VIỆN CÔNG NGHỆ SINH HỌC_THỰC PHẨM
cc dd
TIỂU LUẬN MÔN : CÔNG NGHỆ CHẾ BIẾN THỦY SẢN SÚC SẢN
ĐỀ TÀI :
GVHD : ThS LÊ VĂN NHẤT HOÀI
LỚP : ĐHTP6B LT
NHÓM SVTH : 0 4
1. Nguyễn Thị Thảo Hiền ………….………10351641
2. Nguyễn Thị Hồng Liên……………….….10315201
3. Huỳnh Nguyễn Duy Lý…………….….…10373341
4. Nguyễn Thị Ngọc Mai………….……… 10327061
5. Huỳnh Thị Kim Ngon……………………10338091
6. Nguyễn Thị Nguyệt………………………10343811
7. Nguyễn Thị Hồng Nhung……………… 10318501
8. Phạm Thị Hoàng Yến…………………….10347261
9. Huỳnh Lê Vy……………………… …… 10329971
MỤC LỤC TRANG
CHƯƠNG I: MỞ ĐẦU
1.1 Công nghệ lên men là gì?
Tp.HCM, Ngày 30 Tháng 06 Năm 2014
1.2 Lịch sử ra đời và sự phát triển của công nghệ lên men
1.3 Phân loại lên men
1.3.1 Dựa vào kĩ thuật nuôi cấy
1.3.2 Dựa vào sản phẩm chính
1.4 Các sản phẩm lên men truyền thống
1.4.1 Giới thiệu sản phẩm tôm chua
1.4.2 Các loại sản phẩm tôn chua ở Việt Nam
CHƯƠNG II: CNCB các sản phẩm lên men từ thịt – sản phẩm nem chua Việt Nam
2.1 Nguyên liệu thịt
2.1.1 Giá trị dinh dưỡng, thành phần hóa học
2.1.2 Các biến đổi của nguyên liệu thịt trong quá trình xử lý, chế biến
3.3.1 Ưu nhược điểm của phương pháp truyền thống
3.3.2 Ưu nhược điểm của phương pháp hiện đai
3.3.3 Sự giống nhau của hai phương pháp
3.3.4 Sự khác nhau
3.4 Các quá trình hóa sinh xảy ra
3.4.1 Lên men lactic
3.4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến quá trình lên men lactic
3.4.3 Quá trình thủy phân protein
3.5 Các loại máy móc thiết bị
3.5.1 Thiết bị phân cỡ tôm
3.5.2 Máy lột vỏ tôm
3.6 Các chỉ tiêu chất lượng
3.7 Một số sản phẩm lên men từ thủy sản khác
TLTK
GVHD: ThS Lê Văn Nhất Hoài SVTH: Nhóm 4
CHƯƠNG I : MỞ ĐẦU
1.1 Công nghệ lên men là gì?
Thuật ngữ “lên men” có nguồn gốc từ đông vật trong tiếng Latin “fevere” có nghĩa
là “làm chín” để mô tả hoạt động của nấm men trong dịch trích của trái cây hay dịch
đường hóa ngũ cốc.
Pastuer đã gọi sự lên men là “sự sống thiếu không khí” (kị khí, thiếu oxi)
Khái niệm lên men được hiểu theo hai nghĩa khác nhau:
+ Trong lĩnh vực vi sinh vật học : Trước đây lên men được hiểu là quá trình sinh tổng
hợp năng lượng (ATP) ở tế bào vi sinh vật từ các hợp chất hữu cơ trong điều kiện không
có oxy. Gần đây người ta cho rằng lên men là quá trình sinh tổng hợp năng lượng ở tế
bào không có sự tham gia của chuỗi hô hấp. Trên cơ sở đó, một vài quá trình sinh tổng
hợp ATP diễn ra trong điều kiện kị khí của VSV nhưng không được gọi là lên men, mà
phải gọi là hô hấp kị khí (anaerobic respiration ) vì có sự tham gia của chuỗi hô hấp như
hô hấp nitrate, hô hấp sulfate….ở vi khuẩn Pseudomonas, Desulfovibrio…
+ Trong lĩnh vực công nghệ VSV : lên men được hiểu là quá trình chuyển hóa cơ chất
Năm 1898 Eduard Buchner cũng đã nghiên cứu tác dụng men của nhiều nấm men,
đã vạch ra mối liên hệ giữa nấm men và hoá học về men, và ứng dụng hoạt động của nấm
men vào sản xuất tiếp giống ngoài. Ông đã nghiền nấm men lấy ra dung dịch có men
zymase và cho lên men rượu. Như vậy giai đoạn thứ hai là giai đoạn sử dụng các hoạt
tính của VSV - giai đoạn này được đánh dấu bằng việc đặt cơ sở khoa học cho quá trình
sản xuất đồ uống chứa rượu.
