Thị trường chứng khoán Việt Nam đã hình thành và phát triển trong hơn một thập kỷ và
ngày càng đóng góp vai trò quan trọng trong việc phát triển kinh tế đất nước.Về quy mô,
cơ cấu thị trường, TTCK hiện có 02 sàn giao dịch chứng khoán với 662 công ty niêm yết,
89 công ty chứng khoán còn hoạt động môi giới, 41 công ty quản lý quỹ và 21 quỹ đầu tư
chứng khoán (trong đó có 11 quỹ mở, 8 quỹ thành viên, 20 văn phòng đại diện), số lượng
tài khoản nhà đầu tư đạt gần 1,4 triệu. Mức vốn hóa TTCK đạt khoảng 1.144 nghìn tỷ
đồng, tương đương 31,9% GDP…Sau khi cuộc khủng hoảng kinh tế trên toàn cầu xảy ra
và chứng kiến những ảnh hưởng nghiêm trọng của nó đến thị trường chứng khoán thế
giới, các nhà đầu tư Việt Nam đã có cái nhìn đúng đắn hơn về chứng khoán và thị trường
chứng khoán. Khi các nhà đầu tư muốn đầu tư vào thị trường chứng khoán, ngoài vốn, họ
còn phải có kiến thức về tài chính – ngân hàng, phải năng động để cập nhật thông tin
trong nước cũng như trên thế giới, phải có chiến lược, sự phân tích và quyết định đúng
đắn thì mới có thể tham gia vào thị trường. Chính từ những yêu cầu đó mà vai trò của
công ty chứng khoán, mà đặc biệt là vai trò của hoạt động môi giới chứng khoán mới
được nhìn nhận và đánh giá lại. Môi giới không chỉ là người trung gian, dẫn dắt người
bán và người mua gặp nhau để hưởng hoa hồng, mà người môi giới còn phải có kiến
thức, có kinh nhiệm, luôn luôn nắm bắt được những biến đổi của nền kinh tế và hiểu
được khách hàng của mình, từ đó đưa ra lời khuyên, đưa ra những kiến nghị hợp lý để
nhà đầu tư đạt được lợi ích cao nhất. Hoạt động môi giới mà hiệu quả thì sẽ là một trong
những tiền đề vững chắc giúp thị trường chứng khoán phát triển ổn định, bền vững. Vì lý
do đó nhóm 5 quyết định chọn đề tài
!!" #$%&'$()*+, /0
(1"'$"
a. ,"
Công ty chứng khoán là một tổ chức kinh doanh chứng khoán, có tư cách pháp nhân, có
vốn riêng hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế, hoạt động theo giấy phép của Ủy Ban
Chứng Khoán (UBCK) Nhà nước cấp.
Công ty chứng khoán có các chức năng của người môi giới, người chuyên viên và người
bảo lãnh chứng khoán. Để trở thành thành viên của Sở giao dịch, Công ty chứng khoán
cũng phải hội đủ những điều kiện do luật định và phải đăng ký kinh doanh chứng khoán
Loại đa năng hoàn toàn: các ngân hàng được phép trực tiếp kinh doanh chứng khoán,
kinh doanh bảo hiểm và kinh doanh tiền tệ cũng như các dịch vụ tài chính khác. Mô hình
này còn được gọi là mô hình ngân hàng kiểu đức.
Ưu điểm của mô hình này là các ngân hàng có thể kết hợp nhiều lĩnh vực kinh doanh,
nhờ đó giảm bớt rủi ro trong hoạt động kinh doanh bằng việc đa dạng hoá đầu tư. Ngoài
ra, mô hình này còn có ưu điểm là tăng khả năng chịu đựng của ngân hàng trước những
biến động trên thị trường tài chính. Mặt khác, các ngân hàng sẽ tận dụng được lợi thế của
mình là tổ chức kinh doanh tiền tệ có vốn lớn, cơ sở vật chất hiện đại và hiểu biết rõ về
khách hàng cũng như các doanh nghiệp khi họ thực hiện nghiệp vụ cấp tín dụng và tài trợ
dự án.
