Bảo hiểm tiền gửi ở việt nam – thực trạng và định hướng phát triển - Pdf 26

ĐỀ TÀI:
Bảo hiểm tiền gửi ở Việt Nam – Thực trạng và định
hướng phát triển.
A- LỜI MỞ ĐẦU:
Hoạt động kinh doanh tiền tệ là loại hình kinh doanh luôn gắn liền với nhiều rủi
ro tiềm ẩn như: rủi ro về lãi suất, rủi ro tỉ giá hối đoái, rủi ro mất khả năng thanh
toán… Vì vậy, việc đổ vỡ và phá sản của các tổ chức tín dụng hoạt động yếu kém
là điểu không thể tránh khỏi.
Ở Việt Nam, thực tế cho thấy rủi ro trong hoạt động ngân hàng càng cao hơn, bởi:
môi trường kinh tế chưa ổn định, kinh nghiệm tiếp cận của các tổ chức tín dụng
còn non yếu, tình trạng chạy theo lợi nhuận đơn thuần, cạnh tranh không lành
mạnh, kém văn minh diễn ra khá phức tạp. Chính vì vậy, sự ra đời của các tổ chức
tín dụng có vai trò hết sức quan trọng, nó bảo vệ người gửi tiền và đảm bảo cho các
tổ chức tín dụng hoạt động một cách lành mạnh và hiệu quả.
Trong những năm qua, chính sách bảo hiểm tiền gửi đã thể hiện được chủ trương
đúng đắn của Đảng và Nhà nước ta trong quá trình chuyển đổi từ nền kinh tế kế
hoạch tập trung sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; khẳng
định cam kết của Chính phủ trong việc bảo vệ người gửi tiền thông qua cơ chế bảo
hiểm tiền gửi công khai, minh bạch, hạn chế sử dụng ngân sách nhà nước trong
việc xử lý ngân hàng yếu kém. Chính sách hiện hành về bảo hiểm tiền gửi tại Việt
Nam có nhiều ưu điểm, phù hợp với thông lệ quốc tế và thực tế mở cửa, hội nhập
của hệ thống tài chính ngân hàng Việt Nam. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay,
những quy định của pháp luật hiện hành cũng đã bộc lộ những điểm chưa phù hợp
cần phải chỉnh sửa và thay đổi nhằm tăng cường vai trò, chức năng, nhiệm vụ và
quyn hn ca t chc bo him tin gi, gúp phn bo v ngi gi tin, gim
thiu ri ro v ngn nga khng hong.
Vi võy, ờ hiờu ro hn vờ hoat ụng Bao hiờm tiờn gi Viờt Nam trong thi gian
qua, u iờm cung nh nhng mt con yờu kem; giai phap khc phuc va phng
hng phat triờn. Nhom 11 a lc chon ờ tai: Bao hiờm tiờn gi Viờt Nam
Thc trang va inh hng phat triờn.
B - NễI DUNG

là những tổ chức t (1921, thành lập quỹ BHTG ngân hàng thơng mại; 1938,
thành lập quỹ BHTG ngân hàng tiết kiệm; 1991, thành lập quỹ BHTG ngân
hàng chính phủ). Pháp cũng có nhiều tổ chức BHTG theo từng loại hình TCTD
(mỗi hệ thống TCTD có tổ chức BHTG của hiệp hội của tổ chức đó. Riêng các
ngân hàng tơng tế, ngân hàng HTX không phải ra nhập BHTG, vì họ đã đợc
bảo đảm khả năng thanh toán ngay trong hệ thống). Nhìn vào lịch sử phát triển
BHTG ở Đức, thấy có ba loại hình: Thứ nhất là của nhà nớc, tức là nhà nớc đứng
ra bảo hiểm cho những ngời gửi tiền (đến nay, nhà nớc chỉ thực hiện đối với
ngời gửi tiền ở các quỹ tiết kiệm); Thứ hai, thông qua hệ thống bảo hiểm chung
(SBIC) thuộc công ty bảo toàn liên bang; Thứ ba, hình thức bảo hiểm do TCTD
kết hợp với nhau, đó là mô hình bảo toàn tiền gửi, do các hiệp hội lập ra. Chỉ
riêng loại này ở Đức có 3 mô hình bảo toàn tiền gửi của ba nhốm tổ chức tín
dụng khác nhau: Nhóm tổ chức tiết kiệm, các hợp tác xã tín dụng và các ngân
hàng t nhân.
