống chiến
tranh
(8)
.
Phong trào Ngò tứ nổ ra do ngòi lửa trực tiếp là cuộc đấu tranh chống chủ
nghĩa quân phiệt đầu hàng đế quốc ký tên vào Hiệp ước Paris xỉ nhục. Nhưng
thực ra, đó là kết quả của tiền đề kinh tế - xã hội, văn hoá dẫn tới con đường
10
thức tỉnh mới của cách mạng dân téc Trung Hoa. Đó là kết quả của phong trào
công nhân đã lớn mạnh, là kết quả của ảnh hưởng cách mạng tháng Mười Nga,
là kết quả của phong trào văn hoá mới đấu tranh chống quân phiệt, chống văn
hoá bảo thủ lạc hậu, hướng tới thức tỉnh để ngé ra con đường đi tới thắng lợi,
đó là kết quả của phong trào trí thức học sinh sinh viên đã đi đầu đốt lên ngọn
lửa đấu tranh vì danh dự và quyền lợi dân téc. Đó chính là kết quả của dân téc
Trung Hoa đã và đang thức tỉnh bước vào cuộc đấu tranh quyết liệt để giành
lấy độc lập, quyền sống, danh dự và bình đẳng.
Chóng ta biết sau phong trào Ngò tứ không lâu, ngày 1 tháng 7 năm 1921,
Đảng Cộng sản Trung Quốc đã ra đời và từ đó, dưới ngọn cờ của Đảng Cộng
sản, nhân dân Trung Quốc đã chiến đấu anh dũng, lội qua bao chặng đường
gian khổ, cuối cùng giành thắng lợi vinh quang.
Tinh thần dân téc cách mạng của phong trào Ngò tứ sau 85 năm vẫn còn để
lại bao bài học lịch sử có ý nghĩa cho nhân dân Trung Quốc hôm nay bước vào
thời kỳ phát triển phấn đấu vì mét nước Trung Hoa giàu mạnh.
Chú thích:
(1). Vương Khôi Lâm, Quách Đại Quân: Lịch sử hiện đại Trung Quốc, (tiếng
Trung), NXB Giáo dục đại học, 2003, tr. 9. Tham khảo: Thọ Cần Trạch: Sự
kiện lớn 100 năm, Chiết Giang, 1999, phần 2.
(2), (3). Vương Văn Tuyền, Triệu Trình Nguyên: Lịch sử hiện đại Trung
Quốc, (tiếng Trung), 1919 - 1949, Trường Đại học mỏ xuất bản, 1988, tr. 4-
15.
(4). Trần Độc Tó: Phê phán thư KHang Hữu Vi gửi Tổng thống và thủ tướng,
"Thanh niên mới", quyển 2 sè 2 tháng 10 năm 1916, dẫn theo Vương Văn
Tuyền, sđd, tr. 10.
(5). Lý Đại Chiêu: Khổng tử và hiến pháp, Giáp Dần nhật san, 30/11/1917, dẫn