Tuy nhiên, mô hình này cũng có những hạn chế, đó là do vừa là tổ chức tín dụng là vừa là
tổ chức kinh doanh doanh chứng khoán, do đó khả năng chuyên môn không sâu như các
công ty chứng khoán chuyên doanh. Điều này sẽ làm cho thị trường chứng khoán kém
phát triển vì các ngân hàng thường có xu hướng bảo thủ và thích hoạt động cho vay hơn
là thực hiện các nghiệp vụ của thị trường chứng khoán như: bảo lãnh phát hành chứng
khoán, tư vấn đầu tư chứng khoán, quản lý danh mục đầu tư.
Đồng thời, do khó tách bạch được hoạt động ngân hàng và hoạt động kinh doanh chứng
khoán, trong điều kiện môi trường pháp luật không lành mạnh, các ngân hàng dễ gây nên
tình trạng lũng đoạn thị trường, và khi đó các biến động trên thị trường chứng khoán sẽ
tác động mạnh tới kinh doanh tiền tệ, gây tác động dây chuyền và dẫn đến khủng hoảng
thị trường tài chính. Bên cạnh đó, do không có sự tách biệt rõ ràng giữa các nguồn vốn,
nên các ngân hàng có thể sử dụng tiền gửi tiết kiệm của dân cư để đầu tư chứng khoán,
và khi thị trường chứng khoán biến động theo chiều hướng xấu sẽ tác động tới công
chúng thông qua việc ồ ạt rút tiền gửi, làm cho ngân hàng mất khả năng chi trả
c. 345"
Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán phụ thuộc vào loại hình nghiệp vụ mà công ty
đó thực hiện và quy mô hoạt động kinh doanh của nó. Tuy nhiên, phải đảm bảo tách biệt
giữa hoạt động tư doanh với hoạt động môi giới và quản lý danh mục đầu tư. Nhìn
chung,Cơ cấu tổ chức của công ty chứng khoán là hệ thống các phòng ban chức năng
được chia làm 2 khối tương ứng với 2 khối công việc
+ phòng ngân quỹ, ký quỹ
+ phòng tổng hợp hành chính nhân sự
Ngoài sự phân biệt rõ ràng hai khối như vậy, do mức độ phát triển của công ty chứng
khoán và thị trường chứng khoán mà có thể có thêm các bộ phận khác như: mạng lưới chi
nhánh, văn phòng trong và ngoài nước, văn phòng đại lý vv, hoặc các phòng ban liên
quan đến các nghiệp vụ khác từ ngân hàng, bảo hiểm (tín dụng chứng khoán; bảo hiểm
chứng khoán ).
6%7,48948:8$;<8'$
1. Công ty chứng khoán có trụ sở làm việc, cơ sở vật chất phục vụ hoạt động kinh doanh
chứng khoán theo hướng dẫn của Ủy ban Chứng khoán Nhà nước sau khi được Bộ Tài
chính chấp thuận.
2. Công ty chứng khoán phải có vốn điều lệ là vốn thực góp, tối thiểu bằng mức vốn pháp
định theo quy định của pháp luật.
3. Giám đốc (Tổng Giám đốc) công ty chứng khoán phải đáp ứng các quy định
4. Có tối thiểu ba (03) người hành nghề chứng khoán cho mỗi nghiệp vụ kinh doanh đề
nghị cấp phép hoạt động.
5. Cơ cấu cổ đông, thành viên góp vốn sở hữu công ty chứng khoán:
a) Công ty chứng khoán thành lập theo hình thức công ty cổ phần hoặc công ty trách
nhiệm hữu hạn từ hai thành viên trở lên phải có tối thiểu hai cổ đông sáng lập, thành viên
sáng lập là tổ chức, trong đó phải có ít nhất một tổ chức là ngân hàng thương mại, doanh
nghiệp bảo hiểm hoặc tổ chức nước ngoài
b) Công ty chứng khoán thành lập theo hình thức công ty trách nhiệm hữu hạn một thành
viên, chủ sở hữu phải là ngân hàng thương mại, doanh nghiệp bảo hiểm hoặc tổ chức
nước ngoài
c) Tỷ lệ sở hữu cổ phần, phần vốn góp của các cổ đông sáng lập, thành viên sáng lập là tổ
chức tối thiểu là 65% vốn điều lệ, trong đó các tổ chức là ngân hàng thương mại, doanh
nghiệp bảo hiểm hoặc tổ chức nước ngoài sở hữu tối thiểu 30% vốn điều lệ của công ty
chứng khoán;
d) Cổ đông, thành viên sở hữu từ 10% trở lên vốn cổ phần hoặc phần vốn góp của một
công ty chứng khoán và người có liên quan của cổ đông, thành viên góp vốn đó không
- Vốn chủ sở hữu sau khi trừ đi tài sản dài hạn tối thiểu bằng số vốn dự kiến góp;
- Vốn lưu động tối thiểu phải bằng số vốn dự kiến góp.