Có thể thấy rằng, BHTG phát triển tơng đối mạnh mẽ ở các nớc trên thế
giới qua các thời kỳ với nhiều hình thức và mô hình khác nhau cùng hoạt động bổ
sung, tơng hỗ cho nhau.
2. S cõn thiờt cua BHTG:
Trong cac hoat ụng kinh tờ, tin dung la mụt trong nhng hoat ụng phat triờn
manh me, hoat ụng tin dung mang lai li nhuõn rõt cao nờn co thờ co rõt nhiờu rui
ro va cgungs co thờ xay ra bõt c luc nao gõy ra nhng thiờt hai khụng lng trc,
hoat ụng tin dung co thờ gp nhng rui ro sau:
Rui ro tin dung la nguy c ngi cho vay khụng thc hiờn nghia vu tra n cho
ngõn hang.
Rui ro vờ tinh thanh khoan la nguy c khụng ban c cac tai san nhanh
chong tr khi chiu thuờ chiờt khõu ln.
Rui ro vờ gia la nguy c bi lụ do nhng thay ụi khụng lng trc c cua
gia ca, chng han nh nhng thay ụi vờ ti gia hụi oai hay lai suõt.
Rui ro hờ thụng la nguy c mụt hay mụt sụ khach hang khụng tra n hoc rut
tiờn gõy nguy hiờm cho toan hờ thụng tai chinh.

phải kí hợp đồng với tổ chức bảo hiểm.
Chỉ thực hiện bảo hiểm theo từng hợp
đồng riêng lẻ.
Số tiền đền bù khi có tổn thất được quy
định bởi các văn bản luật, người gửi tiền
không thể tăng mức đền bù bằng cách
tăng phí đóng góp.
Số tiền đền bù có thể thảo thuận với tổ
chức bảo hiểm, người được bảo hiểm có
thể tăng mức đền bù bằng cách tăng
mức đóng góp.
Người được bảo hiểm không được trực
tiếp điều hành hoạt động rủi ro của
mình, hoạt động rủi ro do tổ chức tham
gia BHTG kiểm soát.
Nhười mua hợp đồng là người trực tiếp
điều hành các hoạt động rủi ro.
Bắt buộc cung cấp cho khách hàng mà
không cần có sự đồng ý hay hiểu biết
cuat khách hàng.
Chỉ có thể cung cấp khi có sự đồng ý
của khách hàng.
3.3 Mục tiêu hoạt động BHTG:
- Bảo vệ người gửi tiền.
- Là công cụ kinh tế góp phần giúp nhà nước duy trì và đảm bảo sự ổn định
của hệ thống tài chính ngân hàng.
Các mục tiêu khác được đề cập là: giải quyết sự đổ vỡ của các tổ chức tài
chính, bảo vệ hệ thống thanh toán, đảm bảo các ngân hàng cũng góp phần giải
quyết đổ vỡ ngân hàng và rủi ro tài chính, góp phần làm giảm thiểu các vi phạm
tài chính.

- Thứ nhất: BHTG bảo vệ quyền lợi ngời gửi tiền. Điều đó đợc thực hiện trực
tiếp thông qua việc sử dụng quỹ bảo hiểm để bồi thờng cho ngời gửi tiền khi
TCTD tham gia bảo hiểm bị vỡ nợ. Thông thờng, các tổ chức BHTG chỉ bồi thờng
số tiền trong một giới hạn nhất định. Đối với ngời gửi tiền vợt quá mức giới hạn nào
đó (nh ở Mỹ là 100. 000 USD) cũng đợc bồi thờng một phần. Hoạt động của
BHTG cũng mang tính trợ giúp hạn chế, ngăn ngừa rủi ro xảy ra đối với các TCTD
chính là bảo vệ quyền lợi của ngời gửi tiền.
- Thứ hai: BHTG bảo vệ các TCTD tham gia bảo hiểm. Thể hiện trực tiếp
thông qua hoạt động ngăn ngừa, trợ giúp các TCTD tham gia bảo hiểm khi gặp
khó khăn. Sự trợ giúp có thể dới hình thức cho vay, khuyến khích các TCTD khác
cho vay, yêu cầu thay đổi về quản lý, mua nợ các TCTD khó khăn.