Giai đoạn thứ ba:
MÔN : CNCB THỦY SẢN SÚC SẢN 5
GVHD: ThS Lê Văn Nhất Hoài SVTH: Nhóm 4
Giai đoạn công nghiệp kháng sinh, hóa chất và sinh tổng hợp điều khiển được tính
1941- 1970,bao gồm sự xuất hiện của các chất kháng sinh, những tiến bộ về di truyền học
trong việc chọn lọc các thể đột biến vi khuẩn, sự nghiên cứu các điều kiện lên men tối ưu,
kỹ thuật học lên men, việc tách và tinh chế sản phẩm
Giai đoạn thứ ba được đặc trưng bởi sự phát triển của một nền công nghiệp VSV
độc lập. Người ta đã điều khiển được các quá trình siêu tổng hợp ở VSV và tạo ra được
hàng loạt các chủng đột biến ở VSV. Nhờ các thành tựu này mà người ta đã sản xuất ở
quy mô lớn mì chính, lysine và nhiều loại amino acid khác.
Hình 1.2: Các nhà vi sinh vật học công nghiệp tiền bối
Giai đoạnthứ tư: (giai đoạn hiện nay)
Được đánh dấu bằng sự phát hiện ra các enzyme cắt giới hạn restrictase và các
plasmid với sự gắn các gene lạ mang các thông tin tổng hợp các protein đặc biệt vào một
cơ thể đã trở thành một phương pháp thông dụng và sự kiểm soát ngày càng tốt hơn sự
biểu hiện của các gene này.
1.3 Phân loại lên men
1.3.1 Dựa vào kỹ thuật nuôi cấy
Lên men gián đoạn:
MÔN : CNCB THỦY SẢN SÚC SẢN 6
GVHD: ThS Lê Văn Nhất Hoài SVTH: Nhóm 4
Vi sinh vật được nuôi cố định trong bình lên men với một thể tích môi trường xác
định. Vi sinh vật phát triển theo giai đoạn (pha tiềm phát, pha nhân lên chậm, pha logarit,
Vi sinh vật phát triển trên bề mặt của môi trường. Phương pháp này thường sử dụng
để sản xuất axit citric và một số enzym. Nhược điểm lớn nhất của phương pháp này là tốn
kém bề mặt. Tuy nhiên, do đầu tư ít nên chừng mực nào đó vẫn còn sử dụng.
Lên men bán rắn:
Là phương pháp trung gian giữa lên men bề mặt và bề sâu. Hàm lượng nước trong
môi trường chiếm khoảng 70% chất khô. Một số enzym hiện nay được sản xuất theo
phương pháp này. Người ta cải tiến phương pháp này bằng thiết bị thùng quay nhằm
cung cấp đủ oxy cho quá trình lên men và thực hiện luôn khâu sấy khô sau lên men. Điều
khó khăn là do sự truyền nhiệt kém của các chất độn nên khó thực hiện tốt khâu thanh
trùng.
MÔN : CNCB THỦY SẢN SÚC SẢN 8
GVHD: ThS Lê Văn Nhất Hoài SVTH: Nhóm 4
Lên men chìm:
Là phương pháp được sử dụng nhiều nhất. Nó có thể cho phép kiểm soát được toàn
bộ quá trình lên men một cách thuận lợi, ít tốn kém mặt bằng. Do hệ thống khuấy trộn tốt
nên toàn bộ môi trường nuôi cấy là một hệ thống nhất
Hình 1.5: Thiết bị nuôi cấy chìm
1.3.2 Dựa vào sản phẩm chính
− Lên men etilic
− Lên men lactic
− Lên men propionic
− Lên men formic
− Lên men butiric và lên men axeton-butanol
− Lên men metan
− Lên men axetat
MÔN : CNCB THỦY SẢN SÚC SẢN 9
GVHD: ThS Lê Văn Nhất Hoài SVTH: Nhóm 4
− Lên men xenlulozo
Hình 1.6: Cơ chế chung của một số quá trình lên men quan trọng
1.4 Các sản phẩm lên men truyền thống
1.4.2 Các loại sản phẩm Nem chua ở Việt Nam
Nem chua là một món ăn sử dụng thịt lợn, lợi dụng men của lá (lá ổi, lá sung v.v.)
và thính gạo để ủ chín, có vị chua ngậy. Nổi tiếng ở Việt Nam như một sản vật phổ biến
tại nhiều địa phương, tuy không rõ nem chua được người dân vùng nào làm ra đầu tiên.