đ) Chỉ được sử dụng vốn chủ sở hữu và các nguồn vốn hợp lệ khác theo quy định của
pháp luật chuyên ngành, không được sử dụng vốn ủy thác của các tổ chức, cá nhân khác
để góp vốn.
=6">"?
• Tạo ra cơ chế huy động vốn linh hoạt giữa người có tiền nhàn rỗi đến người
sử dụng vốn (thông qua cơ chế phát hành và bảo lãnh phát hành).
• Cung cấp cơ chế giá cả cho giao dịch (thông qua hệ thống khớp giá hoặc
khớp lệnh).
• Tạo ra tính thanh khoản cho chứng khoán (hoán chuyển từ chứng khoán ra
tiền mặt, và ngược lại từ tiền mặt ra chứng khoán một cách dễ dàng).
• Góp phần điều tiết và bình ổn thị trường (thông qua hoạt động tự doanh
hoặc vai trò nhà tạo lập thị trường).
16@,8'A"?
16@61"?
• Khái niệm:
Mô giới chứng khoán là hoạt động kinh doanh chứng khoán (KDCK) của công ty
chứng khoán, trong đó tổ chức KDCK - công ty chứng khoán (CTCK) đứng ra làm đại
diện cho khách hàng tiến hành giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại Sở giao dịch
chứng khoán hay thị trường OTC mà chính khách hàng sẽ phải chịu trách nhiệm đối với
hậu quả kinh tế của việc giao dịch đó.
• Đặc điểm:
Người môi giới chỉ thực hiện giao dịch theo lệnh của khách hàng để hưởng phí
dịch vụ, họ không phải chịu rủi ro từ hoạt động giao dịch đó.
Phí dịch vụ CTCK thu được cao hay thấp phụ thuộc vào loại chứng khoán, khối
lượng và giá trị chứng khoán được giao dịch mua bán qua công ty nhiều hay ít, tỷ lệ phí
giao dịch cao hay thấp.
Bất cứ một sự không cẩn trọng nào trong việc thực hiện nghiệp vụ môi giới đều có
thể mang đến những nguy cơ rủi ro cho công ty.
tế diễn ra một cách trung thực, khách quan.
Hoạt động tư vấn là hoạt động kinh doanh về kiến thức, kinh nghiệm, nghệ thuật
và linh cảm nghề nghiệp. Do đó, luật pháp các nước thường quy định rất chặt chẽ về điều
kiện hành nghề tư vấn. Các điều kiện này thường cao hơn điều kiện hành nghề môi giới.
16@6D.;E8$"?
• Khái niệm:
Bỏa lãnh phát hành chứng khoán là hoạt động hỗ trợ của các tổ chức bảo lãnh cho
các tổ chức phát hành khi huy động vốn bằng cách bán chứng khoán trên thị trường sơ
cấp theo sự ủy thác của tổ chức phát hành.
• Đặc điểm:
Khi cung cấp dịch vụ bảo lãnh, tùy theo điều khoản của mỗi hợp đồng mà tổ chức
bảo lãnh có thể phải đảm nhiệm nhiều nhiệm vụ khác nhau, trong đó hai chức năng chính
của hoạt động là bảo lãnh là: hỗ trợ thực hiện thủ tục trước khi phát hành và tổ chức phân
phối chứng khoán.
Có nhiều hình thức bảo lãnh như: bảo lãnh theo phương thức cam kết chắc chắn,
bảo lãnh theo phương thức cố gắng tối đa, bảo lãnh theo phương thức tất cả hoặc không,
bảo lãnh theo phương thức tối thiểu – tối đa, bảo lãnh theo phương thức dự phòng. Mỗi
hình thức bảo lãnh có những đặc điểm, ưu nhược điểm riêng. Vì vậy tùy theo điều kiện
và khả năng của mình và khách hàng mà tổ chức bảo lãnh nên tư vấn cho khách hàng lựa
chọn hình thức bảo lãnh thích hợp.