Mặt khác, sự bảo vệ đó còn thể hiện gián tiếp thông qua việc tổ chức
BHTG bảo vệ quyền lợi của ngời gửi tiền. Khi ngời gửi tiền không đợc bảo
hiểm, nếu một TCTD bị phá sản thì gửi tiền sẽ không đòi lại đợc đầy đủ giá
trị tiền gửi, thậm trí có khả năng bị mất trắng. Nếu vì một lý do nào đó,
những ngời gửi tiền nghi ngờ về sự vỡ nợ của TCTD họ sẽ rút tiền ngay lập tức.
Điều này dễ dẫn đến một phản ứng dây chuyền mọi ngời đổ xô đến rút tiền
làm cho TCTD đó bị phá sản. Chính sự cam kết bồi thờng của các tổ chức
BHTG khi TCTD tham gia làm yên lòng ngời gửi tiền, hạn chế và chấm dứt cảnh
lan truyền dòng ngời đi rút tiền, từ đó hạn chế sự vỡ nợ của các TCTD.
- Thứ ba:BHTG bảo vệ hệ thông các TCTD. Sự đổ vỡ của một tổ chức tín
dụng có thể lan truyền sang các TCTD khác do ngời gửi tiền ở các TCTD
khác nghi ngờ rằng TCTD của họ không có khả năng trả lại tiền họ đã gửi đợc.
Việc một tổ chức tín dụng bị phá sản có thể châm ngòi cho các TCTD khác
bị phá sản theo. Điều này có thể nhân rộng tới khi có một vụ hoảng loạn
ngân hàng dẫn tới cả hệ thông bị phá sản. Khi có một TCTD tham gia
BHTG, không những sẽ có tác dụng ngăn chặn sự vỡ nợ của một TCTD mà
còn có tác dụng ngăn chặn cả những vụ hoảng loạn ngân hàng, góp phần bảo
vệ cho cả hệ thống TCTD.
- Thứ t: BHTG góp phần ổn định kinh tế - xã hội. Với vai trò chuyển vốn từ

a. Các rủi ro đợc bảo hiểm
Trong bảo hiểm tiền gửi các rủi ro sau đợc bảo hiểm:
Sự phá sản của quỹ tín dụng
Phá sản là trờng hợp quỹ tín dụng không thể trả nợ một cách đầy đủ
hoặc quỹ tín dụng không thể tiếp tục kinh doanh vì bị thiếu vốn. Trong trờng
hợp này, các công việc của quỹ phải giao cho ban thanh lýtài sản xử lý các tài sản
còn lại theo đúng quy định pháp lý về phá sản của Nhà nớc.
Sự giải thể bắt buộc của quỹ tín dụng
Giải thể bắt buộc là do không tuân thủ các quy tắc, luật lệ của Nhà nớc hoặc
có thể do chủ nợ đề nghị toà án ra lệnh tuyên bố giải thể vì quỹ tín dụng từ
chối thanh toán và chỉ có cách này mới hi vọng thu hồi đợc tiền.
Phải chấp hành lệnh thanh lý vì một lý do khác với việc phá sản hay
mất khả năng thanh toán của quỹ tín dụng
Trờng hợp này xảy ra khi cơ quan có thẩm quyền xét thấy quỹ mặc dù vẫn có
khả năng thanh toán nhng không đúng mục đích đã đề ra, không muốn toà án
can thiệp mà quyết định thanh lý quỹ không cho hoạt động tiếp. Trong trờng
hợp này, bảo hiểm sẽ giải quyết bồi thờng cho những ngời gửi tiền nhng sẽ đợc
thế quyền để hởng số tiền thanh lý tài sản hay đòi nợ.
Giải thể tự nguyện do bị đặt trong tình trạng có nguy cơ dẫn đến phá
sản của quỹ tín dụng
Tình trạng có nguy cơ dẫn đến phá sản của quỹ tín dụng là tình trạng quỹ
tín dụng bị thua lỗ trong hoạt động kinh doanh hoặc gặp khó khăn khi đã áp
dụng các biện pháp tài chính cần thiết mà vẫn mất khả năng thanh toán nợ đến
hạn. Tuy nhiên không muốn toà án can thiệp, các cổ đông của quỹ chấp nhận
tuyên bố giải thể. Trong trờng hợp này, bảo hiểm cũng có trách nhiệm bồi thờng
đối với các khoản tiền gửi có kỳ hạn mà quỹ không thanh toán hết sau khi có
quyết định giải thể.