Nem chua mỗi vùng đều có hương vị riêng.
Nem chua - Vĩnh Yên, Vĩnh Phúc
Nem chua Vĩnh Yên nổi tiếng trong cả tỉnh Vĩnh Phúc và lan ra khắp những nơi
khác. Quy trình làm nem chua Phú Đức cũng giống như các nơi khác nhưng nem ở đây
có mùi vị đặc trưng rất riêng biệt do những bí truyền để lại. Nem chua Vĩnh Yên hiện nay
đã được người làm sáng tạo ra thành nhiều mẫu mã khác nhau; từ dài mỏng như cái lưỡi
mèo, tròn to như ruột quả chuối tiêu, có loại dài tròn như đòn bánh tét nhỏ, bóc ra thái
MÔN : CNCB THỦY SẢN SÚC SẢN 11
GVHD: ThS Lê Văn Nhất Hoài SVTH: Nhóm 4
khoanh chéo như lát sắn khô; có loại tròn dẹt như tấm bánh dày lớn, bày ra mâm được xẻ
góc kiểu bánh chưng để thực khách dễ thưởng thức; tất cả đều có lá ổi và bọc gói bằng lá
chuối tươi. Những người con xa xứ lâu năm, mỗi khi trở về quê hương Vĩnh Phúc đều
không quên tìm đến cửa hàng nem chua Phú Đức.
Hình 1.7: Nem chua Vĩnh yên
Nem làng Vẽ Hà Nội
Làng Vẽ thuộc xã Đông Ngạc, huyện Từ Liêm, ngoại thành Hà Nội, từ xa xưa đã
nổi tiếng khắp đất kinh kỳ với món Nem chua. Nem chua làng Vẽ được xếp vào hàng cao
lương mĩ vị và không bao giờ thiếu trong mâm cỗ của vua ban lộc nước cho các bậc hiền
tài trạng nguyên, tiến sĩ đỗ đạt thời xưa. Người làng Vẽ lấy thịt từ mẻ giã pha với gia vị,
lá ổi non cùng chất men chua rồi lấy lá chuối gói kín lại, ủ từ 7 - 10 ngày thì nem chín.
Nem chín đều, bóc ra không bị mốc, có màu hồng tươi rói, không dính lá được coi là nem
ngon. Bí quyết giúp nem ngon thì chỉ có những người làng Vẽ mới biết. Họ truyền miệng
lại cho nhau từ đời nọ sang đời kia. Khi thưởng thức nem Vẽ, bạn sẽ cảm nhận được vị
bùi bùi của lá ổi, vị chua của men và rất khó quên được món ăn đặc sản này.
MÔN : CNCB THỦY SẢN SÚC SẢN 12
GVHD: ThS Lê Văn Nhất Hoài SVTH: Nhóm 4
hoặc biếu người thân. Ngày lễ Tết hoặc cưới xin, nem chua trở thành món ngon không
thể thiếu. Kèm với những cặp bánh chưng xanh, những chiếc giò ngày Tết là những xâu
nem chua làm từ chất liệu quê hương mời khách đến chơi nhà.
Hình 1.10: Nem chua Thanh Hóa
Nem Chua Đông Ba, Huế
Nem Huế thường có vị chua vì lên men, ăn với tỏi. Nem hồi xưa được gói kín trong
lá vông, ngoài lá chuối, có cột lạt tre, nhưng về sau thì được gói bằng nylon trong và
mỏng. Nem Chua Đông Ba được làm từ thịt đùi sau của heo, xắt lát cho muối vào quết
thật nhuyễn, lấy ra nhồi với da heo, thính, nước mắm kho, tỏi, đường, muối, viên từng
viên tròn bằng trái nhãn, vắt cho chặt, lấy lá dung gói kín, buộc lại treo lên hai ngày, nem
chín đem dùng với tỏi.