Để thành công trong việc triển khai nghiệp vụ bảo lãnh, tổ chức bảo lãnh cần
không ngừng nâng cao năng lực tài chính, tổ chức mạng lưới bán hàng rộng rãi, xây dựng
được đội nguxchuyeen gia giỏi về chứng khoán, am hiểu thị trường
1.2.5 F;GA&?
• Khái niệm:
Là hoạt độngtrong đó công ty quản lý quỹ nhận sự ủy thác của khách hàng, quản
lý vốn, tài sản và tiên hành đầu tư cho khách hàng nhằm mục tiêu bảo toàn vốn và tăng
lợi nhuận cho khách hàng.
• Đặc điểm:
Danh mục đầu tư là danh sách các loại tài sản được lựa chọn để đầu tư với một cơ
dịch theo lệnh của khách hàng để hưởng phí dịch vụ, họ không phải chịu rủi ro từ giao
dịch đó. Nghiệp vụ môi giới còn được hiểu là làm đại diện- được ủy quyền thay mặt
khách hàng mua bán một hoặc một số loại chứng khoán.
Ở Việt Nam theo luật chứng khoán thì nghiệp vụ môi giới chứng khoán là hoạt động
trung gian hoặc đại diện mua, bán chứng khoán cho khách hàng để hưởng hoa hồng.
Theo quy định này hoạt động môi giới chỉ bao gồm các hoạt động của nhân viên giao
dịch. Đó là: hướng dẫn mở tài khoản cho khách hàng, nhập lệnh và xử lý lệnh, nhận kết
quả từ SGDCK hoặc TTGDCK, lập báo cáo kết quả giao dịch định kỳ, thực hiện các dịch
vụ hỗ trợ khác như cho vay cầm cố, ứng trước tiền bán chứng khoán,…
L0MJK)"
- Quyết định mua bán là do khách hàng đưa ra và người môi giới phải thực hiện theo
pháp lệnh đó.
- Người môi giới (có thể là công ty chứng khoán ) đứng tên mình thực hiện các giao dịch
theo lệnh của khách hàng.
- Nhà môi giới không chịu rủi ro bởi quyết định mua bán của khách hàng, nhưng phải
chịu trách nhiệm hành chính và pháp luật với công việc của mình tùy theo mức độ vi
phạm, phải tự đền bù, khắc phục hậu quả do lỗi của mình gây ra.
- Việc hạch toán các giao dịch phải được thực hiện trên các tài khoản thuộc sở hữu của
khách hàng.
- Người môi giới chứng khoán chỉ được thu phí dịch vụ theo thỏa thuận trong hợp đồng
ủy thác giao dịch.
0">
- Cung cấp dịch vụ với hai tư cách:
+ Gắn khách hàng với bộ phận nghiên cứu đầu tư: cung cấp cho khách hàng báo cáo
nghiên cứu và các khuyến nghị đầu tư.
+ Gắn người bán với người mua: đem đến cho khach hàng tất cả các loại sản phẩm, dịch
vụ tài chính.
-Đáp ứng nhu cầu tâm lý của khách hàng, giúp khách hàng có quyết định tỉnh táo trong
hoạt động đầu tư chứng khoán.
- Chức năng tiếp thị và bán hàng: tiếp thị nhằm tìm hiểu công chúng đầu tư ưa thích loại
đạt. Các chuyên gia cho rằng khoảng 90% sự phản kháng của khách hàng đều nảy sinh từ
ba nguyên nhân:
Sự nhận thức của khách hàng rằng người môi giới là người bán hàng.
Sự bất lực của người môi giới trong việc truyền đạt rõ ràng thông tin theo yêu cầu
của khách hàng.
Khả năng của người môi giới trong việc thiết lập mức độ đồng cảm sâu sắc và sự tin
cậy của khách hàng
Vì vậy để thành công người môi giới cần phải có kỹ thuật trong truyền đạt thông
tin,phải biết đặt khách hàng lên trên hết và doanh thu môi giới là thứ hai.
