luận án tiến sĩ Xác định hệ thống khái niệm trong nội dung sách giáo khoa Địa lý 11 (Chương trình Địa lý THPT nước cộng hoà dân chủ nhân dân Lào). - Pdf 26

PHẦN MỞ ĐẦU
I. LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Nước cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào đang bước vào thời kỳ công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, cùng với sự thay đổi mạnh mẽ các ngành nghề thì
việc đổi mới giáo dục là công tác được quan tõm hàng đầu. Sự phát triển của
nền kinh tế tri thức đòi hỏi người lao động phải có trình độ khoa học kĩ thuật
tương xứng với yêu cầu của công việc và thích ứng nhanh chóng đối với sự
chuyển đổi ngành nghề. Để đáp ứng theo yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại
hoá đất nước, nhiệm vụ của ngành Giỏo dục hiện nay là phải nâng cao chất
lượng giáo dục và đào tạo nguồn lực con người, đào tạo ra lớp người năng
động, sáng tạo, có khả năng lĩnh hội và vận dụng cái mới, đủ sức giải quyết
vấn đề trong cuộc sống. Nền giáo dục không chỉ dừng lại ở chỗ trang bị cho
học sinh những kiến thức, công nghệ mà nhân loại đó tớch luỹ được, còn
phải bồi dưỡng cho họ tính năng động của cá nhân, có tư duy sáng tạo và
năng lực thực hành giỏi.
Giáo dục – Đào tạo (GD-ĐT) có vai trò quan trọng trong việc bồi
dưỡng và phát huy nguồn lực con người - yếu tố cơ bản để phát triển xã hội
và tăng trưởng kinh tế nhanh chóng và bền vững. Để thực hiện được nhiệm
vụ đó, giáo dục cần phải có sự đổi mới toàn diện; Do đó phương pháp dạy
học (PPDH) cũng cần phải được thay đổi căn bản. PPDH trước đây không
phù hợp với trình độ tri thức hiện nay, cho nờn PPDH phải đổi mới theo
hướng nâng cao tính tích cực, tự lực, sáng tạo của học sinh. Tuy nhiên hiện
nay PPDH các bộ môn khoa học xã hội nói chung và bộ môn Địa lý nói riêng
ở trường THPT của Lào vẫn mang tính chất thông bỏo, tỏi hiện…Học sinh
không được tạo điều kiện để bồi dưỡng các phương pháp nhận thức, rèn
luyện tư duy khoa học, phát triển năng lực và giải quyết vấn đề.
1
Nghị quyết lần thứ IV của Ban chấp hành Trung ương (BCHTW)
Đảng Nhõn Dân cách mạng Lào (khoá VII năm 2002) đã nhấn mạnh và coi
trọng sự nghiệp giáo dục, làm cho giáo dục đi trước những sự nghiệp khác
một bước và đã định hướng chiến lược phát triển GD - ĐT trong thời kỳ tiến