Nem Huế khác với nem miền Bắc và nem miền Nam ở cách nêm gia vị. Không bao
giờ ta gặp một lọn nem Huế lại có một hạt tiêu tròn ở giữa. Các mùi vị dều hòa tan trong
lọn nem xinh xắn. Trong lọn nem có đủ mùi vị của thịt nạc lên men chua, da heo xắt nhỏ,
thính, nước mắm kho, đường phèn, muối Thực lòng khó cản được sự háo hức của vị
giác khi thấy từng lọn nem chua ửng hồng xếp thành vòng tròn trong lòng đĩa mời gọi!
MÔN : CNCB THỦY SẢN SÚC SẢN 14
GVHD: ThS Lê Văn Nhất Hoài SVTH: Nhóm 4
Hình 1.11: Nem chua Huế
Nem chua Ninh Hòa, Khánh Hòa
Nem Ninh Hòa lâu nay luôn là niềm tự hào của người dân Ninh Hòa.: Chỉ có thịt
heo được nuôi trên đất Ninh Hòa và được chế biến bằng đôi bàn tay khéo léo của người
Ninh Hòa mới làm ra những chiếc nem ngon.
Ăn nem chua Ninh Hòa chấm với nước ớt tương đã làm sẵn và cắn thêm miếng tỏi
tươi, hương vị rất ngon và đậm đà. Uống thêm chút bia sẽ làm bạn khoái khẩu cho dù đi
đâu bạn cũng phải trở lại Ninh Hòa tìm món nem chua màu hồng hồng, thơm ngon, vừa
ăn và thật giá trị. Chiếc nem lúc nào cũng khô ráo, không dính lá.
Hình 1.12: Nem chua Khánh Hòa
Khi chiếc nem đã nằm gọn gàng trong lòng bàn tay của bạn, cứ nhẹ nhàng mở sợi
dây buộc nem và từ từ mở từng lớp lá gói rồi nâng niu đưa miếng nem lên miệng và cắn
SẢN PHẨM NEM CHUA VIỆT NAM.
2.1 Nguyên liệu thịt.
2.1.1 Giá trị dinh dưỡng, thành phần hóa học của thịt.
Thịt là nguồn dinh dưỡng giàu năng lượng, thành phần của thịt gồm có:
nước, protein, glucid, lipid, chất trích ly chứa nitơ và phi nitơ, chất khoáng, vitamin và
enzyme…Tuy nhiên giá trị của thịt phụ thuộc chủ yếu vào protein. Protein có thành phần
cân bằng thích hợp và tất cả các acid amin cần thiết cho cơ thể. Hàm lượng lipit chứa
trong thịt cũng có ảnh hưởng quyết định đến độ tăng năng lượng của thịt, làm cho thịt
vừa có giá trị năng lượng cao vừa góp phần tăng hương vị thơm ngon của thịt. Các chất
trích ly trong thịt kích thích sự ăn ngon miệng và sự tiết dịch tiêu hoá.
Hình 2.1: Thịt heo
Thành phần hóa học của các mô thịt, gồm có:
− Mô cơ: 50 ÷ 70%
− Mô mỡ: 2 ÷ 20%
− Mô xương: 15 ÷ 22%
− Mô liên kết: 9 ÷ 14%
− Ngoài ra còn có mô thần kinh và mô máu
Bảng 2.1: thành phần dinh dưỡng trong 100g thịt nạc heo
Nước
Chất béo
Chất xơ
Cholesterol
Photpho
Natri
Vitamin B1
Vitamin B2
β-caroten
MÔN : CNCB THỦY SẢN SÚC SẢN 17
GVHD: ThS Lê Văn Nhất Hoài SVTH: Nhóm 4
Tỉ lệ thải bỏ
lipit của thịt chứa hàm lượng cao quyết định giá trị dinh dưỡng của thịt. Hơn nữa, mùi vị
và màu sắc của thịt có tác dụng kích thích tiêu hoá. Do đó trong khẩu phần thức ăn hằng
ngày thịt đóng vai trò đặc biệt quan trọng. Tuy nhiên cần lưu ý là không nên ăn quá nhiều
lượng thịt trong một bữa ăn mà phải kèm theo các loại rau quả để giảm hàm lượng chất
đạm tích tụ trong cơ thể sau khi ăn và tạo sự cân bằng cho cơ thể.