- Kỹ năng tìm kiếm khách hàng
Phương pháp tìm kiếm khách hàng là: sử dụng những đầu mối được gây dựng từ
công ty hoặc các tài khoản chuyển nhượng lại, quảng cáo, giới thiệu sản phẩm, phát triển
mạng lưới kinh doanh, chiến dịch hộ thảo,
Quy trình tìm kiếm khách hàng:
(1) Xem lại bất kỳ thông tin về khách hàng nào mà bạn biết rõ và xác nhận các
nhu cầu thực tế hoặc nhu cầu có thể có đối với các sản phẩm dịch vụ mà công ty cung cấp
(2) Chọn lời mở đầu phù hợp để sử dụng trong cuộc gọi điện thoại đầu tiên. Lời
nói đầu này giới thiệu về công ty và các dịch vụ của công ty
(3) Xử lý các trở ngại làm dừng cuộc nói chuyện
(4) Đặt các câu hỏi tìm hiểu sơ lược và tạo ra sự quan tâm của khách hàng về các
sản phẩm và dịch vụ của công ty
(5) Đáp ứng bất cứ mối quan tâm nào, đồng thời thúc đẩy mối quan tâm
(6) Đi bước tiếp theo, có thể là: các cuộc gọi tiếp giới thiệu khách hàng đến bộ
phận phù hợp,
(7) Hoàn thành công việc giấy tờ thích hợp
- Kĩ năng khai thác thông tin
Một trong nguyên tắc hành nghề môi giới là phải hiểu khách hàng: nắm được các
nhu cầu về tài chính, các nguồn nhân lực và cả mức độ chấp nhận rủi ro của khách hàng,
hiểu tâm lý đầu tư, hiểu được tình cảm bên trong và tình trạng sức khỏe có thể ảnh hưởng
tới quyết định của họ.
Công ty chứng khoán tiến hành nghiệp vụ môi giới sẽ đại diện cho khách hàng tiến hành
giao dịch thông qua cơ chế giao dịch tại sở giao dịch chứng khoán hoặc thị trường OTC.
Qui trình giao dịch.
Quá trình môi giới của công ty chứng khoán thường qua các bước chủ yếu thể hiện ở sơ
đồ sau:
Bước 1: Mở tài khoản (1).
Bước 2: Nhận lệnh (2).
Bước 3: Chuyển lệnh tới thị trường phù hợp để thực hiện lệnh (3).
Bước 4: Xác nhận kết quả thực hiện lệnh cho khách hàng (4).
Bước 5: Thanh toán và giao hàng.
Bước 1: Mở tài khoản.
Công ty chứng khoán yêu cầu khách hàng mở tài khoản giao dịch (tài khoản tiền mặt
hoặc tài khoản kí quĩ). Tài khoản kí quĩ dùng cho giao dịch kí quĩ còn tài khoản giao dịch
dùng cho các giao dịch thông thường.
Bước 2: Nhận đơn đặt hàng.
Khách hàng ra lệnh mua, bán cho công ty chứng khoán dưới nhiều hình thức: Điện thoại,
telex, phiếu lệnh
Nếu là lệnh bán, công ty chứng khoán sẽ yêu cầu khách hàng xuất trình số chứng khoán
muốn bán trước khi thực hiện đơn hàng hoặc đề nghị phải kí quĩ một phần số chứng
khoán cần bán theo một tỉ lệ do uỷ ban chứng khoán qui định.
Nếu là lệnh mua, công ty sẽ đề nghị khách hàng mức tiền kí quĩ nhất định trên tài khoản
kí quĩ của khách hàng tại công ty. Khoản tiền này thường bằng 40% trị giá mua theo
lệnh.
Bước 3: Chuyển lệnh tới thị trường phù hợp để thực hiện.
Trước đây, người đại diện của công ty gửi tất cả lệnh mua, bán của khách hàng tới bộ
phận thực hiện lệnh hoặc phòng kinh doanh giao dịch của công ty. Ở đây, một người thư
kí sẽ kiểm tra xem chứng khoán được mua bán ở thị trường nào (tập trung, phi tập
trung ). Sau đó, người thư kí sẽ gửi lệnh đến thị trường đó để thực hiện.