Không thể thực hiện việc thanh toán cho những ngời gửi tiền vì một
mệnh lệnh của toà án đối với quỹ tín dụng
Xảy ra trong trờng hợp quỹ tín dụng cố ý không thanh toán nợ và chủ nợ đệ đơn

II.LIấN Hấ THC Tấ:
1. Thực trạng về hoạt động BHTG ở Việt Nam hiện nay:
Hệ thống ngân hàng ở Việt nam hiện nay là hệ thống ngân hàng hai cấp,
bao gồm ngân hàng nhà nớc và các ngân hàng thơng mại hoạt động theo cơ chế
thị trờng, tuan theo "pháp lệnh ngân hàng nhà nớc Việt Nam" và " pháp lệnh
ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài chính". Hệ thống các tổ chức tín
dụng đã có một mạng lới rộng lớn, bao gồm ngân hàng nhà nớc, 4 ngân hàng th-
ơng mại quốc doanh, 51 ngân hàng cổ phần, 4 ngân hàng liên doanh với nớc
ngoài, 2 công ty tài chính cổ phần, 1 quỹ tín dụng nhân dân trung ơng, 5 quỹ
tín dụng nhân dân khu vực, 900 quỹ tín dụng nhân dân cơ sở. Năm 1996 so với
năm 1995, vốn huy động tiền gửi của các ngân hàng tăng 659%, d nợ cho vay tăng
883%.
Để củng cố niềm tin của ngời gửi tiền đối với các quỹ tín dụng nhân dân,
tạo cơ sở cho các quỹ tín dụng nhân dân hoạt động ổn định và phát triển, ngày
1/ 3/ 1994 Bộ tài chính đã ban hành quyết định 101/ TCQĐ-BH về quy tắc
bảo hiểm trách nhiệm của quỹ tín dụng nhân dân đối với các khoản tiền gửi.
Với quyết định này, lần đầu tiên nớc ta có một tổ chứclà Bảo Việt thực hiện
nghiệp vụ BHTG. Song ngời gửi tiền đợc bảo hiểm chỉ giới hạn gửi tại các quỹ
tín dụng nhân dân, loại tiền gửi đợc bảo hiểm là tiền gửi có kỳ hạn từ 3 tháng
trở lên, mức tối đa là 100 triệu đồng đối với một thể nhân, 500 triệu đồng đối
với một pháp nhân, và chỉ bồi thờng tiền gốc không bồi thờng tiền lãi. Thực tế
triển khai BHTG của Bảo Việt còn nhiều hạn chế, đến cuối năm 1995 mới chỉ
có 162 quỹ tín dụng tham gia với sổ tiền bảo hiểm là 100 tỷ đồng, chiếm 33,
22% tiền gửi tại các quỹ tín dụng nhân dân, và chỉ chiếm 0, 2% tổng số d tiền
gửi tại các TCTD trong cả nớc, cuối năm 1996 có 300 quỹ tham gia bảo hiểmvới số
tiền bảo hiểm hơn 854 tỷ đồng và cuối quý 1 năm 1997 có 370 quỹ tham gia với
số tiền bảo hiểm hơn 322 tỷ đồng. Hiện nay hiệp hội ngân hàng Việt Nam
đang chuẩn bị thành lập quỹ BHTG của hiệp hội. Nghiên cứu dự thảo Điều lệ
hoạt động quỹ BHTG của các TCTD Việt nam và quy chế hoạt động quỹ bảo
toàn tiền gửi của hiệp hội ngân hàng Việt Nam, chúng ta thấy rằng:

3 tháng trở lên. Trên thực tế số tiền gửi không kỳ hạn của cá nhân và các tổ chức
kinh tế xã hội là rất lớn nhng không đợc bảo hiểm, điều đó sẽ hạn chế khả năng
huy động vốn của các TCTD. Theo quy định hiện hành Bảo Việt chỉ trả bồi th-
ờng sau khi quỹ tín dụng tham gia bảo hiểm ngừng hoạt động 1 tháng, và chỉ trả
tiền gốc. Nh vậy, nếu là ngời gửi tiền chỉ cần nghe tin quỹ tín dụng khó khăn
về tài chính thì họ sẽ đổ xô đến để rút tiền nhằm lấy lại cả gốc lẫn lãi, đồng
thời tránh đợc phải chờ đợi lâu trong trờng hợp phải nhận tiền bồi thờng từ bảo
hiểm. Rõ ràng trong tình huống này hoạt động bảo hiểm cũng không có mấy tác
dụng ngăn ngừa sự hoảng loạn ngân hàng khi gặp rủi ro.