MÔN : CNCB THỦY SẢN SÚC SẢN 18
GVHD: ThS Lê Văn Nhất Hoài SVTH: Nhóm 4
2.1.2 Các biến đổi của nguyên liệu thịt trong quá trình xử lý, chế biến
Dựa vào những biểu hiện bên ngoài, người ta chia một cách quy ước những sự biến
đổi ở thịt sau khi giết thành 3 thời kỳ:
− Tê cóng sau khi giết.
− Chín tới.
− Tự phân.
Sự biến đổi tiếp theo của thịt sau ba thời kỳ này đó là sự phân huỷ thối rữa.
Sự tê cóng sau khi giết
Tê cóng sau khi giết của các bắp cơ là kết quả của sự phát triển của quá trình hoá
sinh phức tạp do enzym mà đặc trưng của nó khác với các quá trình sống. Đó chủ yếu là
các quá trình phân giải, bao gồm:
− Phân huỷ glycogen thành acid lactic, pH từ điểm trung hòa thành pH acid.
− Phân huỷ glycogen thành các glucid có tính khử (glyco phân).
− Phân huỷ acid creatinphosphoric.
− Phân huỷ ATP.
− Kết hợp actin với myozyn thành phức chất không tan (tạo độ rắn của mô cơ).
Sự phát triển tê cóng hoàn toàn xảy ra với thời gian khác nhau phụ thuộc vào đặc
điểm động vật và các điều kiện xung quanh.
− Vào lúc này: độ rắn của thịt tăng 25%, độ cản cắt tăng lên 2 lần. Thịt như thế sẽ có
độ rắn lớn kể cả sau khi nấu.
- Thịt ở trạng thái tê cóng sau khi giết: tiêu hoá bởi pepsin kém, hầu như bị mất mùi
thơm và vị sẵn có ở trạng thái luộc.
Thịt ở giai đoạn cứng xác chưa thích hợp trong sử dụng chế biến, vì chưa cho
− Sự tách dịch thịt tăng lên.
− Thịt có màu sắc hung nâu rõ.
− Thịt trở nên chua và có mùi khó chịu hơn.
Nếu để thịt nguội không đúng quy cách, các enzym có sẵn trong thịt phát triển mạnh
phân huỷ protein thành NH
3
, H
2
S… Hiện tượng này xảy ra ở nhiệt độ 40
0
C và thiếu oxy
gây ra.
Thịt tự phân có trạng thái cảm quan không tốt:
− Có mùi chua khó chịu.
− Bề mặt ngoài đôi khi có màu xanh.
− Ở sâu trong khối thịt có mùi hôi, màu sắc đôi khi đỏ hoặc nâu.
− Không có vi sinh vật gây thối.
− Không có hại cho sức khoẻ người tiêu dùng.
MÔN : CNCB THỦY SẢN SÚC SẢN 20
GVHD: ThS Lê Văn Nhất Hoài SVTH: Nhóm 4
− Đến giai đoạn nhất định của sự tự phân, thịt sẽ không còn dùng được để làm thực
phẩm.
Sự phân huỷ thối rửa:
Một yếu tố bên ngoài hết sức quan trọng làm thay đổi hẳn tính chất của thịt, đó là sự
hoạt động của vi sinh vật:
− VSV phân huỷ protein.
− VSV phân huỷ lipid.
− VSV phân huỷ các acid amin.
Ở những điều kiện thích hợp, vi sinh vật phân huỷ các chất dinh dưỡng của thịt
thành các chất đơn giản. Chỉ có những vi sinh vật gây thối thì mới có khả năng phân huỷ
S) âm tính
Hàm lượng amoniac, mg/100 g, không lớn hơn 35
Độ trong của nước luộc thịt khi phản ứng với đồng sunfat (CuSO
4
) cho phép hơi đục
2.1.3.3 Về dư lượng kim loại nặng:
Bảng 2.5: Quy định dư lượng kim loại nặng của thịt tươi.
Tên chỉ tiêu Giới hạn tối đa(mg/kg)
Chì (Pb) 0,5
Cadimi (Cd) 0,05
Thuỷ ngân (Hg) 0,03
2.1.3.4 Về chỉ tiêu vi sinh vật:
Bảng 2.6: Chỉ tiêu ký vi sinh vật của thịt tươi.