Ngày nay, các công ty chứng khoán có mạng lưới thông tin trực tiếp từ trụ sở chính tới
phòng giao dịch. Do vậy, các lệnh mua, bán được chuyển trực tiếp tới phòng giao dịch
hiếu rõ các quy định về giao dịch của các SGD và TTGDCK đế giải đáp các thắc mắc của
khách hàng. Hiếu rõ được nhu cầu đầu tư của khách hàng, qua đó nếu thấy khách hàng
cần tư vấn sẽ giới thiệu tới chuyên viên tư vấn đầu tư. Phải luôn thế hiện một phong cách
phục vụ tốt nhất và sẵn sàng giải đáp mọi thắc mắc của khách hàng nhất là những khách
hàng mới gia nhập thị trường.
Quy trình hướng dẫn mở tài khoản cho khách hàng
Gặp gở hướng dẫn khách hàng mở tài khoản
Kí hợp đồng mở tài khoản
Lun kí tiền và chứng khoán
Theo dõi tài khoản và lập báo cáo
• F;R$
Nhân viên kế toán giao dịch có trách nhiệm theo dõi trạng thái tài khoản của khách
hàng. Thực hiện các quyền liên quan trên số dư chứng khoán của khách hàng (nhận cố
tức, tham gia đại hội cổ đông khi có yêu cầu của khách hàng ). Lập báo cáo về trạng thái
tài khoản của khách hàng khi cần thiết và theo yêu cầu. Cung cấp thông tin về tài khoản
của khách hàng khi có yêu cầu.
F)27B,?
F)287
Bước 1: căn cứ vào yêu cầu của khách hàng, kế toán viên lập giấy nộp tiền (2
liên).
Bước 2: hướng dẫn khách hàng điền đầy đủ các thông tin vào giấy nộp tiền và kí
nhận.
Bước 3: kế toán viên kiếm tra các thông tin trên giấy nộp tiền của khách hàng đế đảm bảo
các thông tin đã được điền đầy đủ, chính xác và thực hiện việc kiếm đếm tiền.
Bước 4: khi số tiền kiêm đếm đã khớp với sô tiền cân nộp theo yêu cầu của khách
hàng, kiếm toán viên thực hiện việc nhập dữ liệu vào phần mềm kế toán và ghi có vào tài
khoản của khách hàng.
Bước 5: kế toán trưởng kí xác nhận vào giấy nộp tiền (2 liên) và đóng dấu.
Giấy nộp tiền sẽ được trao lại cho khách hàng giữ 1 liên, phòng kế toán công ty giữ
1 liên.
kim loại). Đem loại nào theo loại đó và đánh dấu theo dõi trên bảng kê, theo phương thức
đếm bó chẵn trước rồi đếm tờ lẻ sau.
Khi cắt dây từng bó tiền ra đếm tờ, phải giữ nguyên niêm phong bó tiền đó của
khách hàng (nếu có) để làm căn cứ khi phát hiện thừa, thiếu. Neu thừa, khách hàng nhận
lại số tiền thừa và kí xác nhận số trả tiền thừa. Neu thiếu, khách hàng phải bù tiền vào
cho đủ, nếu không có thì báo với khách hàng và kế toán để lập lại phiếu nộp tiền.
Bước 4: kiểm tra lại toàn bộ sổ tiền đã khớp với bản kê, thao từng loại và tổng số
tiền đã nhận đủ.
Bước 5: toàn bộ số tiền đã đếm kiếm được đóng bó và bảo quản trong két sắt của
công ty.
Bước 6: ghi sổ quỹ theo đúng số tiền đã nhận.
Bước 7: kí tên và đóng dầu “đã thu tiền” lên chứng từ và bảng kê.
Bước 8: giao liên 2 chứng tù' cho khách hàng và lun lại bảng kê, phân loại tiền theo
chế độ quy định, liên 1 chuyển bộ phận kế toán.
F)27T
Bước 1: nhận và kiếm soát chứng từ của người nhận tiền do kế toán chuyến sang,
bao gồm các yếu tố sau:
• Số chứng từ, ngày tháng năm, họ tên, số CMND, hộ chiếu,
• Số tiền bằng số, bằng chữ khớp đúng,
• Có đầy đủ chữ kí của cán bộ có trách nhiệm cho lĩnh tiền.
Bước 2: lập bảng kê phân loại tiền chi trả (căn cứ vào các loại tiền hiện có tại quỹ)
tự’ kiếm soát tống số tiền chi ra trên chứng từ phải khớp đúng với số tiền của các loại tiền
trên bảng kê.