Các khái niệm là hạt nhân của kiến thức (ở đây là kiến thức Địa lý và
đi kèm theo nó là các kỹ năng tương ứng), chúng tạo thành hệ thống khái
niệm Địa lý kinh tế và có mối liên quan với nhau. Đặc điểm của phương
pháp hình thành hệ thống khái niệm trong nội dung sách giáo khoa là giáo
viên phải biết tổ chức và hướng dẫn học sinh hoạt động tích cực để tự mình
chiếm lĩnh lấy các khái niệm.
Hoạt động này dựa trên nhiều nguồn thông tin khắc nhau (như sách
giáo khoa, các bản đồ, các lược đồ các bảng số liệu thống kê, các biểu đồ,
tranh ảnh ). Từ đó giáo viên xác định được các kiến thức và kỹ năng cơ bản
trong bài giảng, xác định được các phương pháp và hình thức dạy học trong
một thời gia cho phép.
II. MỤC ĐÍCH - NHIỆM VỤ - GIỚI HẠN CỦA ĐỀ TÀI
1. Mục đích của đề tài.
Trên cơ sở xác địch được các khái niệm và hệ thống khái niệm, của
từng bài của toàn bộ chương trình Địa lý lớp 11 THPT, vận dụng các phương
pháp dạy học tích cực trong việc dạy học các khái niệm, nhằm giúp cho giáo
viên giảng dạy và giúp cho học sinh tự học có hiệu quả, góp phần nâng cao
chất lượng dạy và học môn Địa lý ở trong các trường THPT hiện nay.
2. Nhiệm vụ của đề tài
` - Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn của việc xác định khái niệm,
hệ thống khái niệm và quá trình hình thành khái niệm nói chung và khái
niệm địa lý nói riêng.
3
- Xỏc định được các khái niệm và hệ thống khái niệm ở từng bài học
và toàn bộ chương trình Địa lý lớp 11 THPT.
- Vận dụng các phương pháp dạy học tích cực theo tinh thần đổi mới
phương pháp dạy học để hình thành các khái niệm trong chương trình Địa lý
lớp 11 THPT.
- Tiến hành thực nghiệm để kiểm chứng tính khả thi đề tài nghiên cứu.
3. Giới hạn của đề tài

khái niệm) và kỹ năng, kỹ xảo tương ứng với nó trong một thời gian nhất
định”. [2]
Các nhà Địa lý trên thế giới cũng nói đến các khái niệm về Địa lý như
N.N.Baranxki, I.U.R. Saouchkin…ở Việt Nam, nhiều nhà khoa học cũng
thấy được tầm quan trọng của hệ thống khái niệm và việc hình thành khái
niệm như: Nguyễn Dược, Mai Xuõn San, Nguyễn Ngọc Quang, Giang Tiến,
Nguyễn Trọng Phỳc, Lê Đức Hải, Nguyễn Đức Vũ… và đã có nhiều công
trình, sách báo đề cập đến vấn đề khái niệm Địa lý cũng như việc hình thành
khái niệm Địa lý.
GS nguyễn Dược, PGS – TS Nguyễn Trọng Phúc với giáo trình “Lý
luận dạy học Địa lý kinh tế - xã hội” coi như khái niệm là kiến thức lý thuyết
quan trọng và cơ bản của các tri thức Địa lý trong trường phổ thông.
GS Nguyễn Dược còn chỉ rõ: ở trong một số bài giáo viên cần dạy cho
học sinh một số khái niệm chính và khái niệm phụ.
TS Nguyễn Giang Tiến với công trình nghiên cứu “xõy dựng hệ thống
khái niệm và phương pháp hình thành khái niệm trong giáo trình Địa lý kinh
tế các nước lớp 10, lớp 11 PTTH” (1985)
Qua việc tìm hiểu trên, chúng ta thấy việc xác định khái niệm, hệ
thống khái niệm trong nội dung sách giáo khoa cũng như trong dạy học Địa
5
lý ở các trường Trung học phổ thông được các nhà khoa học các giáo viên
đặc biệt quan tâm. Nhưng việc hình thành khái niệm và hệ thống khái niệm
cho học sinh theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học (theo hướng dạy
học tích cực) trong chương trình Địa lý kinh tế - xã hội Lào - lớp 11THPT
(Những vấn đề Địa lý kinh tế - xã hội Lào) vẫn còn là một đề tài cần được
nghiên cứu nhiều hơn nữa.
IV. PHƯƠNG PHÁP NGHIấN CỨU
1. Phương pháp lý thuyết
Trong quá trình nghiên cứu đề tài, chúng tụi đã nghiên cứu các tài liệu
có liên quan đến đề tài, bao gồm tài liệu về Triết học, Lụgớc học, Tâm lý