Ngoài ra quyết định trờng hợp quỹ tín dụng tham gia bảo hiểm nếu vi
phạm nghiêm trọng pháp lệnh ngân hàng, hợp tác xã tín dụng và công ty tài
chính thì rủi ro sẽ không đợc bồi thờng. Điều này là cha thoả đáng, bởi vì bồi th-
ờng rủi ro là bảo vệ lợi ích cho ngời gửi tiền. Khi hợp đồng bảo hiểm cha bị huỷ
bỏ, khi vi phạm pháp luật là do lỗi của TCTD và lỗi của cơ quan bảo hiểm thiếu
kiểm tra giám sát để phát hiện, chấn chỉnh kịp thời thì hậu quả không nên để
cho ngời gửi tiền gánh chịu.
Nhìn chung, hiện nay ở Việt Nam nghiệp vụ BHTG rất còn mới mẻ và cha
phát triển nh các nghiệp vụ bảo hiểm khác. Nó vẫn trong thời gian thử nghiệm
và hoàn thiện dần cho phù hợp với điều kiện cũng nh hoàn cảnh của đất nớc.
Chính vì vậy, Chính phủ và ngân hàng nhà nớc cần coi hoạt động BHTG là
một mắt xích quan trọng trong chính sách tiền tệ quốc gia, nó có vai trò đòn
bẩy thu hút tiền gửi và đảm bảo tạo ra sân chơi bình đẳng cho các ngân hàng
thơng mại. Đồng thời phải có những quy định cụ thể về các nội dung của BHTG.
2. Nội dung hoạt động nghiệp vụ BHTG áp dụng ở Việt Nam:
a. Tổ chức kinh doanh BHTG:
Tổ chức BHTG là một tổ chức tài chính Nhà nớc, hoạt động dới sự điều
tiết của Thủ tớng Chính phủ, đợc nhà nớc cấp vốn điều lệ, hoạt động không vì
mục tiêu lợi nhuận, bảo đảm an toàn vốn và tự bù đắp chi phí, có t cách pháp
nhân và đợc miễn nộp các loại thuế. Trong trờng hợp thiếu vốn tạm thời, tổ chức
BHTG phải báo cáo ngân hàng nhà nớc để ngân hàng nhà nớc trình Thủ tớng

tổ chức tham gia BHTG thì phần vợt so với quy định trên đây sẽ đợc hoàn trả
trong quá trình thanh lý tài sản của tổ chức tham gia BHTG phù hợp với quy định
của pháp luật về phá sản doanh nghiệp.
Nh vậy mức tiền mà BHTG Việt Nam trả ngay cho một ngời gửi tiền của
tất cả các khoản tiền gửi tối đa chỉ 30 triệu đồng, bất chấp ngời đó gửi nhiều
hay ít. Sự cào bằng đó sẽ dẫn đến hạn chế múc tiền của mỗi ngời gửi vào các
TCTD. Nếu gửi trên mức 30 triệu thì khi TCTD rơi vào tình trạng bị phá sản thì
chỉ là sự thiệt thòi đáng kể. Sự chênh lệch trên mức 30 triệu có thể rất lớn, nếu
đợi chờ hoàn trả trong quá trình thanh lý tài sản thì quả là "ế ẩm". Không chỉ
vì thời gian kéo dài mà có thể rơi vào nhiều tình huống: Nếu giá trị tài sản
còn lại của TCTD đủ thanh toán các khoản nợ của các chủ nợ thì mỗi chủ nợ (cá
nhân) đợc thanh toán đủ số nợ của mình. Nhng ngợc lại không đủ thì mỗi chủ nợ
chỉ đợc thanh toán một phần khoản nợ của mình theo tỷ lệ tơng ứng. Thế thì dại
gì họ gửi trên mức 30 triệu để phải thấp thỏm lo âu!
d. Đối tợng tham gia bảo hiểm tiền gửi
Bảo hiểm tiền gửi là một tổ chức tài chính nhà nớc đợc thành lập nhằm
bảo vệ quyền lợi và lợi ích hợp pháp của ngời gửi tiền và góp phần duy trì sự ổn
định của các TCTD, bảo đảm sự an toàn, lành mạnh trong hoạt động ngân hàng.