Bước 3: chuẩn bị tiền mặt theo bảng kê đã lập.
Bước 4: kiểm đếm tiền mặt đúng với số tiền ghi trên chứng từ.
Bước 5: ghi số quỹ số tiền đã chi và kí tên vào chứng từ, bảng kê.
Bước 6: mời khách hàng đã nhận tiền theo đúng người ghi trênchứng tù'và
CMND, yêu cầu khách hàng kí vào chứng từ và bảng kê trước khi phát tiền.
Bước 7: phát tiền cho khách hàng và chứng kiến khách hàng đếm lại tiền.
Bước 8: đóng dấu “đã chi tiền” lên chứng tù', bảng kê, trả lại kháchhàngliên 2
CTCK mới có thế đặt lệnh bán số chúng khoán này trên TTCK tập trung.
Đe mở tài khoản lưu kí, khách hàng phải kí hợp đồng lưu kí chứng khoán và
CTCK sẽ mở tài khoản lưu kí cho khách hàng. Mọi tác nghiệp do CTCK tự đảm nhiệm.
Khi khách hàng mua chứng khoán, CTCK sẽ chuyến chứng khoán vào tài khoản lưu kí
của khách hàng và chuyển cho khách hàng bản trích lục lưu kí. Khi lệnh bán chứng
khoán của nhà đầu tư được thực hiện, CTCK sẽ hạch toán giảm sổ dư chứng khoán tại tài
khoản lưu kí.
Quy trình triển khai nghệp vụ lưu ký
Tiếp nhận hồ sơ lưu kí chứng khoán
Tái lưu kí tại trung tâm lưu kí chứng khoán
Thực hiện quyền sở hữu chứng khoán lưu kí
Thu phí dịch vụ lưu kí chứng khoán
Lập báo cáo khi có yêu cầu
c. B,PL"$
VLP)&P
Trước phiên giao dịch đầu tiên trong ngày, nhân viên môi giới phải chuân bị các các công
cụ và tài liệu cần thiết cho hoạt động giao dịch
• F)2P
Nhận lệnh mua bán từ khách hàng
Truyền lệnh cho đại diện tại sàn
Nhận kết quả thu được tại sàn
Thông báo kết quả tới khách
d. F)2B,P$P-M'P
)&OPQ#'J$0
Bước 1: Nhận lệnh từ phòng môi giới
Bước 2: Nhập lệnh vào hệ thống SGD, TTGDCK
Bước 3: In kết quả giao dịch trong phiên
Bước 4: Thông báo kết quả giao dịch về nơi khớp lệnh
e. PTL,
• 9P;;W
• Chứng khoán được giao dịch: chủng loại chứng khoán, mã CK mua, mã CK bán,
số lượng, giá giao dịch, tổng giá trị giao dịch, phí giao dịch.
Ngày T (hay T+0):
Nhân viên môi giới nhận được kết quả khớp lệnh từ SGD, TTGDCK và chuyến
cho nhân viên kế toán lun kí. Nhân viên kế toán lun kí tiến hành kiểm tra với toàn bộ
phiếu lệnh, kiếm tra tính chính xác của việc nhận và truyền lệnh của nhân viên môi giới
và nhân viên tại sàn. Sau đó NVLTLK chuyển các chứng khoán đã khóp lệnh, tiền của
khách hàng tù' tài khoản chứng khoán, tiền giao dịch sang tài khoản chúng khoán, tiền
chờ giao dịch. Neu có sai sót phải làm rõ nguyên nhân do nhân viên giao dịch tại sàn hay
nhân viên môi giới tại công ty đế có biện pháp xử lí.
Sau khi kiếm tra và điều chỉnh sai sót nếu có, Trung tâm điện toán chuyến bản
danh mục giao dịch trong ngày tới các thành viên môi giới. Bản danh mục giao dịch
trong ngày là một phần cấu thành quan trọng trong nhật kí giao dịch của CTCK và là cơ
sở pháp lí xác nhận các giao dịch đã được thực hiện ngày (T+0).