7
PHẦN NỘI DUNG
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC
XÁC ĐỊNH KHÁI NIỆM
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Nhận thức về khái niệm và khái niệm địa lý
1- Nhận thức về khái niệm
a- Theo quan điểm triết học
Như chúng ta đều biết tri thức của tất cả cỏc môn khoa học đều cú cỏc
khái niệm. Vậy khái niệm là gì? Theo nhận thức lý tính hoặc lụgớc - trừu
tượng thì khái niệm là ý nghĩa phản ánh những thuộc tính cơ bản chung nhất
của các sự vật, hiện tượng và quỏ trình trong thế giới hiện thực. Muốn biết
được bản chất của các đối tượng và hiện tượng, các quy luật của tự nhiên và
xã hội con người phải tiến hành hoạt động tư duy phức tạp như: so sánh,
phân tích, tổng hợp, trừu tượng hoỏ, khỏi quỏt hoỏ. Chớnh trờn cơ sở của
những thao tác lụgớc ấy mà khái niệm được hình thành.
Như Lờnin đã nói: “khỏi niệm là sản phẩm cao nhất của bộ bão, là sản
phẩm cao nhất của vật chất”
(Lờnin toàn lập. Tập 29 NXBST trang 149 – [9])
“Khỏi niệm là hình thức của tư duy trong đó phản ánh các dấu hiệu cơ bản
khác biệt của một sự vật đơn nhật hay lớp các sự vật đồng nhất. trong khái
niệm, thứ nhất, bản chất của sự vật được phản ánh; thứ hai, sư vật hay lớp sự
vật nổi bật trên cơ sở của các dấu hiệu cơ bản khác biệt” [7- trang 25, 26]
Như vậy tầm quan trọng của khái niệm thể hiện trước hết nó được
hình thành thông qua tư duy của con người, hình thức tư duy này không chỉ
là cơ bản mà còn là hình thức tư duy cao nhất. Cũng cần thấy rằng tư duy
8
được thực hiện thông qua phán đoán, nhờ đó mà có quy luật được phát hiện
thì rõ ràng các quan hệ cơ bản, các đặc tính bản chất của các hiện tượng và

- Tớnh chúng: Khái niệm là kết quả của quá trình nhận thức đi từ cái
đơn nhất đến cái bổ biến, từ cỏi riờng đến cái chung bằng con đường khái
quát hoá. Đơn nhất là nói tới những dấu hiệu, tuộc tính chỉ có ở một sự vật,
hiện tượng xác định. phổ biến là nói tới những dấu hiệu, thuộc tính có ở
nhiều sự vật, hiện tượng.
Sự tổng hoà các dấu hiệu, thuộc tính chúng của một nhóm sự vật, hiện
tượng cùng loài tạo thành nội dung của khái niệm.
- Tính bản chất: Trong các dấu hiệu và thuộc tính chung người ta
phân biệt một cách rõ ràng loại sự vật, hiện tượng khác. Cần lưu ý rằng cái
bản chất bao giời cũng là cái chung, nhưng không phải cái chung nào cũng là
cái bản chất.
- Tính phát triển: Khái niệm không chỉ là công cụ tư duy mà còn là
kết quả của quá trình tư duy. khái niệm không chỉ là điểm xuất phát trong sự
vận động của nhận thức mà còn là sự tổng kết của quá trình vận động đó.
Nhận thức khoa học càng phát triển thỡ cỏc khái niệm khoa học có nội dung
ngày càng đổi mới, càng tiếp cận với bản chất của sự vật, hiện tượng, do đó
khái niệm được chỉ lý và đến mức nào đó thì phải sinh ra khái niệm mới.
b- Theo lụgớc học
Trong lụgớc hình thức thuật ngữ “khỏi niệm” có ý nghĩa:
- Một là, khái niệm là một hình thức tư duy. Giống như phán đoán, suy
luận hay chứng minh … khái niệm tham gia vào quá trình nhận thức thế gới
gọi là tư duy khái niệm.
- Hai là, khái niệm là tri thức về đối tượng, là kết quả nhận thức của
con người về các sự vật, hiện tượng của thế giới. Nhờ có hệ thống khái niệm
mà con người có thể ngày càng đi sâu nghiên cứu tìm hiểu thế giới.
10
Trong nghiên cứu khoa học mỗi khái niệm luôn gắn liền với một sự
vật, hiện tượng cụ thể nào đó. Để tình hình khái niệm, người ta phải nghiên
cứu phân tích đối tượng, tìm ra những dấu hiệu bản chất, đặc thù của đối
tượng đề phân biệt được các đối tượng với nhau. Khi nắm vững bản chất của