Chính vì vậy, đối tợng tham gia BHTG là tất cả các TCTD và các tổ chức không
phải là TCTD nhng đợc phép thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy
định của luật các TCTD bắt buộc phải tham gia BHTG.
e. Đối tợng đợc bảo hiểm
Theo điều 3 của NĐ 89/1999/NĐ-CP quy định " tiền gửi đợc bảo hiểm là
đồng Việt Nam của các cá nhân gửi tại tổ chức tham gia BHTG" nh vậy là:
-Đối tợng chính đợc điều chỉnh của NĐ này là cá nhân. Vậy thì tiền gửi
là đồng Việt Nam của các pháp nhân thì giải quyết nh thế nào? Các ngân hàng
thơng mại thì có quan hệ với các pháp nhân rất nhiều và họ có một khối lợng tiền
gửi khổng lồ. Nhng nếu theo quy định trên thì không đợc BHTG. Đây còn là
vấn đề bất hợp lý và không công bằng trớc pháp luật. Điều đó tất yếu sẽ hạn chế
pháp nhân gửi vốn vào TCTD.

tài chính, thì việc mua bảo hiểm tiền gửi dựa trên cơ sở ký kết hợp đồng giữa
đôi bên. Điều này cũng không hoàn toàn mâu thuẫn với ý kiến cho rằng mua
BHTG là bắt buộc đối với quỹ tín dụng nhân dân; không mâu thuẫn với mục
tiêu của các nhà kinh doanh bảo hiểm tiền gửi. Vì rằng hệ thống quỹ tín dụng
nhân dân theo mô hình mới đang ở giai đoạn làm thử thì việc hớng dẫn, chỉ ra
cho các quỹ tín dụng nhân dân thấy rõ trách nhiệm của mình, thấy rõ mua
BHTG là cần thiết và hoàn toàn phù hợp với thực tế. Hơn nữa tính bắt buộc ở
đây là đối với quỹ tín dụng nhân dân nơi nhận tiền gửi. Họ phải có trách
nhiệm đảm bảo an toàn tiền gửi cho khách hàng, chứ không phải bắt buộc ngời
gửi tiền mua bảo hiểm; có thể coi nh một "nguyên tắc" trong những "điều kiện
cần và đủ" để quỹ tín dụng nhân dân ra đời và hoạt động an toàn.
Trên thế giới ngay cả nớc tiên tiến, đã có nhiều kinh nghiệm trong kinh doanh
bảo hiểm nh Nhật, Pháp, Anh, Hà Lan. . cũng vẫn dùng hình thức bảo hiểm bắt
buộc với tiền gửi.
Nh vậy, việc dùng hình thức bảo hiểm bắt buộc hay tự nguyện trong kinh
doanh bảo hiểm tiền gửi là tuỳ thuộc điều kiện tình hình, đặc điểm, trình
độ tổ chức quản lý v. v. . của mỗi quốc gia, mỗi tổ chức kinh doanh tiền tệ tín
dụng, không có một khuôn mẫu thống nhất cho mọi nớc.
3. Những điểm còn tồn tại trong thị tr ờng BHTG ở Việt Nam:
Mặc dù BHTG có vai trò to lớn trong việc bảo vệ ngời gửi tiền và góp phần
làm sôi động thêm các hoạt động ngân hàng ở nớc ta. Tuy nhiên, còn thấy một số
điểm còn tồn tại sau:
Thứ nhất: đây là loại hình bảo hiểm, bảo hiểm bắt buộc và là tổ chức bảo
hiểm duy nhất, điều này sẽ nảy sinh sự bắt bình đẳng trong cơ chế thị trờng
và sự độc quyền.