Tên chỉ tiêu Giới hạn tối đa
Tổng số vi sinh vật hiếu khí, số khuẩn lạc trong 1 g sản phẩm 106
E.coli, số vi khuẩn trong 1 g sản phẩm 102
Salmonella, số vi khuẩn trong 25 g sản phẩm 0
B. cereus, số vi khuẩn trong 1 g sản phẩm 102
Staphylococcus aureus, số vi khuẩn trong 1 g sản phẩm 102
Clostridium perfringens, số vi khuẩn trong 1 g sản phẩm 10
Clostridium botulinum, số vi khuẩn trong 1 g sản phẩm 0
2.1.3.5 Chỉ tiêu ký sinh trùng:
Bảng 2.7: Chỉ tiêu ký sinh trùng của thịt tươi.
Tên chỉ tiêu Giới hạn cho phép
Gạo bò, gạo lợn (Cysticercus csuitsae; Cysticercus bovis ) không cho phép
Giun xoắn (Trichinella spiralis)
MÔN : CNCB THỦY SẢN SÚC SẢN 22
GVHD: ThS Lê Văn Nhất Hoài SVTH: Nhóm 4
2.1.3.6 Dư lượng thuốc thú y:
Bảng2.8: Quy định dư lượng thuốc thú y của thịt tươi.
màu vàng tự nhiên, không sử dụng thuốc tẩy.
MÔN : CNCB THỦY SẢN SÚC SẢN 23
GVHD: ThS Lê Văn Nhất Hoài SVTH: Nhóm 4
Hình 2.2: Cấu trúc phân tử colagen
Da heo đã xử lý đóng vai trò như một chất độn, chất kết dính các phần tử trong mô
cơ giúp định hình sản phẩm làm tăng giá trị cảm quan của nem chua, tăng độ giòn, dai.
Da heo là bộ phận có giá trị dinh dưỡng thấp so với mô cơ và mô mỡ trong cơ thể
thịt heo. Da đóng vai trò rất quan trọng trong quá trình định hình của sản phẩm. Để hiểu
được công dụng của da, ta quan tâm đến thành phần quan trọng nhất trong da, đó là
collagen.
Collagen chiếm khoảng 20 – 30% tổng số protein động vật tham gia vào thành phần
mô liên kết liên kết xốp và đặc, mô xương, mô da, mô sụn tạo cấu trúc cơ thể hoản chỉnh.
Ở da collagen chiếm khoảng 15 – 25 % ( theo mô ẩm) và 81% ( theo mô khô).
Collagen là protein dạng sợi, đàn hồi được do đó bảo vệ cô, chống lại sự kéo căng.
Khác với protein khác, trong protein không có chứa tryptophan, cystine, cytein, còn
tyrosin, histidin và các acid amin khác chứa lưu huỳnh mỗi loại hiện diện không quá 1%,
điều này làm vắng mặt các cầu nối disulfua (-S-S) trong cấu trúc collagen là nguyên nhân
chính cho tính mềm dẻo hơn của nó so với keratin. Nhưng ngược lại, collagen chứa đến
30% glycerin, 10% hydroxylprolin, 12% prolin, 11% alanin. Như vậy, theo thành phần
collagen không phải là protein hoàn thiện. Thành phần của acid amin có thề thay đổi theo
tuổi con vật. Tuy nhiên, có thể đưa ra công thức trung bình của collagen C
102
H
149
0
39
N
31
.
Collagen là một protein có cấu trúc bậc 4 điển hình, do các đơn vị Tropocollagen
Trương nở thẩm thấu (Osmotic) do ảnh hưởng các cụm mang điện phân bố dọc theo
mạch peptid.
Trương nở định hướng (Hyotropic) do các muối trung tính hoặc các tác nhân không
sinh ion.
Khi trương nở định hướng, khó biết được một cơ chế hoặc sơ đồ tác động nào đó vì
tác nhân có tính chất khác nhau gây ảnh hưởng đồng nhất lên sợi collagen. Khi so sánh
sự trương nở thẩm thấu và định hướng thấy rằng loại trương nở định hướng thường yếu,
làm sợi trở nên nhớt và không trong suốt, còn thẩm thấu làm chúng trở nên đục.
MÔN : CNCB THỦY SẢN SÚC SẢN 25