GS.TS. Hồ Ngọc Đại: P. Ja. Ganperin vào cuối những năm 40 đã được đầu
nghiên cứu “cỏc bước hình thành hoạt động trí óc và khái niệm”, nhưng năm
1953 mới công bố lần đầu ở một hội nghị các nhà tâm lý học.[2]
Theo Lê Văn Hồng – Lê Ngọc La - Nguyễn Văn Thàng đã mô tả khái
niệm theo thuyết hoạt động là:
Khái niệm là một năng lực thực tiễn kết tinh lại và “gửi” vào đối
tượng. Như vậy, nguồn gốc xuất phát của khái niệm là ở sự vật, hiện tượng.
Từ khi phát hiện ra nú thỡ khái niệm cú thờm một chỗ ở thứ hai là trong tâm
lý, tinh thần của con người. Để tiện lưu trữ và trao đổi, người ta dùng ngôn
ngữ “gọi gộm” nội dung khái niệm lại. Sự “goi gộm” này có thể bằng một từ
để đặt tên cho nó (gọi là thuật ngữ), hoặc một câu (hay vai câu) (gọi là địch
nghĩa). Khái niệm không phải là cái có thể nhìn thấy, đọc lên được. bất kỳ ai
nguốn có một khái niệm nào thì phải thâm nhập vào đối tượng (bằng cách
thực hiện một hành động với nó) để làm lộ ra lụgớc tồn tại của nó là “lấy lại”
khái niệm là loài người đã “gữi gắm” vào đối tượng. Cách “lấy lại” đó không
có cách nào khác là phải lập lại đúng chuỗi thao tác mà trước đấy loài người
đã phải hiện ra. Với cách hiểu khái niệm dưới ánh sáng của lý thiết hoạt
động như trên, quan niệm về khái niệm như trước đõylà “toàn bộ tri thức của
loài người đã khái quát hoỏ cỏc dấu hiệu chung và bản chất một loại sự vật
và hiện tượng nào đú” không hoàn toàn phù hợp. [16 – trang 120, 121,122]
2- Khái niệm địa lý
12
Khái niệm địa lý là sự phản ánh trong tư duy nhưng sự vật và hiện
tượng địa lý bđó được trừu tượng hoá và khỏi quỏthoỏ, dựa vào các dấu hiệu
bản chất sau khi đã tiến hành các thao tác tư duy (so sánh, phân tích, tổng
hợp vv…).
Khái niệm địa lý cũng giống như tất cả các khái niệm khoa học khác,
trước hết chính là kết quả của tư duy trừu tượng. Nó là đơn vị cơ sở của tri
thức địa lý. Khái niệm địa lý có tính chất không gian hoặc có liên quan đến
sự phân bố không gian. Đú chính là dấu hiệu phân biệt chúng với các khái