Thứ hai: tỷ lệ phí bảo hiểm 0, 15% tính trên số tiền gửi bình quân của các
loại tiền gửi bảo hiểm tại tổ chức tham gia BHTG. Theo nhiều ý kiến (cả những
ngời quan tâm và các TCTD) là cao và cha phù hợp với tình hình thực tế, ảnh h-
ởng đến hoạt động, đặc biệt trong trờng hợp các TCTD vừa phải xử lý tồn tại cũ,
vừa phải trích dự phòng rủi ro và nh vậy sẽ ảnh hởng tới hoạt động thu chi tài

bảo hiểm với ngời gửi tiền. Việc tổ chức BHTG phải đi đôi với việc mở rộng
bảo hiểm sản xuất nông nghiệp, bảo hiểm kinh doanh nông sản và bảo hiểm tai
nạn cho nông dân. Về mô hình của tổ chức bảo hiểm, chúng ta cần có sự liên
doanh, liên kết giữa ngân hàng nhà nớc trung ơng và tổng công ty bảo hiểm
Việt nam, thành lập một công ty bảo hiểm riêng. Nhà nớc không nên thu thuế đối
với công ty bảo hiểm tiền gửi này. Phần lợi nhuận của công ty này cần đợc đầu
t trở lại cho chính các quỹ tín dụng nhân dân.
Tiếp theo việc thực hiện đối với hệ thống quỹ tín dụng nhân dân, Chính
phủ cũng nên quy định BHTG đối với ngân hàng thơng mại cổ phần. Hiện nay
cả nớc có 30 ngân hàng thơng mại cổ phần đô thị, 16 ngân hàng thơng mại cổ
phần nông thôn và 2 công ty tài chính. Các tổ chức tín dụng này đang có xu h-
ớng phát triển nhanh trong thời gian tới. Chính vì vậy, cần phải có quy định bảo
hiểm tiền gửi.
Ngoài ra, để đảm bảo an toàn và khuyến khích mọi ngời dân gửi tiền vào
các tổ chức tín dụng cổ phần, nhà nớc sớm xem xét quy định bảo hiểm tiền gửi
bắt buộc đối với họ. Hoặc có thể, các ngân hàng thơng mại cổ phần, ngân
hàng thơng mại quốc doanh và các công ty tài chính cổ phần, nên tự nguyện
cùng nhau tthành lập quỹ BHTG tại hiệp hội ngân hàng Việt nam.
5Giải pháp nâng cao hiệu quả của BHTG:
a. Vi mô
Để phát huy trọn vẹn mặt tích cực của loại BHTG quốc gia, kinh nghiệm
thực tiễn một số quốc gia trên thế giới chúng ta có thể đa ra một số giải pháp sau:
Cải tiến và tăng cờng hoạt động thanh tra ngân hàng. Trớc hết là cần
phải đẩy mạnh thờng xuyên và tiến hành thanh tra tại chỗ. Nội dung thanh tra cần
phải tập trung vào các vấn đề: Chất lợng tài sản có, cụ thể là chấtt lợng các
khoản cho vay (bao gồm cả hồ sơ, tính pháp lý đầy đủ); các yêu cầu về vốn theo
quy định của ngân hàng nhà nớc; chất lợng quản lý kinh doanh và nhân sự (bao
gồm cả việc thu thập và xử lý thông tin) ; lợi nhuận và khả năng sinh lời; khả năng
thanh toán và tính thanh khoản. Nội dung thanh tra cần phải xây dụng bảng
điểm đánh giá. Dựa vào thang điểm đánh giá, ngân hàng nhà nớc có biện pháp

ngời gửi tiền và các chủ nợ khác) phải đatj ít nhất là 8% so với tổng tài sản Có
chịu rủi ro. Ngoài ra, ngân hàng nhà nớc phải chú ý và bổ xung thêm các quy
định về các khoản mục, hoạt động ngoại bảng. Bởi vì, các khoản mục ngoại bảng
(cam kết, bảo lãnh, kinh doanh các công cụ tài chính) tuy không thể hiện trong
bảng cân đối nhng cũng dễ dẫn các TCTD đến các rủi ro, thua lỗ lớn.