Sao kê giao dịch
Đế phục vụ việc quyết toán giao dịch, bên cạnh danh mục giao dịch trong ngày,
trung tâm điện toán của SGD lập bản sao kê giao dịch, bản sao kê là bản tổng hợp phân
loại các giao dịch theo loại giao dịch mua và bán: mã chứng khoán mua bán, đối tác mua
bán, khối lượng chứng khoán yêu cầu đổi tác chuyển khoản, tổng số tiền cần thu chi cho
toàn bộ giao dịch trong ngày. Bản sao kê giao dịch được lập thành 2 liên và chuyển cho
nhân viên môi giới của CTCK ngày (T+0).
Danh mục các giao dịch không được thực hiện và các giao dịch chưa hoàn tất
Ngoài bản danh mục giao dịch trong ngày, cuối ngày giao dịch trung tâm điện toán
của SGD sẽ chuyển tới thành viên môi giới bản danh mục các giao dịch không được thực
hiện, đó là các giao giao dịch do thành viên môi giới đăng kí nhưng chưa có giao dịch đối
ứng (do ấn định giá hay khối lượng), hoặc các giao dịch không chấp hành các quy định
giao dịch của SGD đồng thời thông báo cho bộ phận giám sát thị trường đế theo dõi.
Danh mục các giao dịch chưa hoàn tất bao gồm các giao dịch mà tổ chức môi giới lập giá
chưa công bố đổi tác giao dịch trong trường hợp đối tác giao dịch đã thực hiện giao dịch
vưọt quá hạn mức giá trị đựơc cấp (thông tin này do TTTTBT của SGD cung cấp).
giao dịch - môi giới, hoặc với tư cách trung gian của các nhà môi giới. Các chứng khoán
trên thị trường OTC được mua bán thông qua việc thỏa thuận giữ hai bên và giá chứng
khoán cũng được hình thành do sự thỏa thuận. Khối lượng mua bán các chứng khoán này
thường thực hiện theo lô có giá trị lớn.
Quy trình nghiệp vụ môi giới trên thị trường OTC:
.&1?2$'$<8
* Tìm kiếm khách hàng: là khâu quan trọng nhất trong hoạt động môi giới trên thị
trường OTC và được thực hiện bởi bộ phận chăm sóc khách hàng và bộ phận marketing.
Việc tìm kiếm khách hàng có thế được triến khai bằng nhiều cách khác nhau như dựa vào
khách hàng thường xuyên giao dịch với công ty, tìm kiếm trên các phương tiện thông tin
như báo chí, mạng internet Thực tế cho thấy, đế việc tìm kiếm khách hàng mang lại
hiệu quả, nhân viên OTC phải đi thực tế nhiều, tiếp cận nhanh chóng nguồn thông tin và
nắm bắt nhanh các nguồn thông tin được tiếp cận.
* Thu thập thông tin: nhân viên môi giới OTC phải thường xuyên cập nhật các
thông tin về giá các chứng khoán OTC hàng ngày đế nhập vào hệ thống mạng máy tính
của công ty cho khách hàng của công ty tham khảo, liên tục cập nhật các thông tin về tình
hình hoạt động, tình hình tài chính của các tổ chức phát hành chứng khoán trên thị trường
OTC đế nắm rõ các chứng khoán nhằm phục vụ cho khách hàng đồng thời tránh được
những rủi ro do thiếu thông tin gây ra.
.&@?RZ8[L'$
Sau quá trình tìm hiếu về các khách hàng có nhu cầu mua bán chứng khoán, nhân
viên môi giới sẽ kí kết với khách hàng hợp đồng mua bán chúng khoán OTC, hướng dẫn
khách hàng đặt cọc tiền mua bán chứng khoán và thực hiện hợp đồng.
.&C?&3;&ZJ8;,L
Sau khi kí hợp đồng, nếu chứng khoán khách hàng muốn mua hoặc bán mà công ty
không có, công ty phải tìm kiếm nguồn tương đương trong thời hạn hợp đồng. Dù lệnh
giao dịch của khách hàng là lệnh thị trường hay giới hạn , CTCK có trách nhiệm nghiên
cún đế thực hiện lệnh tại mức giá tốt nhất, bằng cách liên lạc với các CTCK khác có nắm
giữ loại chứng khoán này thông qua hệ thống giao dịch của thị trường OTC đế tìm các
giá yết phù hợp, sau đó thông báo cho khách hàng về việc thực hiện lệnh giao dịch. Neu