lý chung, khi cụ thể hoỏ thờm với cỏc tớnh độc đáo của đối tượng, sẽ trợ
thành các khái niệm riêng như: sông Đà, sông Hậu v v…
Trong môn địa lý, các khái niệm riêng được nói đến nhiều nhất trong
các phần về Địa lý thế giới, Địa lý khu vực.
- Các khái niệm địa lý tập hợp là khái niệm địa lý trung gian giữa các
khái niệm địa lý chung và khái niệm địa lý riêng. Thí dụ: “Sụng” là khái
niệm địa lý chung, “sụng Hồng” là khái niệm địa lý riờng, cũn “sụng Châu
Á, sụng Chõu Âu” .v.v…là những khái niệm địa lý tập hợp. Loại khái niệm
địa lý này dùng nhiều trong các phần Địa lý khu vực. Ví dụ khỏc: Cỏc nước
đang phát triển.
Chúng ta cũng cần phải thấy rằng cách phân loại như trên cũng chỉ có
tính chất tương đối, Thí dụ: Như trên đã phân tích “sụng” là khái niệm chung
“sụng Chõu Á” là khái niệm tập hợp, “sụng Việt Nam” là khái niệm riêng.
Có thể thấy khi học về sông ngòi Việt Nam, thỡ “sụng ngũi Việt Nam” là
khỏi niờm chung, “hệ thống sông Hồng, sụng Thỏi Bỡnh” là khái niệm tập
hợp, “sụng Hồng” là khái niệm riêng.
Ngoài các phân loại trên, người ta có phân biệt ra: Khái niệm địa lý cụ
thể và các khái niệm trừu tượng. Các khái niệm địa lý cụ thể bao gồm những
14
khái niệm về các sự vật và hiện tượng địa lý có thể tri giác được bằng các
giác quan như: Núi đá vôi, bờ sông, v.v…Cũn những khái niệm địa lý trừu
tượng là những khái niệm về các sự vật và hiện tượng địa lý mà chúng ta
không thể trực tiếp tri giác được bằng giác quan. Thí dụ: Sự phân bố dân cư,
cơ cấu công nghiệp, đường đằng nhiệt v v…
1.1.2. Quan niệm về dạy học tích cực
1- Khái niệm về tích cực hoá
Tích cực hoá là một tập hợp các hoạt động nhằm làm chuyển biến vị
trí của người học từ thụ động sang chủ động tiếp nhận tri thức sang chủ thể
tìm kiếm tri thức để nâng cao hiệu quả học tập
2- Đặc trưng cơ bản của quy trình dạy học tích cực

một số các khái niệm. Việc dạy học có hiệu quả cao hay không phụ thuộc
vào việc chúng ta có xác định được rõ ràng các khái niệm hay không ? Vì
mỗi loại khái niệm do các đặc điểm cơ bản của nó mà cú cỏc phương pháp
hình thành riêng.
Về mặt phân loại khái niệm như đó trỡnh bầy thì đa số các tác giả
trong và ngoài nước đều thống nhất phân loại cỏc khỏi niờm (nói chung) và
khái niệm địa lý (nói riêng) cú các loại là: khái niệm chung, khái niệm tập
hợp, khái niệm riêng. Song nhiều khiviệc xác định các loại khái niệm cũng
gặp nhiều khó khăn, vì một khái niệm đôi khi nó vừa là khái niệm chung
nhưng cũng có khi nó là khái niệm riờng, nú phụ thuộc vào việc ta đặt nó
vào hệ thống khái niệm nào đó.
Ví dụ: Ngành công nghiệp (khái niệm chung), công nghiệp Việt Nam
(khái niệm riêng). Nhưng trong Địa lý kinh tế - xã hội Việt Nam, thì công
nghiệp Việt Nam là khái niệm chung. Công nghiệp của từng vùng là khái
niệm riêng, hoặc trong một vựng thỡ công nghiệp của vùng là khái niệm
chung còn mỗi trung tâm công nghiệp của vùng lại là khái niệm riêng v v…
16
Vì vậy việc xác định được hệ thống phân vị (các cấp) khái niệm là hết sức
quan trọng và cần thiết.
Chúng ta cũng thấy được số các nhà khoa học trong nước và nước
ngoài đều thừa nhận các khái niệm địa lý bao gồm các khái niệm chính và
các khái niệm phụ, song nếu chỉ có vậy thì chưa thật đầy đủ vỡ nú mới chỉ
nêu lên được mức độ (mực độ trừu tượng) của khái niệm.
Có nhiều quan điểm khác nhau, của các nhà khoa học trong ngoài
nước về vấn đề này. Tuy có những khác nhau, song chúng ta cũng có thể tìm
thấy một số những vấn đề chung của các tác giả về phân cấp khái niệm.
Chúng tôi xin đơn cử một số quan điểm có tính chất rất điển hình như
sau:
W . Doran – W . Jabn, sau khi nghiên cứu các quan điểm khác nhau
của nhiều nhà khoa học trong và ngoài nước, các tác giả cho rằng, cần phải