Tách biệt hoạt động ngân hàng và hoạt động chứng khoán, bảo hiểm. Các
TCTD (ngân hàng) không đợc tham gia thực hiện các hoạt động chứng khoán rủi
ro (nh bảo lãnh phát hành, kinh doanh chứng khoán) và bảo hiểm, nhng có thể
thực hiện các nghiệp vụ khác nh lu ký, môi giới, t vấn. Ngợc lại, các công ty chứng
khoán, bảo hiểm và các tổ chức phi ngân hàng cũng không đợc tham gia các hoạt
động ngân hàng truyền thống. Mục đích là ngăn ngừa rủi ro và giữ mức cạnh
tranh vừa phải cho hệ thống ngân hàng. ở Việt Nam, các ngân hàng đã dợc tách
biệt với các công ty chứng khoán, nhng cần phải xem xét đến tính độc lập của
các công ty chứng khoán nguyên là các công ty con cuả các ngân hàng.
Duy trì môi trờng cạnh tranh lành mạnh, thích hợp. Sự cạnh tranh buộc các
TCTD hoạt động có hiệu quả hơn và phục vụ khách hàng tốt hơn. Tuy nhiên, sự
cạnh tranh quá mức sẽ dẫn đến nhiều nguy cơ và làm tăng sự liều lĩnh của các
TCTD. Khi mức lợi nhuận bị giảm mạnh do cạnh tranh khốc liệt sẽ dễ hớng các
TCTD lao vào các hoạt động có rủi ro cao. Do vậy, cần tạo môi trờng cạnh tranh
lành mạnh bằng cách duy trì số lợng thích hợp của các TCTD, kiểm soát việc cho
ra đời các TCTD mới cũng nh việc mở thêm chi nhánh, văn phòng giao dịch.
Công khai thông tin và hoạt động của các TCTD. Ngân hàng nhà nớc cần
quy định cụ thể các thông tin, số liệu về hoạt động mà các TCTD bắt buộc phải
công khai cho công chúng (ít nhất là cho khách hàng và cổ đông) biết theo hớng
phù hợp với thông lệ quốc tế, trớc mắt là các số liệu về các chỉ tiêu bắt buộc theo
quy định của ngân hàng nhà nớc. Thực hiện tốt vấn đề này sẽ đem lại nhiều
lợi ích cho bản thân TCTD và cho xã hội. Đối với cổ đông, ngời gửi tiền, khách
hàng có đợc nhiều thônh tin chính xác về chất lợng và hoạt động của TCTD sẽ
giúp cho họ có đợc quyết định đúng đắn trong việc đầu t, giao dịch với ngân
hàng. Đây là cách tốt nhất để bảo vệ quyền lợi cho công chúng (thờng không có

lớn mạnh, độc lập, chuyên môn hoá có đủ sức BHTG cho các ngân hàng lớn ở nớc
ta. Trớc tên chúng ta có thể xây dựng công ty BHTG nhà nớc cho các ngân hàng
thơng mại. Công ty này thuộc sở hữu nhà nớc, đợc cấp vốn ban đầu để hoạt
động. VViệc thành lập công ty bảo hiểm tiền gửi nhà nớc phù hợp với đặc
điểm hiện nay của hệ thống ngân hàng nớc ta nói riêng, của nên kinh tế Việt
Nam nói chung. Vì đại bộ phận tiền gửi trong phạm vi cả nớc là do các ngân
hàng quốc doanh huy động, và doanh số hoạt động của các ngân hàng quốc
doanh chiếm khoảng 90% toàn bộ doánhố hoạt động của cả hêj thống ngân hàng.
Nền kinh tế nớc ta phát triển theo định hớng xã hội chủ nghĩa và trong đó kinh
tế quốc doanh chiếm vị trí chủ đạo. Trên thực tế ngân hàng quốc doanh đang
chiếm vị trí chủ đạo trong ngành. Hệ thống BHTG phải đảm bảo đợc sự phát
triển lành mạnh cho các ngân hàng quốc doanh vì sự nghiệp đó.
Ba là: Hệ thống BHTG có tác dụng quan trọng trong việc bảo đảm an toàn
cho hệ thống các ngân hàng do đó góp phần ổn định và phát triển nên tài
chính quốc gia. Với ý nghĩa đó, sự phát triển của hệ thống BHTG cần đợc nhà
nớc quan tâm đặc biệt. Điều đó có thể đợc thực hiện thông qua việc nhà nớc
cấp vốn và cử ngời điều hành các tổ chức vào BHTG nhà nớc hoặc nhà nớc tài
trợ, hoặc cho các tổ chức bảo hiểm vay vốn khi gặp khó khăn, Hoặc nhà nớc có


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status