Nhóm thứ ba: Gốm các khái niệm về các ngành kinh tế
Nhóm thứ tư: Gồm các khái niệm về vùng kinh tế …
- Cấu trúc ngang của khái niệm: là sự thể hiện của từng yếu tố trong
cấu trúc dọc, là sự tập hợp các khái niệm chính và hệ thống khái niệm ở cấp
NÚI CAO
NÚIHÁC

NÚI RÙNG
TÂY NGUYEN
NÚI
QUẶNG
NÚI
An Pơ
NÚI
CAP CA
NÚI CAO
TRUNG BÌNH
KHÁI NIỆM GỐC
NHỮNG KHÁI
NIỆM ĐƯỢC
PHÂN LOẠI
KHÁI NIỆM
ĐƠN NHẤT
18
NÚI
độ thấp hơn (gọi là khái niệm phụ thuộc) nhằm cụ thể hoá khái niệm chính
trong mỗi quan hệ và phát triển của nó theo cách diễn dịch hoặc qui nạp. T.S
đã đưa ra mô hình phân cấp các khái niệm khá rõ ràng sau đây:
Sơ đồ 2: Mô hình phân cấp khái niệm
Qua việc trình bầy như trên, chúng tôi thấy các quan điểm đều thống

KN PHỤ C
3
19
và khái niệm lại có thể chia thành các cấp thấp hơn (trong cả cấu trúc dọc và
cấu trúc ngang của khái niệm). Song có thể thấy quan điểm của TS. Giang
Tiến là rõ ràng và phù hợp và có thể áp dụng vào việc xây dựng hệ thống
khái niệm trong các sách giáo khoa Địa lý ở các trường THPT hiện nay.
1.1.3.1. Khái niệm địa lý
- Khái niệm chung
- Khỏi niệm riêng
- Khái niệm tập hợp
1.1.3.2. Cấp độ cỏc khỏi niệm trong từng bài, trong toàn bộ chương trình
1.1.4. Đặc điểm về chương trình và sách giáo khoa Địa lý lớp 11 THPT
1- Đặc điểm về chương trình Địa lý lớp 11 THPT
Kế thừa chương trình Địa lý kinh tế - xã hội Lào, học sinh đã được ở
lớp 8. Chương trình Địa lý kinh tế - xã hội Lào lớp 11 chỉ đề cập: Những vấn
đề Địa lý kinh tế - xã hội Lào. Tổng số tiết dành cho năm học là 66 tiết (2 tiết
/tuần)
a- Tinh thần chung của chương trình: Cung cấp cho học sinh những
kiến thức về kinh tế - xã hội nước ta, giúp cho các em nhận thức được một
cách đúng đắn những vấn đề đang đặt ra trong quá trình xây dựng và phát
triển đất nước. Từ đó sẽ chuẩn bị tốt cho các em về mặt hiểu biết cũng như
thái độ để khi ra đời, thực hiện tốt nghiệm vụ của người công nhân đối với
Tổ quốc. Do học sinh đã học, đã tiếp thu được một số kiến thức về Địa lý
kinh tế - xã hội Lào (ở lớp 8), nên chương trình Địa lý kinh tế - xã hội lớp 11
chỉ lựa chọn một số vấn đề cơ bản, có ý nghĩa quan trọng nhất đối với việc
xây dựng và phát triển kinh tế - xã hội ở nước Lào để trình bầy. Những vấn
đề này sẽ giúp học sinh nhận thức được rõ hơn hiện trạng cũng như đường
lối phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong những năm tới, đặc biệt là
nắm vững những giải pháp hợp lý, có tác dụng làm cho nền kinh tế - xã hội

sách đổi mới và phát triển kinh tế - xã hội ở thành thị và địa phương của đất
nước Lào.
Chương III: Địa lý kinh tế (36 tiết)
A- Những vấn đề phát triển kinh tế
Các vấn đề kinh tế (sử dụng vốn đất, phát triển lương thực, thực phẩm
trong nông nghiệp, điều chỉnh cơ cấu và phân bố các ngành trong công
nghiệp; phát triển kết cấu hạ tầng trong các ngành giao thông vận tải, thông
tin liên lạc hoặc mở rộng hoạt động ngoại thương, tăng cường sự hợp tác và
đầu tư với nước ngoài v.v…)
B- Những vấn đề phát triển kinh tế ở mỗi khu vực
Chương trình đề cập tới 5 vùng, mỗi vựng cú những đặc điểm riêng
biệt và có những vấn đề đặc biệt quan tâm riêng.
- Thủ đụ Viờng Chăn - trung tâm của Lào (2 tiết)
- Các tỉnh ngoại ô (2 tiết)
- Khu vực tỉnh lẻ (2 tiết)
- Khu vực bên ngoài Bắc bộ (2 tiết)
- Khu vực bên ngoài Nam bộ (2 tiết)
(Ở lớp 8 các em đã học 4 vùng kinh tế. Vùng kinh tế phớa Đông Bắc,
vùng kinh tế phía Tây Bắc, vùng cao nguyờn Miền Nam, và vùng Đồng
bằng sông Mê Công)
Chương IV: Địa lý các nước trong châu Á và châu Úc (18 tiết)
Những vấn đề phát triển kinh tế - xã hội ở các nước châu Á và châu Úc
Chương này đề cập đến tình hình chung về kinh tế - xã hội của các
nước trong khu vực Đông Nam Á và khả năng mở rộng quan hệ hữu nghị,
hợp tác giữa Lào với các nước trong khu vực về một số lĩnh vực như: Khai
thác tài nguyên thiên nhiên, hợp tác đầu tư, mở rộng ngoại thương v.v…
22
Về kỹ năng: Chương trình chủ ý tới việc bồi dưỡng cho học sinh các
kỹ năng cơ bản như: phân tích các bảng số liệu thống kê, lập và vẽ các biểu
đồ, đọc và phân tích bản đồ kinh tế, bước đầu làm quen với việc tự lực

nghiệp hoá)
4- Giao thông vận tải (bài 10)
5- Thương mại và dịch vụ (bài 11)
B- Những vấn đề phát triển kinh tế ở mỗi khu vực
6- Thủ đô Viờng Chăn - trung tâm của Lào (bài 12)
7- Các tỉnh ngoài ô (bài 13)
8- Khu vực tỉnh lẻ (bài 14)
9- Khu vực bên ngoài Bắc bộ (bài15)
10- Khu vực bên ngoài Nam bộ (bài 16)
11- Thành thị và nụng thụn (bài 17)
12- Sự phát triển kinh tế và vấn đề môi trường của Lào (bài 18)
Phần II: Châu Á và châu Úc
Chương IV: Địa lý các nước trong châu Á và châu Úc (18 tiết)
Những vấn để phát triển kinh tế - xã hội ở các nước châu Á và châu Úc
1- Nước Nhật Bản (bài 19)
2- Nước Trung Quốc (bài 20)
3- Nước Ấn Độ (bài 21)
4- Nhúm các nước trung Đông (bài 22)
5- Nước Việt Nam (bài 23)
6- Nước Thái Lan (bài 24)
7- Các nước công nghiệp mới trong châu Á (bài 25)
8- Một số nước trong châu Úc (bài 26)
* Bờn cạnh kênh chữ, trong sách giáo khoa Địa lý lớp 11 cũn cú một
số kờnh hỡnh: Biểu đồ, lược đồ và bảng số liệu.
24
* Ở cuối mỗi bài thường có từ 3 đến 4 câu hỏi và bài tập. Trong tổng
số 85 câu hỏi và bài tập, có khoảng 50% câu hỏi về tái hiện và mở rộng kiến
thức, có khoảng 25% câu hỏi về suy luận, giải thích vấn đề và 25% câu hỏi,
bài tập về rèn luyện các kỹ năng vẽ biểu đồ, đọc bản đồ, phân tích các số liệu
và liên hệ thực tế địa phương.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status